W.J.Duiker nói về tác phẩm “Hồ Chí Minh – một cuộc đời”

Chúng tôi sẽ giới thiệu lần lượt từng phần công trình nghiên cứu công phu “Hồ Chí Minh – một cuộc đời” của W.J.Duiker. Tiêu đề do BBT đặt.

LỜI TỰA

Ông Hồ chí Minh đã thu hút tôi từ giữa những năm 1960s. Khi đó tôi là một cán bộ ngoại giao trẻ tuổi tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Saigon, và tôi đã rất ngạc nhiên thấy các du kích quân Việt Cộng chiến đấu trong rừng có vẻ có kỷ luật hơn và có tinh thần chiến đấu cao hơn quân đội của đồng minh của chúng tôi – chính phủ Nam Viêt Nam. Khi tôi tìm hiểu vấn đề này, tôi ngày càng tin rằng một lý do là vai trò của ông Hồ chí Minh, người động viên và nhà chiến lược bực thầy, nhà cách mạng lão thành của Việt Nam. Sau khi tôi không làm viên  chức cho  chính phủ nữa và chuyển sang làm học giả, tôi đã nghĩ đến việc viết một  tiểu sử của nhân vật phi thường và phức tạp đó, nhưng ít lâu sau tôi nhận thấy rằng tôi chưa có đủ tư liệu nguồn để mô tả cuộc sống và sự nghiệp của ông một cách thuyết phục. Do đó, tôi đã hoãn dự án này lại cho đến gần đây khi đã có thêm rất nhiều thông tin từ các nước trên thế giới khiến tôi tin rằng đây là lúc có thể tiến hành nhiệm vụ đó.

Quyển sách này đã được soạn thảo trong hơn 2 thập niên qua, và trong quá trình hoàn tất nó tôi đã nhận được sự giúp đỡ của một số nơi. Quỹ Nghiên cứu của Đại học Nghệ thuật Tự do và Viện Nghiên cứu Nghệ thuật và Nhân văn tai Đại học Bang Pennsylvania đã một số lần hỗ trợ tài chính để tôi nghiên cứu chủ đề này ở Pháp và Viêt Nam. Nhờ sự giúp đỡ của ông Mark Sidel, Quỹ Ford, tôi đã sung sướng cùng bà Marilyn Young và ông A.Tom Grunfeld đi thăm Hà-nội năm 1993 để tìm hiểu về mối quan hệ giữa ông Hồ chí Minh và Hoa Kỳ. Tôi cũng xin cám ơn Hội đồng Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Chương trình Trao đổi  Học giả với Đông Dương thuộc Hội đồng trên đã cung cấp ngân sách cho tôi năm 1990 để nghiên cứu về ông Hồ chí Minh ở Hà-Nội. Trong thời gian đó, Viện Sử học, Trường Đại học quốc gia Hà-nội và Viện Mác Lê-nin đã vui lòng sắp xếp để tôi được thảo luận các chủ đề liên quan với các học giả và nghiên cứu viên quan tâm đến ông Hồ chí Minh và lịch sử cách mạng Việt Nam. Trước đó, năm l985 Viện Quan hệ Quốc tế đã bảo trợ một chuyến thăm của tôi, trong đó có cuộc viếng thăm lý thú đến làng Kim Liên, nơi sinh của ông Hồ Chí Minh. Trong số những người đã giúp đỡ tôi trong công tác nghiên cứu ở Hà Nội, tôi xin cám ơn ông Nguyễn Huy Hoan (Bảo Tàng Hồ chí Minh), ông Nguyễn Thanh (Bảo Tàng Cách mang), và ông Trần Thành (Viện Mác Lênin) và tất cả các vị đó đã đồng ý cho tôi phỏng vấn họ trong một thời gian dài. Tại Đại học Hà-Nội, các sử gia Phùng Hữu Phú, Lê Mậu Hân, Phạm Xanh và Phạm Công Tùng đã vui lòng dành thì giờ cho tôi và cung cấp cho tôi tài liệu nghiên cứu có liên quan đến cuộc đời và tư tưởng của ông Hồ chí Minh. Ông Hà Huy Giáp (nay đã qua đời) và ông Đặng Xuân Kỳ, lúc đó là Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Xã hội đã vui lòng trả lời các câu hỏi của tôi về ký ức của các vị đó về Hồ Chủ tịch. Các ông Đỗ Quang Hưng, Ngô Phương Bá, Văn Tạo, Trần Hữu Đính (Viện Sử học) và ông Lưu Đoàn Huynh (Viện quan hệ quốc tế) đã rộng lượng giành thì giờ giúp tôi tìm hiểu những vấn đề then chốt trong dự án nghiên cứu của tôi. Tôi xin đặc biết cám ơn ông Vũ Huy Phúc, đã tháp tùng tôi và làm đối tác nghiên cứu cho tôi trong chuyến thăm năm 1990 và đã làm việc với thái độ kiên nhẫn và vui tính. Gân đây hơn, ông Hoàng Công Thuý (Hội Hữu nghị Việt Nam – Hoa Kỳ) đã giúp tôi liên hệ với một số cá nhân và nguồn tư liêu trong khi tôi tiếp tục tìm hiểu về ông Hồ Chí Minh. Ông Dương Trung Quốc (tạp chí Xưa và Nay) đã cung cấp cho tôi một số bài rất có ích của tập san đó. Ông Nguyễn Quốc Uy (Viêt Nam Thông tấn xã) đã vui lòng cho phép tôi đưa vào sách này một số ảnh thuộc bản quyển của Việt Nam Thông Tẫn Xã.

Tôi đã thăm một số thư viện và cơ quan hồ sơ trên khắp thế giới để tìm những thông tin khó nắm bắt về nhiều cuộc du hành của ông Hồ Chí Minh. Tại Hoa Kỳ, tôi xin cám ơn các nhân viên bộ phận Phương Đông trong Thư viện của Quốc hội Hoa Kỳ, Ông Allan Riedy, Giám đốc Sưu tập Echols trong Thư viện Kroch của Đại học Cornell. Tại Cơ quan Hồ sơ Quốc gia Hoa Kỳ (Công viên College, bang Maryland), các ông John Taylor và Larry McDonald đã có sự giúp đỡ quý báu cho tôi  trong việc tìm các hồ sơ của Cơ quan Tình báo Hoa Kỳ OSS và các hồ sơ Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam trong và liền sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II. Tại Pháp, tôi xin cám ơn về sự giúp đỡ tôi đã nhận được tại Thư viện Quốc gia và Cơ quan Hồ sơ Quốc gia ở Paris, và đặc biệt là Trung tâm Hồ sơ, Bộ phận về Lãnh thổ Hải ngoại, tại tỉnh Aix-en-Provence. Khi tôi đến thăm Moskva năm 1990, các ông Gennadi Maslov, Yevgeny Kobelev và bà Oxana Novakova đã giúp đỡ tôi khá nhiều qua việc thảo luận về những năm ông Hồ Chí Minh sống ở Liên xô, còn bà Sophie Quinn-Judge và ông Steve Morris đã cung cấp cho tôi những tư liệu quan trọng mà họ đã tìm được trong Hồ sơ của Quốc tế Cộng sản. Ông Li Xianheng (Bảo tàng cách mạng ở Quảng Châu) đã cung cấp cho tôi thành quả nghiên cứu của ông về những năm ông Hồ chí Minh sống ỏ Quảng Châu và đã dẫn tôi tiến hành một cuộc thăm rất hấp dẫn đến Viện Đào tạo mà ở đó ông Hồ Chí Minh đã giảng dạy cách đây trên 70 năm. Tôi cũng xin cám ơn các ông Tao Bingwei và Ye Xin (Viện Nghiên cứu Quốc tế ở Bắc Kinh) đã giúp tôi có một cuộc phỏng vấn dài năm l987 về quan hệ Trung-Việt. Ông Bob O’Hara đã giúp tôi có những tài liệu liên quan trong Cơ quan Hồ sơ Công cộng ở Luân Đôn. Ông O’Hara đã tìm được rất ít tư liệu đáng quan tâm, nhưng tôi cảm thấy hài lòng là ông  đã thay tôi tìm mọi nguồn thông tin có thể có. Tôi xin cám ơn giáo sư Laura Tabili (Đại học Arizona) đã có sự hướng dẫn có ích cho tôi trong việc tìm các nguồn thông tin có thể có về những năm khó nắm bắt của ông Hồ chi Minh ở Anh, và xin cám ơn các nhân viên chi nhánh ở Hồng Kông của cơ quan Hồ sơ Công cộng của Anh đã tạo điều kiên cho  tôi  sử dụng các tư liệu về thời gian ông Hồ chí Minh bị tù ở Hồng Kông vào đầu các năm 1930s. Đại sứ T.N.Kaul đã tỏ ra hữu ích qua việc nêu và bàn về một số ký ức của ông về cuộc gặp mặt giữa các ông Jawaharlal Nehru và Chu Ân Lai vào mùa hè 1954.

Tôi xin biết ơn một số bạn học giả và nghiên cứu viên đã chia sẻ mối quan tâm của tôi về ông Hồ Chí Minh và lịch sử  cách mạng Việt Nam. Trong một số trường hợp, dù nêu tên họ ra đây cũng không đủ để thể hiện lòng biết ơn của mình, vì nhiều người trong số đó đã cung cấp cho tôi những tài liệu quan trọng hoặc cho tôi tiếp cận thành quả nghiên cứu của họ về những chủ đề liên quan. Tuy nhiên, tõi xin nêu tên họ ra đây. ở Hoa Kỳ, các ông Douglas Pike và Steve Denny (Cơ quan Hồ sơ Đông Dương, hiện nằm trong Đại học Công nghệ Texas) đã có sự giúp đỡ có ích cho tôi trong lần tôi đến thăm Cơ quan Hồ sơ này khi còn ở tại Berkeley. Những người khác đã giúp đỡ tôi là ông King C.Chen (đã tạ thế), các ông Stanley Karnow, Bill Turley, Gary Tarpinian và bà Mai Elliott.  Ông John McAuliff (Dự án Hoà giải Hoa kỳ – Đông Dương) đã có lòng tốt giúp tôi dự Hội nghị các Cựu binh Việt Minh – OSS họp tại Hampton Bays, Nữu Ước, năm 1998. Trong số các người dự hội nghị đó có các ông Frank White, Henry Prunier, Carlton Swift, Mac Shinn, Frank Tan, George Wicks, Ray Grelecki và Charles Fenn và một Phái đoàn Cựu binh Việt Minh và học giả Việt Nam, và họ đã chia sẻ với tôi những điều đã trải qua đầy hấp dẫn của họ trong giai đoạn đó.  Vào một dịp trước đó, tôi đã có may mắn thảo luận về ông Hồ Chí Minh với ông Archimede Patti, mà những ký ức được nêu trong quyển sách của ông Tai sao Viêtnam ?  Đoạn mở đầu của tai hoạ của Hoa Kỳ (Berkeley : NXB Đại học California, 1980) là một nguồn thông tin không gì thay thể được về chủ đề này. Ông Bob Bledsoe, Chủ nhiệm Khoa Khoa-học chính trị tại Đại Học miền Trung Florida đã vui lòng cho phép tôi đọc các hồ sơ của ông Patti, mà hiện được lưu giữ tại Đại học này. Tôi xin cám ơn bà Margaret, Vợ goá của ông Patti, đã cho phép tôi in vào sách này một số ảnh trong các hồ sơ trên.

Tại Pháp, một số người đã giúp đỡ tôi theo nhiều cách, kể cả các ông bà Georges Boudarel, Daniel Hemery, Christiane Pasquel Rageau và Philippe Devillers, cũng như Chris Goscha và Agathe Larcher. Ông Stein  Tonnesson đã giúp đỡ tôi nhiều qua việc chia sẻ các thành quả nghiên cứu của ông tại Trung tâm Hồ sơ, Bộ phận Lãnh thổ Hải ngoại, tại tỉnh Aix-en-Provence. Tôi xin cám ơn Giáo sư Bernard Dahm đã mời tôi dự một hội nghị về ông Hồ Chí Minh tai Đại học Passau năm 1990. Các ông Liang-wu Yin và Chen Jian đã cung cấp cho tôi các tư liệu bằng Trung văn rất quan trọng để hiểu quan hệ giữa ông Hồ Chí Minh với Trung quốc. Các học giả Nga Ilya Gaiduk và Anatoly Sokolov đã giành thì giờ cho tôi hoặc gửi cho tôi những tư liệu có ích về quan hệ Liên xô – Việt Nam. Giáo sư Motoo Furuta (Đại học Tokyo) đã gửi cho tôi một số tài liệu quan trong mà tôi không có được ở Hoa Kỳ. Trong một số trường hợp, ông David Marr (Đại học Quốc gia Uc) đã cung cấp cho tôi các tài liệu, bài báo và một băng ghi âm bài diễn văn nổi tiếng của ông Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình đầu tháng 9.1945. Tôi xin cám ơn ông Yu Pen-li và Liu Hsiang-wang, sinh viên Đại học của tôi tại Đại học Bang Pennsylvania, tuy bận nhiều việc đã giành thì giờ để cung cấp cho tôi những tư liệu có liên quan đến hoạt động của ông Hồ Chí Minh tại Hoa Nam.

Về Nhà Xuất bản Hyperion, tôi xin cám ơn ông David Lott (Phó Tổng biên tập) đã cẩn thận tiến hành việc xuất bản sách này, ông Trent Duffy, biện tập viên nhà Xuất bản đã tiến hành chuẩn mức hoá các tham chiếu, bà Lisa Stokes và ông Phil Rose đã chỉ đạo nghệ thuật về các phần bên trong sách và vẽ bìa, ông Paul Pugliese, bà Dorothy Baker và ông Archie Ferguson đã cung cấp những bản đồ đẹp, thiết kế tốt bên trong sách và bìa, và ông Mark Chair đã nhanh chóng và hiệu quả xử lý rất nhiều câu hỏi của tôi trong quá trình xuất bản. Tôi xin đặc biệt cám ơn ông Will Schwalbe, biên tập viên của tôi, đã luôn luôn khuyến khích tôi hoàn thành tốt dự án. Ngay từ đầu ông đã nói rằng điều quan tâm lớn nhất của ông là muốn giúp tôi xây dựng được một quyển sách có chất lượng cao nhất. Tôi rất hoan nghênh sự kiên nhẫn, vui tính và những lời khuyên xác đáng của ông.

Tôi xin cám ơn Laura và Claire, 2 con gái của tôi, đã không than phiền về việc phải nghe Bố trình bày về Việt Nam trong nhiều giờ (và nhiều năm). Cuối cùng, tôi xin mãi mãi cám ơn Yvonne – vợ tôi, không những là người đầu tiên đọc bản thảo, mà còn là người luôn luôn  kiên nhẫn nghe tôi suy tư và trình bày nhiều về ông Hồ chí Minh, nhiều  đến mức mà hầu như ông đã trở thành một thành viên trong  gia đình tôi.

LỜI BẠT

Sáng ngày 30 tháng Tư 1975, những chiếc xe tăng chế tạo tại Liên Xô và do những người Bắc Việt Nam lái đã ầm ầm đi qua các vùng ngoại ô phía Bắc Sài Gòn, và tiến tới dinh tổng thống ở trung tâm thành phố. Ngồi trên xe là những người lính mặc quân phục, đầu đội các mũ cối đặc sắc của họ có đính một ngôi sao vàng, và phất cờ của Chính phủ cách mạng lâm thời (PRG).

Ngay sau lúc giữa  trưa, một đoàn xe tăng chầm chậm đi dọc theo Đại lộ Thống Nhất qua Đại sứ quán Mỹ, nơi mà mới chỉ hai tiếng đồng hồ trước đó những lính thủy đánh bộ cuối cùng của Mỹ đã ra đi bằng trực thăng. Chiếc xe tăng do dự một lát trước cổng thép phía trước dinh tổng thống rồi húc thẳng và xông qua cổng, rồi dừng lại ở bãi cỏ ngay trước bực thang nghi lễ dẫn vào dinh. Viên sĩ quan chỉ huy xe tăng tiến vào tòa nhà, gặp Tổng thống Dương Văn Minh, tức  Minh “Lớn”, trong ít phút rồi trèo lên nóc dinh, thay lá cờ Việt Nam Cộng hòa trên cột cờ bằng lá cờ hai màu đỏ xanh của Chính phủ cách mạng lâm thời.

Cuộc Chiến tranh Việt Nam lâu dài rốt cuộc đã kết thúc. Sau gần một thập niên chiến đấu quyết liệt và đẫm máu đã cướp đi mạng sống của khoảng 50.000 đồng đội của mình, những quân chiến đấu Hoa Kỳ cuối cùng đã ra đi sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào tháng 1-1973. Hiệp định nhanh chóng bị phá vỡ, và ít tháng sau các lực lượng vũ trang của chính quyền Sài Gòn đã liên tục xung đột với quân Việt Cộng và quân Bắc Việt Nam (được chính thức gọi là Quân đội Nhân dân Việt Nam). Do hiệp định này, trên  100.000 quân Bắc Việt Nam đã mặc nhiên được phép ở lại miền Nam. Tháng l2-1974, trở nên mạnh dạn hơn do những thắng lợi trên chiến trường và do các bằng chứng ngày càng tăng cho thấy Mỹ sẽ không tái tham gia vào cuộc chiến tranh, các vị lãnh đạo Đảng (lúc đó còn gọi là Đảng Lao động Việt Nam) đã chuẩn y kế hoạch của bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam về một chiến dịch hai năm nhằm lật đổ chính quyền Sài Gòn vào mùa Xuân 1976. Nhưng do phía chính quyền Sài Gòn đã có những phản ứng quá yếu ớt đối với những trận đánh thăm dò dọc biên giới Campuchia và Tây nguyên  vào đầu năm 1975, cho nên, vào cuối tháng Ba, Hà Nội đã chỉ thị cho các tư lệnh của mình ở Miền Nam phải cố gắng giành được thắng lợi cuối cùng trước khi kết thúc mùa khô vào cuối tháng Tư. Các tuyến phòng thủ của chính quyền Sài Gòn ở phia Bắc đã đột ngột và nhanh chóng sụp đổ, và vào giữa tháng 4 quân Bắc Việt Nam đã nhanh chóng tiến về hướng Sài Gòn. Tổng thống Nam Việt Nam Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4. Người thay thế ông là ông Trần Văn Hương, một nhà chính trị cao tuổi ở Sài Gòn, chỉ cầm quyền được bảy ngày,  rồi được thay thế bằng Minh “Lớn” với hy vọng mong manh là vị tướng miền nam có uy tín này có thể tranh thủ được Bắc Việt Nam chấp nhận một giải pháp hòa bình thỏa hiệp. Nhưng các thăm dò hòa bình của Minh đã bị chính quyền Hà Nội lờ đi một cách khinh miệt.

Chiến thắng của Cộng sản ở Sài Gòn là kết quả chứng minh quyết tâm và thiên tài của nhà lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam Lê Duẩn và các đồng nghiệp lâu năm của ông ở Hà Nội. Phần đóng góp không kém phần quan trọng vào thắng lợi là của các binh sĩ Bắc Việt Nam và du kích Việt Cộng – gọi đơn giản là bộ đội ­- (tương đương với chữ GI ở Hoa Kỳ), những người mà trong một thế hệ đã chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp cách mạng trong các rừng và đầm lầy ở miền Nam. Nhưng trên tất cả, thắng lợi đó là di sản của tầm nhìn, ý chí và tài lãnh đạo của một con người : Hồ Chí Minh, người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà lãnh đạo phong trào cách mạng và Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước khi ông qua đời năm 1969, sáu năm trước khi cuộc chiến tranh kết thúc. Để tỏ lòng biết ơn về sự đóng góp của ông, sau khi Sài Gòn thất thủ, các đồng nghiệp của ông đã đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh.

Là phái viên của Quốc tế Cộng sản (Comintern) ở Mátxcơva, là thành viên của phong trào Cộng sản quốc tế, là kiến trúc sư của thắng lợi ở Viêt Nam, ông Hồ Chí Minh chắc chắn là một trong những nhân vật chính trị có  ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XX. Đồng thời, ông  là một trong những con người huyền bí nhất, một nhân vật mờ ảo mà động cơ và thành tích đã gây ra tranh luận trong một thời gian dài. Trong ba thập niên, người ta đã tranh luận rất nhiều về một vấn đề tưởng chừng như đơn giản là động cơ cơ bản của  cả cuộc đời hoạt động cách mạng của ông. Liệu ông chủ yếu là một người  dân tộc chủ nghĩa hay là một người Cộng sản ?  Liệu hình ảnh công cộng của ông về tính giản dị và vô tư là đích thực, hay chỉ đơn thuần là sự khôn khéo ?  Đối với những người ủng hộ, ông Hồ chí Minh là một biểu tượng của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng, một ông “Bác” hết lòng chăm lo cho hạnh phúc của đồng bào mình và sự nghiệp giải phóng của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Nhiều người đã từng gặp ông, cả người Việt Nam và người nước ngoài, đều thấy ông là một “người dễ mến”, một nhà lãnh đạo lớn trên thế giới nhưng trên thực tế lại là một người yêu nước tận tuỵ, có một phong cách bình thường và cam kết phấn đấu suốt đời để đem lại một cuộc sống tốt hơn cho đồng bào Việt Nam. Tuy nhiên, những người chỉ trích lại nêu những hành động cách mạng  thái quá đã được tiến hành nhân danh ông Hồ Chí Minh và tố cáo ông là có một nhân vật giống con kỳ nhông luôn luôn thay đổi mầu, một con sói đội lốt cừu.

Câu hỏi về tính cách và động cơ bên trong của ông Hồ Chí Minh là điểm trung  tâm của các cuộc tranh luận ở Mỹ về tính đạo lý của cuộc xung đột ở Việt Nam. Đối với nhiều người chỉ trích các chính sách của Mỹ ở Việt Nam, ông Hồ Chí Minh chỉ là một người yêu nước lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam và mạnh mẽ chống lại chủ nghĩa đế quốc toàn cầu trên toàn bộ Thế giới thứ ba. Những người ủng hộ nỗ lực chiến tranh của Mỹ lại tỏ ý nghi ngờ động cơ yêu nước của ông bằng cách nói đến quá trình lâu dài của ông đã làm phái viên của Joseph Stalin và  phục vụ  sự nghiệp cách mạng thế giới trong 5 thập niên. Họ nói rằng hình ảnh dân tộc chủ nghĩa mà ông đã chuyên cần xây dựng chỉ là một mưu mẹo để tranh thủ sự ủng hộ cho sự  nghiệp cách mạng ở trong nước và ở nước ngoài .

Đối với những người Mỹ, cuộc tranh luận về ông Hồ Chí Minh đã gây ra những cảm xúc mạnh mẽ về một cuộc chiến tranh mà giờ đây đã đi vào quá khứ. Đối với người Việt Nam, cuộc tranh luận nêu  lên những câu hỏi có tầm quan trọng to lớn hơn bởi vì nó liên quan đến một trong những vấn đề trung tâm của cách mạng Việt Nam  – mối quan hệ giữa quyền tự do con người và sự bình đẳng về kinh tế ở nước Việt Nam trong thời kỳ hậu chiến. Kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, những đồng nghiệp của Ông  – một vài người trong số đó vẫn đang cầm quyền ở Việt Nam – đã không ngừng vận dụng ký ức về Ông để thần thánh hoá mô hình của chủ nghĩa Cộng sản về phát triển quốc gia. Họ nói rằng mục tiêu của cả sự nghiệp lâu dài của Ông là chấm dứt chế độ bóc lột tư bản chủ nghĩa trên toàn thế giới và tạo ra một thế giới cách mạng mới mang đặc trưng của tầm nhìn không tưởng của Các Mác. Tuy nhiên, có một số tiếng nói bất đồng đã lập luận rằng thông điệp trung tâm của sự nghiệp ông Hồ Chí Minh là quyết tâm “mềm hóa” quy luật thép về đấu tranh giai cấp Mác xít bằng cách kết hợp nó với đạo lý của Khổng học và 3 nguyên tắc của  cách mạng Pháp là tự do, bình đẳng, bác ái. Để biện minh cho luận điểm của mình, họ viện dẫn một trong những khẩu hiệu của ông Hồ Chí Minh, một khẩu hiệu mà ngày nay được trông thấy ở mọi nơi trên các tấm biển ở Việt Nam, đó là :  “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”1.

Như vây, cuộc tranh luận về ông Hồ Chí Minh nằm ở tâm điểm của một  số  vấn đề trung tâm của thế kỷ XX, một thời đại của chủ nghĩa dân tộc, cách mạng, chủ nghĩa bình đẳng và sự mưu cầu quyền tự do cho con người. Sự  phức tạp trong tính cách của ông Hồ chí Minh phản ánh tính phức tạp của thời đại đó. Ông vẫn là một thế lực hùng mạnh ở nước Việt Nam hậu chiến, được hàng triệu người sùng kính và chắc chắn cũng bị vô số người khác căm ghét. Dù điều đó là tốt hay xấu cho những người này hoặc những kẻ khác, ông Hồ Chí Minh đã phản ánh được trong con người của mình hai trong những thế lực  trung tâm của xã hội hiện đại – khát vọng giành độc lập dân tộc và giành công lý xã hội và kinh tế. Mặc dù chưa có đủ mọi bằng chứng, đã đến lúc cần tiến hành sự phân tích lịch sử đối với nhân vật nổi bật này của thế kỷ XX.

Việc tìm hiểu này đặt ra cho bất cứ người viết tiểu sử nào những vấn đề thật đáng sợ. Hàng triệu người trên toàn thế giới nhận ngay ra tên Hồ Chí Minh,  nhưng từ lâu lại rất thiếu các nguồn thông tin có thể kiểm tra được về cuộc đời của ông. Trong phần lớn thời gian trong cuộc đời trưởng thành của mình, ông đã làm cách mạng để chống lại chế độ thực dân Pháp ở Đông Dương, và ông đã nhiều năm sống tha hương ở nước ngoài và trong nhiều năm khác đã sống bí mật tại nước mình. Trong phần lớn thời gian đó, ông đã bí mật sống và đi lại với nhiều bí danh (2). Người ta ước tính rằng trong suốt cuộc đời của mình ông đã dùng hơn 50 bí danh2. Nhiều trong số những bài viết của ông đã dùng các bí danh đó, và vô số những bài viết khác đã bị thất lạc và thủ tiêu trong một thế hệ đầy xung đột.

Ông Hồ Chí Minh đã góp thêm vào sự rối mù đó bằng tạo ra một vẻ bí ẩn về cuộc đời mình, một bí ẩn gây sự chú ý nhưng lại khó giải mã. Trong nhiều năm, ông đã phủ nhận rằng nhà chính trị vô danh xuất hiện trước công chúng ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai  trên tư cách là Chủ tịch Hồ Chí Minh trên thực tế là ông Nguyễn ái Quốc, người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương  và một phái viên nổi bật của Quốc tế Cộng sản trong thời kỳ trước chiến tranh. Ngay cả sau khi danh tính thực của ông đã được nêu rõ ông vẫn hết sức giữ kín các sự kiện then chốt trong cuộc đời quá khứ của mình, và một số ít cố gắng tự viết tiểu sử của ông, và một trong số sách đó đã được nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xuất bản bằng một số ngôn ngữ vào cuối những năm 1950, cũng mang  bí danh. Chỉ trong những năm gần đây các nhà nghiên cứu ở Hà Nội mới có thể xác định được rằng những tác phẩm này đã thực sự  do chính ông Hồ Chí Minh viết3.

Vấn đề biên soạn một tiểu sử của ông Hồ Chí Minh càng trở nên gay go hơn do không thể tiếp cận các nguồn tin hiện có. Vì ông Hồ chí Minh đã đi lại và sống ở một số nước, nên thông tin về các hoạt động của ông được phân tán ở một số châu lục. Bản thân ông đã sử dụng một số ngoại ngữ và số tác phẩm rất lớn của ông (kể cả các sách nhỏ, bài báo, báo cáo và bản tin, thư từ) được viết bằng nhiều ngôn ngữ kể cả tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc và tiếng Nga, và tiếng Việt – tiếng mẹ đẻ của ông.

Cho đến tận gần đây, các học giả vẫn không sao có được những thông tin này. Thậm chí ngày nay, nói chung các nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài vẫn chưa được tiếp cận với những tài liệu lưu trữ ở Hà Nội. Thông tin liên quan đến các hoạt động của ông ở Trung Quốc và Liên Xô cũng không thể tiếp cận được và hiếm khi được chính phủ Trung Quốc và Liên Xô tiết lộ. Hầu như giai đoạn duy nhất trong cuộc đời hoạt động của ông đã được nghiên cứu kỹ lưỡng là thời gian ngắn ngủi ở Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Đầu thập niên 1970, lần đầu tiên Pháp mở cửa các hồ sơ lưu trữ của chế độ thực dân Pháp và cho phép công chúng được đọc kỹ về thời kỳ đó. Gần đây hơn, nhiều tuyển tập bài viết của ông đã được ấn hành ở Việt Nam, nhưng công việc sưu tập đó chưa hoàn tất, và việc chính thức biên tập lại một số đoạn khiến người ta hoài nghi về tính chính xác của văn kiện. Các hồ sơ lưu trữ của Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva đã được mở cửa một phần cho các học giả, song các nhà quan sát nước ngoài vẫn chưa được tiếp cận với hồ sơ chi tiết về quan hệ của ông Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo Liên Xô (4) 4.

Còn một câu hỏi nữa về ông Hồ Chí Minh có liên quan đến phong cách lãnh đạo của ông. Ông là người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương và là một nhân vật hàng đầu trong phong trào Cộng sản quốc tế, song ông không phải là một nhân vật khống chế như nhiều nhà lãnh đạo cách mạng hiện đại khác,  Lênin, Stalin hay Mao Trạch Đông; dường như ông lãnh đạo bằng sự thuyết phục và sự đồng thuận hơn là bằng  áp đặt ý chí thông qua sức mạnh của  tính cách cá nhân. Ông cũng không hay viết về các ý tưởng hay động cơ bên trong của mình. Trái với các nhân vật cách mạng nổi bật khác, ông Hồ Chí Minh ít tỏ ra quan tâm đến ý thức hệ hoặc tranh luận về trí thức, mà chỉ tiêu điểm tư duy và hoạt động của mình vào vấn đề thực tiễn là giải phóng đất nước mình và các thuộc địa khác khỏi chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Bởi lẽ đó, các học giả và thỉnh thoảng cả những người đương đại chỉ coi ông là  người thực hành đơn thuần, chứ không phải là một nhà lý luận cách mạng. Ông  cũng dường như chưa bao giờ quan tâm đến sự phân biệt này. Khi một người phỏng vấn  nêu câu hỏi tại sao ông chưa bao giờ viết một chuyên đề về ý thức hệ, ông  nói vui rằng ý thức hệ là một cái gì đó mà ông muốn dành cho ông Mao Trạch Đông. Trong những năm sau đó, những tác phẩm nghiêm túc về chủ nghĩa hay chiến lược được xuất bản ở Việt Nam thường là của các  đồng nghiệp của ông  – các ông Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh hay Lê Duẩn.

Do bản chất gây tranh cãi của chủ đề này và do thiếu các nguồn thông tin đáng tin cậy, không có gì đáng ngạc nhiên là không hề có một tiểu sử nghiêm túc nào bằng tiếng Anh về ông Hồ Chí Minh trong  20 năm qua. Vào giai đoạn cao điểm của Chiến tranh Việt Nam, một số tiểu sử chuyên để đã được ấn hành, song phần lớn đều nhằm vào thị trường đại chúng, và chưa cố gắng sử dụng một cách chi tiết các nguồn tài liệu hiện có. Tại miền Bắc Việt Nam, đã xuất bản  một số tiểu sử chính thức hay không chính thức, nhưng tất cả đều rõ ràng là một cố gắng nhằm trình bày chủ đề với những tỷ lệ huyền thoại, như là một vị thánh chứ không phải một nhân vật chính trị, có nhiều tính biếm hoạ hơn là thực tế5.

Ngày nay, khi  những cảm xúc về Chiến tranh Việt Nam đã bắt đầu lắng xuống và đã có thêm nhiều nguồn tài liệu ở các nơi khác nhau trên thế giới, chúng ta có những cơ sở khiêm tốn để lạc quan rằng có thể có hiểu biết trọn vẹn và xác thực hơn về cuộc đời của ông. (Tính chất của các nguồn thông tin này được bàn vắn tắt trong phần ghi chú về nguồn ở cuối cuốn sách). Mặc dù không thể giải quyết toàn bộ những bí ẩn về cuộc đời của ông Hồ Chí Minh, hiện nay một nhà viết tiểu sử chuyên cần có thể lắp ghép, kết hợp một số giả thuyết để giải đáp một số câu hỏi mà người ta liên tục nêu ra về cuộc đời và tính chất của ông. Tôi đã cố gắng xử lý  những câu hỏi đó trong nội dung sách này hoặc (đối với những vấn đề được quan tâm hơn về mặt học thuật) trong các ghi chú ở cuối quyển sách.

Điều rõ ràng là về phần lớn thời gian đầu của cuôc đời ông Hồ Chí Minh – giai đoạn trước khi ông  đến Pari vào lúc cuối Chiến tranh thế giới thứ nhất – thì hầu hết nguồn tài liệu hiện có đều duy nhất xuất phát từ các tiểu sử tự viết đã nêu ở trên và các tư liệu lịch sử ở Việt Nam, nơi mà việc cố gắng giới thiệu ông như là một huyền thoại và một quà tặng của thời đại là một ngành hoạt động có tiềm năng phát triển được chính quyền hỗ trợ. Một số nhà phê bình hoài nghi liệu những thông tin về cuộc đời của Cụ do các nguồn chính thức ở Việt Nam ấn hành có thể tin cậy được hay không. Sau khi xem xét kỹ lưỡng những bằng chứng đó, tôi thấy rằng một bộ phận quan trọng của những tài liệu này là đáng tin cậy, tuy rằng còn có các chi tiết đáng hoài nghi và một số tường thuật chưa đáng tin cậy. Vì vậy, để tránh những bàn luận vô tận về độ tin cậy của các dữ kiện khác nhau liên quan đến các hoạt động của ông, tôi đã quyết định tường thuật về cuộc đời của ông theo lối kể chuyện, và đưa phần thảo luân về các bằng chứng xuống phần chú thích ở cuối quyển sách. Chỗ nào có cơ sở hợp lý để hoài nghi một giải thích cụ thể nào đó về diễn biến tình hình, thì vấn đề được giải quyết ngay trong nội dung sách. Tôi hy vọng rằng điều này cũng sẽ giúp truyền tải được nét kịch tính của cuộc đời ông Hồ Chí Minh và tầm quan trọng của nó trong việc định hình lịch sử Việt Nam và thế kỷ XX.

Lại còn vấn đề thiên lệch chính trị. Thế hệ gần đây (của Hoa Kỳ – ND) không thể tiếp cận cuộc Chiến tranh Việt Nam với một thái độ vô tư.  Người viết tiểu sử cũng có khó khăn tương tự trong việc vẽ một bức tranh về một con người đã đem lại thắng lợi của Cộng sản mà không biểu lộ quan điểm chính trị của bản thân mình. Trong các thập niên kể từ khi tôi trở nên quen thuộc với cuộc đời của ông Hồ Chí Minh, tôi đã ngày càng kính trọng  tài năng và sự cam kết của ông trên tư cách là một nhà cách mạng, đồng thời vẫn giữ vững khả năng đánh giá ông trên tư cách là một nhà cách mạng, một nhà chính trị và một con người. Tôi đã dần dần đi đến chỗ tin rằng, như đã thường xẩy ra,  chân lý phức tạp hơn nhiều so với những gì mà hình ảnh công cộng làm cho chúng ta cả tin. Điều luôn luôn thôi thúc ta là cố gắng tìm ra một sợi chỉ đỏ (“bộ mặt người được giấu kín dưới tấm thảm”, như câu nói kinh điển của Leon Edel), nhưng tôi chủ trương để cho bản thân các sự kiện tự nói lấy. Vì vậy, tôi đã không tìm cách sáng tạo ra những ý tưởng hoặc đối thoại có tính tưởng tượng mà có thể phù hợp với sự giải thích của bản thân tôi về đặc tính bên trong của ông Hồ Chí Minh. Giống như nhiều nhân vật vĩ đại trong lịch sử, ông Hồ Chí Minh là một con người có những phức tạp và mâu thuẫn, có những  năng khiếu và đặc điểm độc đáo khiến ông khác hẳn những nhân vật quan trọng khác cùng thời.

Chắc là một số độc giả có thể thất vọng về việc tôi không tiêu điểm  nhiều hơn vào những năm cuối đời của ông đồng thời là đỉnh cao của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Trên thực tế, vai trò của ông Hồ Chí Minh trong việc tạo các điều kiện cho cuộc xung đột đó lại quan trọng hơn rất nhiều so với ảnh hưởng của ông ở Hà Nội trong thời gian chiến tranh, khi mà ông thường đau ốm hoặc đi chữa bệnh ở Trung Quốc. Vì vậy, nhiều độc giả có thể thấy rằng phần lớn quyển sách này nói về các cá nhân và sự kiện mà họ không quen thuộc. Tôi hy vọng các độc giả sẽ cảm thấy được đền bù bằng một sự hiểu biết rõ hơn về những nguyên nhân cơ bản của cuộc chiến tranh và  những hậu quả của nó.

Tất cả các con người vĩ đại đều chứa đựng một nhân tố bí ẩn. Và ít người lại ưa thích sự bí ẩn đó nhiều hơn ông Hồ Chí Minh. Khi Bernard Fall, học giả chuyên nghiên cứu về Việt Nam, phỏng vấn ông năm 1962, ông Hồ Chí Minh đã trả lời một trong những câu hỏi của Fall như sau: “Một ông già thường thích có một chút vẻ bí ẩn về mình. Tôi muốn giữ những bí mật nho nhỏ của mình. Tôi tin chắc rằng ông sẽ hiểu điều đó6. Khi yên nghỉ tại đền thờ các vị anh hùng cách mạng, chắc ông Hồ Chí Minh sẽ hài lòng thấy rằng, ít ra là trong cuốn tiểu sử này, khí sắc bí ẩn vốn luôn luôn vây quanh ông vẫn còn  nguyên vẹn.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: