Tầm nhìn sáng tạo của Hồ Chí Minh khi tiếp nhận học thuyết Mác

Hoàng Văn Lân

Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đối thoại thứ ba giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây. Kết quả là Hồ Chí Minh, đã cùng một lúc gặp nhân loại cũ của thế giới cũ và phát hiện ra nhân loại mới của thế giới mới để rồi kiên định suốt đời đứng về phía nhân loại mới nhằm tìm đường giải phóng và phát triển cho dân tộc và nhân loại cần lao.

Không lâu trước khi qua đời (2-9-1969), Hồ Chí Minh đã trả lời nhà báo người Mỹ Anna Louise Strong về quyết định “đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác của mình” như sau:

“Những người Việt Nam, trong đó có cả cha tôi, thường tự hỏi nước nào có thể giúp phá bỏ ách đô hộ của người Pháp. Một số cho rằng Nhật Bản, những người khác cho rằng nước Anh và một số khác lại cho rằng nước Mỹ. Tôi cho rằng cần phải ra nước ngoài để tự tìm câu trả lời cho mình. Sau khi tôi biết họ được sống ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào mình” (1).

Đây là điều căn bản quyết định tầm nhìn sáng tạo và chiến lược của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã lên đường với một hành lý trí tuệ với những thành tố chủ yếu sau đây:

1. Tư tưởng và văn hoá phương Đông, tóm lại là cả một nền văn minh phương Đông mà các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ trước đã gọi là “văn minh tĩnh” để đối chọi với văn minh phương Tây được họ gọi là “văn minh động”.

2. Truyền thống độc lập của cộng đồng dân tộc Việt Nam với đỉnh cao là tư tưởng “các đế nhất phương” (mỗi bên làm một phương) được Nguyễn Trãi (1380 – 1442) xác định từ đầu thế kỷ XV và tư tưởng để thắng địch thì cần phải hiểu địch vốn thường được Nguyễn Sinh sắc nhắc nhở để giáo huấn Nguyễn Tất Thành.

3. Kinh nghiệm trong quá trình thất bại của toàn bộ các phong trào chống Pháp suốt nửa sau thế kỷ XIX cho đến đầu thế kỷ XX, bất chấp những hành động oanh liệt, những hy sinh to lớn “trong cuộc đấu tranh tuyệt vọng của một dân tộc bị áp bức” (2).

4. Sự lan tràn không thể đảo ngược của làn sóng văn minh công nghiệp từ Đại Tây Dương qua Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, rồi xâm nhập vào khắp châu Phi và châu Á. Những nhận thức về sự thức tỉnh của châu Á, về công cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản, về ba chữ Pháp Tự do, Bình đẳng, Bác ái được nghe từ lúc 13 tuổi…Nhưng trong khi đó, bằng cách cản trở văn minh và tiến bộ của dân tộc An Nam, người Pháp vĩnh viễn đặt dân tộc này ra ngoài lề của nền văn minh thế giới…(3).

Hồ Chí Minh đã lên đường tới Pháp để tìm hiểu tận nguồn bí quyết thành công của phương Tây và rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ Tự do, Bình đẳng, Bác ái ấy. Và chính sự “tìm hiểu tận nguồn” ấy đã thúc đẩy Hồ Chí Minh tự nguyện gia nhập vào hầu như toàn bộ đời sống chính trị thế giới đang sôi động trên khắp hành tinh do Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất cùng với chấn động vạch thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917. Có thể nói cơ sở của sự nghiệp cách mạng sau này của Hồ Chí Minh đã được định hình trong suốt 6 năm trường (từ 6-1911 đến 12-1917). Hồ Chí Minh liên tục xuyên các đại dương, các châu lục để khám phá thế giới cũ, phát hiện thế giới mới ấy.

Trong thời gian đi thăm nước Pháp, ngày 12-7-1946, Hồ Chí Minh trong một cuộc họp báo có nhà báo hỏi: “Thưa Chủ tịch, chúng tôi có nghe nói Chủ tịch tuyên bố rằng Chủ tịch có xu hướng cộng sản, nhưng có phải Ngài cho rằng  nước Việt nam chưa có thể cộng sản hoá được trước một thời hạn là 50 năm không?” Hồ Chí Minh đã trả lời như sau : “ Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác. Cách đây 2000 năm Đức Chúa Giê-su đã nói là ta phải yêu mến các kẻ thù của ta. Điều đó đến bây giờ vẫn chưa thể thực hiện được.

Còn khi nào chủ nghĩa Các Mác thực hiện được thì tôi không thể trả lời được. Muốn cho chủ nghĩa cộng sản thực hiện đựợc, cần phải có đất kỹ nghệ, đất nông nghiệp và tất cả mọi người đều được phát triển hết khả năng của mình. Ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa có đủ” (4).

Ở đây, có điều cần phải nhấn mạnh là, việc Hồ Chí Minh tiếp nhận học thuyết Mác không phải là một biệt lệ, ngay cả đối với người Việt Nam. Cách mạng tháng mười Nga(7-11-1917) thắng lợi đã trực tiếp dẫn tới sự ra đời của Quốc tế cộng sản và các phân bộ của QTCS: tất cả đã lôi cuốn các quốc gia, các dân tộc khắp hành tinh chúng ta vào một cao trào cách mạng mang tính thế giới. Trong tình thế đó, việc tiếp nhận học thuyết Mác đã trở thành một hiện tượng phổ biến không những ở châu Âu và Bắc Mỹ mà còn ở các quốc gia cũ và mới phân chia theo điều ước Versailles (1919) nằm trong hệ thống thuộc địa thế giới từ châu Á sang châu Phi, châu Mỹ La tinh nữa.

Nưng ở đây, điều không thể không nhấn mạnh là, chính do xuất phát từ tư thế và hành lý trí tuệ, hành trang tinh thần(còn được bổ sung bằng quá trình khám phá thế giới cũ, phát hiện thế giới mới vừa nêu) trên đây, mà, cách tiếp nhận học thuyết Mác của Hồ Chí Minh  – khác với nhiều nhân vật lịch sử cùng thời – đã mang tính chẩt sáng tạo – chiến lược, và chính điều này sẽ quyết định con đường phát triển thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam.

Đại hội thành lập Quốc tế cộng sản (3-1919) đã xác định khẩu hiệu chiến lược “Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Nhưng việc thực hiện khẩu hiệu đó đã gặp khó khăn ngay cả trong phong trào cộng sản, gây ra bởi một quan niệm truyền thống có tính chất phân biệt đối sử giữa chính quốc và thuộc địa, về màu da, có khi còn được mệnh danh là giữa “văn minh” và “lạc hậu”. Ấy là chưa kể tới chủ trương cho rằng, cách mạng vô sản ở chính quốc thành công đã, rồi sẽ quay lại giúp cho sự thắng lợi của cách mạng giải phóng thuộc địa v. v… Tóm lại là, việc giải phóng các dân tộc thuộc địa phụ thuộc vào – hay nói cách khác là phải chờ đợi – sự thành công của cách mạng vô sản ở chính quốc. Nhưng chờ đợi đến bao giờ? Trong một cuộc trao đổi chính trị vào lúc 21 giờ ngày 19-12-1919 tại nhà luật sư Phan Văn Trường, số 6 Villa des Gobelins ở Paris, Hồ Chí Minh đã nhận xét: “ Từ 60 năm qua dân An Nam đã đã chờ sự thay đổi…Nếu trong dân có mấy người lên tiếng để làm cho nhà cầm quyền cấp trên biết các điều khẩn cầu và tình cảnh khốn đốn của họ để yêu cầu các biện pháp khắc phục, thì người ta trả lời họ bằng lao tù, lưu đầy hay án tử hình…Nếu ta chỉ trông chờ vào lòng tốt của chính phủ Pháp để thay đổi tình trạng hiện nay thì phải trông đợi không biết đến bao giờ!…Họ không muốn coi ta là giống người. Sống bị nhục mạ và bạc đãi trên trái đất này thì thật là vô ích. Hễ người ta còn tước đoạt của chúng ta các công quyền và quyền chính trị thì người ta sẽ còn coi chúng ta như những kẻ thù, như nhũng nô lệ…”(4). Rồi tới tháng 5 năm 1921, dưới đề mục Đông dương trên tạp chí La Revue Communiste số 15 (5-1921), Hồ Chí Minh đã trực tiếp đề xuất quan điểm của mình về các vấn đề trên:

“Chế độ cộng sảncó áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng hay không? Đó là vấn đề mà chúng ta đang quan tâm hiện nay.

Muốn hiểu vấn đề, chúng ta phải xem xét tình hình hiện nay ở lục địa châu Á về mặt lịch sử và địa lý.

(…) Bây giờ chúng ta hãy xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu.

Người châu Á – ạmc dù bị người phương Tây coi là lạc hậu – vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết của một cuộc cải cách toàn bộ xã hội hiện nay. Và đây là lý do tại sao.

Gần 5000 năm trước đây, Hoàng đế (2679 năm trước CN) đã thi hành chế độ tỉnh điền: chia mỗi vùng đất trồng trọt bằng cách vạch ra hai đường dọc và hai đường ngang. Như thế là thành chín phần bằng nhau. Mỗi người cày ruộng được lĩnh một trong tám phần, còn  phần ở giữa thì tất cả tám người đều cùng làm và sản phẩm thì được dùng vào những việc thuộc lợi ích công cộng. Các đường vạch phân giới dọc và ngang được dùng làm mương dẫn nước tưới.

Triều đại nhà Hạ (2205 trước CN) mở đầu chế độ lao động nghĩa vụ.

Khổng Tử vĩ đại (551 trước CN) khởi xướng thuyết Đại đồng và thuyết Giáo sự bình đẳng về tài sản. Ngài nhấn mạnh: Cảnh tượng thái bình trên thế giới này chỉ xuất hiện khi thế giới đại đồng. Người ta không sợ thiếu mà chỉ sợ không đồng đều. Sự đồng đều sẽ xóa bỏ sự nghèo khóv.v…

Đồ đệ của Ngài là Mạnh Tử đã kế tục học thuyết của Ngài và đã vạch ra một kế hoạch chi tiết về tổ chức sản xuất và tiêu dùng. Sự báo dưỡng và phát triển lành mạnh của trẻ em, giáo dục và lao động nghĩa vụ của người lớn, lên án nghiêm khắc thói ăn bám, chăm lo sự nghỉ ngơi của người cao tuổi, không một điều nào trong các điều ấy bị bỏ qua trong luận thuyết của Mạnh Tử. Thủ tiêu sự bất bình đẳng về hưởng thụ, phúc lợi không phải chỉ cho một số đông mà cho hết thảy mọi người, đó là chính sách kinh tế của vị minh triết ấy. Trả lời câu hỏi của nhà vua, Mạnh Tử nói một cách thẳng thắn rằng: Lợi ích của dân chúng là trước hết. Thứ đến là lợi ích của quốc gia. Còn lợi ích của nhà vua thì không đáng kể!

Về tài sản sở hữu, luật pháp An Nam cấm mua bán toàn bộ đất đai. Hơn nữa, một phần tư đất trồng trọt bắt buộc phải để làm của chung. Cứ ba năm người ta chia lại ruộng đất đó. Mỗi người dân trong xã thôn được nhận một phần. Điều đó không hề ngăn cản một số người trở nên giàu có, vì còn ba phần tư đất đai khác có thể mua bán, nhưng nó có thể cứu nhiều người khác thoát khỏi cảnh bần cùng” (5).

Trong “Những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”, Hồ Chí Minh nêu lên “thuyết đại đồng”, phép tỉnh điền, chế độ công điền ở Việt Nam, tư tưởng nhân chính của Mạnh Tử…Như vậy là, thấm nhuần giá trị sâu sắc của tư tưởng và văn hoá phương Đông, từ quá khứ phương Đông cũng như từ quá khứ dân tộc Việt Nam, từ “chủ nghĩa truyền thống được thể thức hoá”(6) được coi như một nguồn lực dân tộc, Hồ Chí Minh đã đem tất cả đối chiếu với tư tưởng và văn hoá phương Tây ngay ở nơi mà Phan Chu Trinh (1872-1926) đã mệnh danh là “dân quyền tổ”. Hồ Chí Minh đã thực hiện cuộc đối thoại thứ ba (7) giữa hai nền văn minh phương Đông và phương Tây. kết quả là Hồ Chí Minh, đã cùng một lúc gặp nhân loại cũ của thế giới cũ và phát hiện ra nhân loại mới của thế giới mới để rồi kiên định suốt cuộc đời đứng về phía nhân loại mới nhằm tìm đường giải phóng và phát triển cho dân tộc và nhân loại cần lao.  Rõ ràng là, nagy khi tiếp cận với học thuyết Mác, bằng một tầm nhìn sáng tạo, Hồ Chí Minh đã có thể xác định cho mình một chiến lược hành động để thực hiện lý tưởng giải phóng và phát triển. Cho đến khi“từ biệt thế giới này”(2-9-1969), tầm nhìn, ý chí và tài trí phi thường của Hồ Chí Minh đều thống nhất về chiến lược đó, và đã chuyển hoá thành tình cảm “ham muốn, ham muốn tột bậc” (8) của một đời người.

Mặc dù thời bấy giờ, các tác phẩm của Mác về các xã hội tiền tư bản chưa ấn hành và mặc dù không dùng khái niệm tiền tư bản nhưng dựa vào một năng lực phân tích so sánh lịch sử giữa “châu Á đau khổ” và “châu Âu văn minh”, ngay từ năm 1921, Hồ Chí Minh đã nhận ra  tích chất tiền tư bản của xã hội châu Á và của xã hội Việt Nam. Và chính tại đây, ngay khi đặt vấn đề xác định chiến lược giải phóng và phát triển thì Hồ Chí Minh đã lập tức trực tiếp phát hiện ra khoảng cách về tổ chức kinh tế(9) giữa châu Âu và Việt Nam. Khoảng cách đó còn là tổ chức xã hội dân sự với những thiết chế thuộc thời đại tư bản chủ nghĩa mà xã hội Việt Nam chưa đạt tới, cũng tức là những thiết chế (của làn sóng văn minh công nghiệp) xác lập “điều kiện cơ bản” về dân quyền và quyền con người.

“Cái thiếu đối với chúng tôi, mà trách nhiệm của chúng tôi phải nói lên ở đây để những đồng chí của chúng ta…thực tâm muốn giúp đỡ những người lao động lật đổ ách của những kẻ bóc lột…, để cho những đồng chí đó có thể giúp đỡ chúng tôi một cách có hiệu quả. Cái mà chúng tôi thiếu để trở thành cộng sản, là những điều kiện cơ bản nhất để hành động:

Tự do báo chí

Tự do du lịch

Tự do dạy và học

Tự do hội họp” (10)

Cũng chính ở đây, Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề giải phóng thuộc địa trên một bính diện mới. Từ sinh thời Các Mác (1818-1883) cho đến những năm hai mươi của thế kỷ trước, quan điểm chính thống chung là cách mạng vô sản ở các nước công nghiệp Tây Âu và Bắc Mỹ, có thuộc địa khắp hành tinh là chủ thể đóng vai trò quyết định tiến trình phát triển. Thắng lợi của cách mạng chính quốc là điều kiện tiên quyết cho công cuộc giải phóng thuộc địa. Nhận thức rõ nhược điểm của cách mạng phương Đông cũng như của Việt Nam là sự cô lập trong khi tư bản chính quốc thì liên kết thành hệ thống, Hồ Chí Minh tìm chỗ dựa quốc tế và ra sức học hỏi nhiều từ tư tưởng phương Tây trong đó có học thuyết Mác. Nhưng với hành lý trí tuệ, với ý thức thường trực về bản thân lịch sử và nguồn lực của dân tộc như đã trình bày ở trên, ngay trong khi tìm chỗ dựa quốc tế ở phong trào cộng sản và phong trào công nhân, Hồ Chí Minh vẫn tự xác định được niềm tin bất di bất dịch vào cách mạng giải phóng dân tộc và chủ trương rằng cách mạng ở chính quốc và thuộc địa có tác dụng tương hỗ với nhau, công cuộc giải phóng thuộc địa không nhất thiết phải chờ sự thành công của cách mạng ở chính quốc, hơn nữa còn “có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”. Tầm nhìn chiến lược đó của Hồ Chí Minh đã được diễn đạt bằng một khẳng định logic từ tháng 5 năm 1921 như sau:

“Ngày mà hàng trăm triệu nhân dân châu Á bị tàn sát và áp bức thức tỉnh để gạt bỏ sự bóc lột đê tiện của một bọn thực dân lòng tham không đáy, họ sẽ hình thành một lực lượng khổng lồ và trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn” (11)

Và từ tháng 5-1921 ấy cho đến khi qua đời (9-1969), Hồ Chí Minh không bao giờ rời tầm nhìn chiến lược đó, vượt qua bất cứ tình thế nào của những thăng trầm quanh co khúc khuỷu của tình hình thế giới cũng của như của bản thân.

* Chú thích:

1. William j.Duiker, Hồ Chí Minh, Hype, New York, 2000

2.  Hồ chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 1995, tr.412.

3. Phan Thị Minh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Nxb Đà Nẵng, 3-2001

4. Báo Cứu quốc số 292, ra ngày 15-7-1946.

5. Toàn tập, I, tr.33-35.

6. John Lê Văn Hóa, tìm hiểu nền tảng văn hóa dân tộc trong tư tưởng cách mạng Hồ Chí Minh, trường Đại học Tổng hợp Northwestern, xuất bản tại U.M.I.Michigan – USA, 1989, Nguyễn Việt Long dịch, Nxb Hà Nội, 2003, tr.27.

7. Cuộc đối thoại thứ nhất được thế hệ Nguyễn Trường Tộ thực hiện ở nửa sau thế kỷ XIX. Cuộc đối thoại thứ hai được thế hệ các sĩ phu Đông Kinh nghĩa thục và các sĩ phu Duy tân đầu thế kỷ XX thực hiện. Cuộc đối thoại thứ ba do Nguyễn Ái Quốc thực hiện trong quá trình tiếp nhận học thuyết Mác.

8. Toàn tập, IV, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1984, tr.100.

9. Toàn tập, I, tr.1995, tr.464.

10. 11, Toàn tập, I, tr.33-36.

Xưa và Nay, số 153, 12/2003, tr 4-7

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: