Tóm tắt nội dung tham luận tại Hội thảo Quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (tháng 5/2010)

Hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Di sản Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay” đã diễn ra tại Hà Nội trong hai ngày 12 và 13/5/2010.

>>> Phát biểu khai mạc của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng

Hội thảo thu hút hàng trăm đại biểu là các quan chức, chuyên gia trong nước và đến từ nhiều nước trên thế giới như Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Brazil, Cuba, Lào… với gần 200 tham luận.

Với khối lượng tham luận đồ sộ, hội thảo được tổ chức thành ba phiên theo ba chủ đề: “Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, “Hồ Chí Minh với sự nghiệp hòa bình, hữu nghị và hợp tác giữa các dân tộc”, “Văn hóa, đạo đức, nhân cách trong di sản Hồ Chí Minh”.

TheheHoChiMinh.net xin giới thiệu bản tóm tắt 83 tham luận của các đại biểu Việt Nam. Chúng tôi sẽ tiếp tục bổ sung khi nhận được những tham luận mới.

Gần 200 tham luận tại hội thảo quốc tế kỷ niệm 120 năm ngày sinh Bác Hồ

Mỗi tham luận đã đi sâu tìm hiểu di sản Hồ Chí Minh trong từng lĩnh vực của cuộc cách mạng độc lập dân tộc của thế kỷ 20 cũng như thời kỳ Việt Nam hội nhập quốc tế ngày nay: tư tưởng Hồ Chí Minh với việc đào tạo cán bộ, với công tác xóa đói giảm nghèo, hay với vấn đề đổi mới phong cách làm việc của đội ngũ lãnh đạo, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh ứng dụng cho thời đại mới… Nhiều tham luận cũng đã đưa ra các chi tiết cho thấy tầm nhìn vượt thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quan hệ quốc tế, trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế quốc dân…

Bàn về tư tưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn hóa, bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO Hà Nội, phát biểu: “Hồ Chí Minh (…) rất quan tâm đến việc bảo vệ và bảo tồn di sản. Sắc lệnh số 65 (…) ban hành tháng 11-1945 quy định rằng việc bảo tồn di tích lịch sử là một nhiệm vụ rất cần thiết để xây dựng nước Việt Nam. Quyết định này còn cấm phá hủy đình, chùa, đền đài, điện thờ, hoặc những nơi thờ cúng, các lâu đài, thành quách và lăng mộ, cũng như các đồ vật, sắc chỉ, văn bằng, tư liệu, sách báo, có giá trị cho lịch sử cho dù có tín ngưỡng hoặc không…”.

Bà Katherine Muller-Marin cho biết Đại hội đồng UNESCO đã khuyến nghị các quốc gia thành viên tham gia vào việc kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “vị anh hùng dân tộc và nhà văn hóa lớn” của Việt Nam.

Theo XUÂN VŨ (Báo Pháp luật TP.HCM)

1. Tóm tắt tham luận

ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC: TRIẾT LÝ HỒ CHÍ MINH

VỀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VIỆT NAM

PGS, TS. Bùi Đình Phong

Học viện CT – HCQG Hồ Chí Minh

1. Độc lập dân tộc theo con đường cách mạng vô sản là tiền đề của hạnh phúc, tự do:

Trong cảnh đất nước dần chìm trong chế độ thuộc địa của thực dân Pháp, Hồ Chí Minh xuất dương tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Ánh sáng của cách mạng tháng Mười Nga và Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin đã giúp Người đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc phải theo con đường cách mạng vô sản”. Hồ Chí Minh bắt đầu những hoạt động theo tư tưởng đó, gắn với những sự kiện lớn như Đại hội XVIII Đảng Xã hội Pháp (1920) và tố cáo những tội ác của chủ nghĩa thực dân ở các thuộc địa.

2. Hạnh phúc, tự do là giá trị của độc lập dân tộc

Nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thực sự thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì. Đó là quan điểm chủ đạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nền độc lập dân chủ chân chính. Hạnh phúc tự do cho dân theo Hồ Chí Minh phải thể hiện trong tất cả các lĩnh vực, kinh tế, văn hoá – tinh thần, trong đó quyền làm chủ thực sự của dân là thước đo chính xác nhất và chỉ thực sự có được trong chế độ XHCN.

3. Độc lập, tự do, hạnh phúc: Giá trị chung của nhân loại  hôm nay

Tự do, hạnh phúc cho con người là triết lý phát triển bền vững của con người trong thế kỷ XXI. Tuyên bố thiên niên kỷ hay Chương trình nghị sự (Thế kỷ XXI) của Liên hợp quốc đã chứa đựng triết lý của sự phát triển bền vững và nhân loại tiến bộ có thể tìm thấy di sản Hồ Chí Minh – Sự tư duy của Người từ những năm 40 của thế kỷ trước trong kỷ nguyên hiện đại của nhân loại

2. Tóm tắt tham luận

GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI TRONG DI SẢN HỒ CHÍ MINH

GS Đinh Xuân Lâm

PGS.TS Bùi Đình Phong

Tham luận trình bày 2 nội dung gắn bó với nhau:

1. Hồ Chí Minh khai thác sức mạnh thời đại, phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc

Trong nội dung này, báo cáo khẳng định Hồ Chí Minh từ sản phẩm dân tộc, trong quá trình hoạt động cách mạng đã đạt tới trình độ vừa là sản phẩm của dân tộc vừa là sản phẩm của thời đại. Người đã khai thác giá trị thời đại ngay khi còn ở trong nước. Đặc biệt từ khi đến với chân lý cách mạng của thời đại là chủ nghĩa Mác- Lênin, Hồ Chí Minh tận dụng mọi cơ hội để khai thác, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa, trí tuệ thời đại để phục vụ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

2. Giá trị thời đại trong di sản Hồ Chí Minh

Trong phần này, báo cáo chỉ rõ ngày nay thế giới đã có nhiều đổi thay với xu thế lớn là toàn cầu hóa kinh tế; cách mạng khoa học – công nghệ, kinh tế tri thức, hòa bình, hợp tác phát triển, nhưng tư tưởng và tấm gương cách mạng Hồ Chí Minh vẫn không hề thay đổi.

Sự vẹn nguyên giá trị Hồ Chí Minh trong thời đại ngày nay thể hiện ở nhiều khía cạnh. Đó là độc lập dân tộc, mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, giá trị về các phẩm chất đạo đức, nhân văn, tự do, hạnh phúc, dân chủ, về hòa bình, hợp tác phát triển.

3. Tóm tắt tham luận

HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

VỀ ĐOÀN KẾT

PGS.TS Cao Duy Hạ

Đoàn kết, đại đoàn kết luôn luôn là một trong những nguyên nhân quan trọng của mọi thắng lợi trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng của nước ta. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ

Đoàn  kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công

Điều quan trọng nhất trong tư tưởng đoàn kết của Hồ Chí Minh, trước hết là sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, nó được coi là “hạt nhân” của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí Minh đã dạy: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đảng mà không có sự đoàn kết nhất trí thì không thể lãnh đạo được cách mạng.

Đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng là sức mạnh vô song để chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược dù chúng có sức mạnh vật chất lớn gấp trăm, ngàn lần chúng ta. Đánh thắng đế quốc Pháp, đế quốc Mỹ giành lại độc lập dân tộc và chủ quyền lãnh thổ, đưa cả nước tíên lên theo con đường xã hội chủ nghĩa, đã chứng minh hùng hồn sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc ta.

Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh luôn là kim chỉ nam để xây dựng sự thống nhất về tư tưởng, chính trị, hành động của Đảng, của dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng.

4. Tóm tắt tham luận

PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HOÁ HỒ CHÍ MINH Ở NƯỚC NGOÀI

TS. Chu Đức Tính – Phạm Công Khái

Bảo tàng Hồ Chí Minh

1. Cuộc đời cao đẹp và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành“huyền thoại ngay từ khi Người còn sống”, là niềm tự hào chung của dân tộc ta và của nhân loại.

Ghi nhận những đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật… Đại Hội đồng UNESCO Khóa họp lần thứ 24 tại Paris, từ ngày 20 tháng 10 đến 20 tháng 11 năm 1987, đã thông qua Nghị quyết 24C/18.65 về việc khuyến nghị các nước thành viên Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách là “Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”, vào năm 1990.

Thực hiện Nghị quyết của UNESCO, nhiều hoạt động cụ thể đã được tổ chức ở nhiều nơi trên thế giới, như: tổ chức các cuộc hội thảo khoa học, xây dựng công trình tưởng niệm và bảo tồn các di tích liên quan đến cuộc sống và hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh…

2. Ngày nay, tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh được nhiều người biết đến và trở nên gần gũi, thân thiết đối với hàng trăm triệu người trên thế giới, được trân trọng ghi vào các bộ Đại bách khoa, các bộ Từ điển Danh nhân thế giới, nhiều nước trên thế giới đặt tên Người cho các quảng trường, đường phố, trường học, bệnh viện, và xây dựng tượng đài kỷ niệm về Người…

Trong nhiều năm qua, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát một số địa điểm, di tích liên quan đến các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài, giúp cho việc nghiên cứu, bảo tồn, và phát huy tác dụng một cách hiệu quả, đặc biệt trong đó là các di tích về Người ở Pháp, Trung Quốc, Nga, Thái Lan, Lào…

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đặt chân lên 42 nước trên thế giới ở các châu lục: châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ…

Tại Việt Nam đã hình thành một hệ thống bảo tàng và di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh, với gần 700 di tích và địa điểm di tích lưu niệm. Để các di tích lưu niệm về Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Việt Nam và ở nước ngoài hình thành một hệ thống di tích về Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và trở thành điểm đến trong hành trình tham quan của những người bạn yêu hòa bình, tự do, bình đẳng và bác ái… tác giả đề nghị các cơ quan, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước:

– Cùng phối hợp nghiên cứu, sưu tầm các tài liệu liên quan đến một số di tích đã được xác nhận và tiếp tục khai thác các cơ quan lưu trữ để tìm những tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh;

– Tiến hành việc khảo sát, lập hồ sơ chi tiết các địa điểm di tích, xây dựng bản đồ ghi dấu các địa điểm di tích và các công trình tưởng niệm Hồ Chí Minh đã có trên thế giới, đồng thời thông tin về việc bảo tồn và phát huy tác dụng của những di tích đó;

– Khảo sát, phát hiện mới những địa điểm di tích, các công trình tưởng niệm về Người mới được xây dựng ở các nước trên thế giới (quảng trường, đường phố, trường học, bệnh viện…

5. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ CON NGƯỜI – THIÊN NHIÊN

VỚI PHÁT TRIỂN XÃ HỘI VÀ TIẾN BỘ NHÂN LOẠI

GS.TS Chu Văn Cấp

Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh quan niệm về con người vừa cụ thể, vừa biện chứng: Con người là tinh hoa của trời, đất, nhân loại – tổng hợp những tinh túy nhất trong quá trình phát triển của tự nhiên và sự tiến bộ xã hội, do xã hội quyết định.

Hồ Chí Minh cho rằng con người bao giờ cũng ở vị trị trung tâm trong thế giới. Con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế – xã hội, chủ nhân của thế giới …

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề tài nguyên, môi trường và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người với tài nguyên môi trường trong quá trình phát triển. Người rất coi trọng việc giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái: Coi trọng việc bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng; quan tâm đến công tác thủy lợi, cải tạo đất …

Tư tưởng và quan điểm của Hồ Chí Minh về quan hệ giữa con người và thiên nhiên là giá trị, cơ sở khoa học để Đảng và Nhà nước ta xây dựng các quan điểm, chủ trương … phát triển xã hội và chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đất nước.

Phát triển xã hội luôn luôn xuất phát từ con người, coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Việt Nam đã hết sức chú trọng các lĩnh vực liên quan đến phát triển con người, như: phát triển giáo dục – đào tạo, chăm sóc y tế và sức khỏe cộng đồng, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, giải quyết các vấn đề xã hội …

Phát triển bền vững đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa con người, tự nhiên và xã hội. Phát triển bền vững đang là xu thế phát triển của thế giới ngày nay. Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, đường lối, chính sách đáp ứng yêu cầu hợp tác bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu toàn cầu.

6. Tóm tắt tham luận

VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ DÂN CHỦ TRONG TƯ TƯỞNG

HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI CÁCH MẠNG VIỆT NAM

PGS, TS. Đức Vượng

Hội đồng Lý luận Trung ương

1. Nhận thức đúng về xuất phát điểm tư tưởng Hồ Chí Minh

Khái niệm về dân tộc và chủ nghĩa yêu nước ở Việt Nam có lẽ có từ thời kỳ Hùng Vương và được nhiều thời kỳ kế thừa, phát triển. Nguyễn Ái Quốc là điển hình khi Người gắn vấn đề dân tộc với vấn đề dân chủ, giữa dân tộc và giai cấp, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

2. Vấn đề dân tộc và dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh có mối quan hệ mang tính lịch sử từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, quá trình Người tìm đường cứu  nước và nhiều thời kỳ trong lịch sử Đảng và cách mạng Việt Nam từ 1930 – đến nay. Nhiều bài học lý luận và thực tiễn đã được đúc kết.

3. Những vấn đề rút ra về vấn đề dân tộc và dân chủ ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có 10 vấn đề được đúc kết, trong đó cơ sở để giải quyết vấn đề dân tộc dân chủ là chủ nghĩa Mác – Lênin là cực kỳ quan trọng, đồng thời phải đặt vấn đề này phù hợp với bối cảnh quan hệ quốc tế.

4. Trong thời kỳ mới, vấn đề dân tộc dân chủ phải được giải quyết trong vấn đề chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là thước đo kiểm chứng; sự phát triển kinh tế là cơ sở bảo đảm thực hiện vấn đề dân tộc dân chủ thành công, đội ngũ cán bộ Đảng và chính quyền các cấp là yếu tố quyết định cho sự hiện thực hoá quan điểm, chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

7. Tóm tắt tham luận

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI CON ĐƯỜNG ĐỘC LẬP DÂN TỘC

GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Đại tá, TS Đặng Bá Minh

Chủ nhiệm khoa LSĐ, Học viện CT Bộ Quốc Phòng

– Từ lòng yêu nước và ý chí giải phóng dân tộc, năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã xuất dương tìm đường cứu nước. Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, trở thành người cộng sản, sáng lập Đảng ta và lựa chọn con đường cách mạng vô sản, đưa lý luận thời đại vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là nội dung cốt lõi trong hệ thống tư tưởng của Người đã góp phần to lớn đưa sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta từng bước giành thắng lợi.

– Độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội gắn liền với tự do hạnh phúc của nhân dân. Với mục tiêu và ý nghĩa đó, độc lập dân tộc và CNXH trong tư tưởng của Người giản dị nhưng vô cùng phong phú, sâu sắc và có giá trị lý luận, thực tiễn, thuyết phục cao.

– Trong thời kỳ đổi mới, sự kiên định, trung thành với tư tưởng của Người, bằng sự vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo dân tộc ta từng bước vượt qua khó khăn thách thức. Mục tiêu đổi mới định hướng đi lên CNXH là sự nghiệp vĩ đại nhất định thành công; Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh đã, đang từng bước trở thành hiện thực trên đất nước ta.

8. Tóm tắt tham luận

TÍNH DÂN CHỦ VÀ NHÂN VĂN TRONG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ                TẬP TRUNG, PHÊ BÌNH VÀ KỶ LUẬT CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN                 CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

T.S Đặng Đình Phú- Học viện Xây dựng Đảng,

Hồ Chí Minh sử dụng thuật ngữ “dân chủ tập trung” nhiều hơn “tập trung dân chủ”, nhưng nội dung, bản chất vẫn nhất quán, không trái với V.I.Lênin: Là chế độ thống nhất, hướng tới sự tập trung, tập trung trên nền tảng dân chủ và dân chủ dưới sự chỉ đạo của tập trung; toàn bộ quá trình đi tới sự tập trung phải là một quá trình dân chủ. Dân chủ đi liền với kỷ luật. Kỷ luật đảng nghiêm minh sẽ tạo nên sức mạnh và sự thống nhất ý chí, hành động,  kỷ luật đảng là kỷ luật sắt, nghiêm túc và tự giác. Để đạt đến trình độ nghiêm túc và tự giác thì phải mở rộng dân chủ.

Hồ Chí Minh luôn luôn là tấm gương mẫu mực trong việc thực hiện chế độ dân chủ tập trung. Từ quan niệm “người đời không phải là thần thánh, không ai tránh khỏi khuyết điểm”, “Đảng là người nên có sai lầm”. Đảng cách mạng cần tự phê bình và phê bình như người cần không khí. “Một Đảng mà giấu khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Tự phê bình và phê bình phải gắn với động viên, khen thưởng; xử phạt rõ ràng. Xử phạt phải đảm bảo “lý phân minh, tình trọn vẹn”; vừa nâng cao tính giáo dục và giữ vững kỷ cương.

Thực hiện tốt các điều trên chính là: Tính dân chủ, nhân văn, bao dung, độ lượng của Hồ Chí Minh.

*****

9. Tóm tắt tham luận

LĂNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC

CÓ Ý NGHĨA CHÍNH TRỊ VÀ TƯ TƯỞNG TO LỚN

Đại tá, TS Đặng Nam Điền*

Ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, thể theo nguyện vọng thiết tha của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Với sự giúp đỡ nhiệt tình, hiệu quả của Đảng, Nhà nước Liên Xô, ngày 2/9/1973, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng.  Ngày 29 tháng 8 năm 1975, chỉ sau hơn 3 tháng miền Nam hoàn toàn giải phóng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể.

Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một kỳ đài lịch sử của thế kỷ XX, là công trình của tình hữu nghị Việt Nam – Liên xô và Liên bang Nga ngày nay; là biểu tượng của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc; một kỳ quan vĩ đại của thế hệ hôm nay tặng lại cho muôn đời con cháu mai sau. như lời Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh phát biểu tại Lễ khánh thành Lăng ngày 29/8/1975: “Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là một công trình kiến trúc có ý nghĩa chính trị và tư tưởng to lớn, thể hiện tình cảm sâu sắc của đồng bào ta đối với Bác Hồ kính yêu. Đây là nơi nhân dân Việt Nam, từ thế hệ này đến thế hệ khác sẽ đến chiêm ngưỡng để tỏ lòng biết ơn Hồ Chủ tịch, quyết tâm đi theo con đường cách mạng của Người; xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh”.

Về Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với mỗi người dân Việt Nam như một nhu cầu tình cảm, một tập tục, một sinh hoạt văn hóa hiện đại  để tỏ lòng tri ân Người anh hùng Hồ Chí Minh. Đối với khách nước ngoài, Lăng Bác là một địa chỉ thiêng liêng, hấp dẫn của mỗi người khi tới Việt Nam.

Với công lao to lớn của Hồ Chí Minh, với tư tưởng đạo đức cách mạng và nhân cách trong sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi mãi xứng đáng là một con người vĩ đại nhất của dân tộc Việt Nam anh hùng.

Giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người là góp phần giữ gìn tư tưởng, đạo đức, sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời là giữ gìn một di sản vô giá của dân tộc và toàn nhân loại. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi trường tồn cùng với dân tộc và là nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của nhân dân Việt Nam và bầu bạn quốc tế.

  1. 10. Tóm tắt tham luận

NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN, NÔNG DÂN TRONG TIẾN TRÌNH

CÔNG NGHIẾP HOÁ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

TS. Đặng Văn Thái

Viện Hồ Chí Minh

– Trong tiến trinh cách mạng, nông nghiệp, nông thôn và nông dân luôn được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng nhất là trong thời kỳ quá độ lên CNXH với nhiệm vụ trọng tâm là từng bước tiến hành công nghiệp hoá. Phải bắt đầu từ phát triển nông nghiệp, phải lấy phục vụ nông nghiệp, nông thôn làm nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong tiến trình công nghiệp hoá; những quan điểm chỉ đạo khác với Liên Xô, Trung Quốc… là quan điểm sáng tạo, khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Những vấp váp, yếu kém, sai lầm trong quan niệm về công ngihệp hoá XHCN, về giải quyết  mối quan hệ công nông nghiệp từ những năm 60 đến những năm 80 của thế kỷ trước đã được Đảng ta rút ra những bài học lý luận và thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới: Đổi mới quan điểm nhận thức về công nghiệp hoá; điều chỉnh mối quan hệ công nông nghiệp, giải quyết tốt vấn đề nông thôn, nông dân, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá trong thời kỳ mới đã được các Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng ta từng bước bổ sung hoàn thiện đã thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân và các lĩnh vực đời sống xã hội nông thôn không ngừng đổi mới, tiến bộ. Thành tựu các mặt đã minh chứng giá trị khoa học thực tiễn cho tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong tiến trình công nghiệp hoá.

  1. 11. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI CÔNG CUỘC CHỐNG ĐÓI NGHÈO, THẤT HỌC,

DỊCH BỆNH ĐỂ NÂNG CAO ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN

ThS Đinh Ngọc Quý*

Sinh thời Hồ Chí Minh “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Chính vì tự do, hạnh phúc của con người mà Hồ Chí Minh đã đấu tranh không mệt mỏi cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với Hồ Chí Minh, mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động; làm cho đời sống của nhân dân ngày càng sung sướng.

Trong quan niệm của Hồ Chớ Minh “Chúng ta giành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ. Người luôn nhắc nhở: “Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân”. Chỳng ta phải luôn nhớ rằng: Điều quan trọng bậc nhất trong kế hoạch kinh tế của chúng ta hiện nay là nhằm cải thiện dần đời sống nhân dân”. Đến Di chúc, Người viết: “Đảng phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Trong sự nghiệp đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam luụn thấm nhuần và quỏn triệt tư tưởng Hồ Chớ Minh về vấn đề này để phấn đấu xõy dựng một nước Việt Nam dõn giầu nước mạnh xó hội dõn chủ cụng bằng và văn minh như Bỏc Hồ hằng mong muốn.

  1. 12. Tóm tắt tham luận

Mấy suy nghĩ về những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

TS Đinh Thế Huynh

Tổng biên tập Báo Nhân dân

Những thắng lợi lịch sử của nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã minh chứng cho sự đúng đắn, sáng suốt của Người khi lựa chọn con đường phát triển của cách mạng Việt Nam – trong cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH trên cơ sở nghiên cứu phân tích những đặc điểm tình hình Việt Nam để vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin

Những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam rất to lớn và có giá trị lý luận, thực tiễn. Đó là việc xác định và xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn trên cơ sở lý luận cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, xuất phát từ thực tiễn lịch sử Việt Nam Những cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghiã xã hội vẫn được kế thừa và vận dụng trong công cuộc Đổi mới, trong việc xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước, đoàn kết toàn dân, phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ và phồn vinh.

Trong bối cảnh thế giới mới, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị và sức sống khi cuộc đấu tranh của các dân tộc để bảo vệ độc lập, khẳng định bản sắc văn hóa, tự do lựa chọn con đường phát triển của mình.

  1. 13. Tóm tắt tham luận

ĐÓNG GÓP CỦA HỒ CHÍ MINH VỚI PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG

DÂN TỘC THẾ GIỚI TRONG THẾ KỶ XX

Đỗ Thanh Bình*

Nguyễn Thị Huyền Sâm**

Vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc là một nội dung quan trọng của lịch sử nhân loại thế kỷ XX mà trong đó tên tuổi Hồ Chí Minh đã để lại dấu ấn sâu sắc.

Người đã tiếp thu, kế thừa và phát triển sáng tạo những luận điểm về vấn đề dân tộc, cách mạng giải phóng dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định lại chân lý tất cả các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng mà đã nêu lên vấn đề dân tộc – thuộc địa ở phương Đông, khác với phương Tây. Người cũng thẳng thắn phê phán các quan điểm sai lầm về vấn đề dân tộc – thuộc địa tồn tại trong các đảng cộng sản ở châu Âu và cho rằng ở các nước thuộc địa chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước.

Hồ Chí Minh cũng có hệ thống luận điểm về cách mạng giải phóng dân tộc, đó là: cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi triệt để phải đi theo con đường của cách mạng vô sản; phải kết hợp cách mạng vô sản ở chính quốc với cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa; Cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa không bị động mà có khả năng chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc và có tác động trở lại cách mạng vô sản ở chính quốc.

Với vai trò là người tìm đường, dẫn đường giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo cách mạng vô sản thành công, Hồ Chí Minh là người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo khuynh hướng vô sản trong thế kỷ XX. Cống hiến lớn lao của Người đã làm “thức tỉnh” các dân tộc thuộc địa trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đấu tranh cách mạng.

  1. 14. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG –

KẾT HỢP TRUYỀN THỐNG VỚI HIỆN ĐẠI

GSTS: Đỗ Thế Tùng

Khi nói về đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh thường dùng những từ ngữ đã quen thuộc từ lâu đời, nhưng khi giải thích nội dung các từ ngữ ấy Người đã kế thừa những tinh hoa của đạo đức trong quá khứ và bổ xung những điều mới, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống với hiện đại.

Người coi đạo đức đối với một cán bộ cách mạng như gốc của một cái cây, không có gốc thì cây héo.

Những phẩm chất của đạo đức cách mạng rất nhiều, nhưng Người thường nêu bật bốn đức cơ bản là cần, kiệm, liêm, chính. Ngoài ra Người còn đề cập những điểm khác nữa, như trung, hiếu, nhân, nghĩa, tín, trí, dũng.

Những nguyên tắc xây dựng đạo đức mới:

Một là, nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức.

Hai là, xây phải đi đôi với chống, như cần đi đôi với chống bệnh lười biếng, vô kỷ luật. Kiệm đi đôi với chống lãng phí, xa xỉ.

Liêmchính đi đôi với chống các hiện tượng bất liêm, như nhận hối lộ, ăn trộm của công, buôn gian, bán lậu…

Ba là, phải tu dưỡng đạo đức thường xuyên, như rửa mặt hàng ngày, kiên trì, bền bỉ suốt đời. Đạo đức cách mạng do rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà có, như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Trong khi tiếp tục tìm hiểu đầy đủ và chính xác tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng phải đặt trọng tâm cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” vào làm theo. Phải khôi phục lại nét đẹp truyền thống thành khẩn tự phê bình và phê bình. Phát động một phong trào công chúng mạnh mẽ tẩy chay những kẻ bất liêm.

  1. 15. Tóm tắt tham luận

Tư tưởng về giáo dục của Hồ Chí Minh từ giác độ tiếp cận Lý thuyết xã hội hoá

ThS Đỗ Văn Quân, ThS Nguyễn Ngọc Lam

Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Khái niệm xã hội hoá dường như là đầy đủ, sâu sắc và ở tầm bao quát hơn là khái niệm giáo dục. Trong tư duy của Hồ Chí Minh về giáo dục có nhiều vấn đề Bác đặt ở tầm xã hội hoá. Chẳng hạn, tính tất yếu của quá trình xã hội hoá; mối quan hệ giữa vai trò của cá nhân và xã hội trong quá trình xã hội hoá;các đặc trưng/nội dung quá trình xã hội hoá;vai trò và sự phối hợp giữa các môi trường xã hội hoá …

Hồ Chí Minh đã có sự khẳng định quá trình từ con người sinh vật thành con người xã hội; quá trình chuyển biến từ “ác” trở nên “thiện” của con người… mà nói theo ngôn ngữ xã hội học tức là quá trình xã hội hoá- một quá trình mang tính tất yếu khách quan nhằm mục đích hoàn thiện nhân cách con người.

Mối quan hệ giữa vai trò của cá nhân và xã hội trong quá trình xã hội hoá. Khi nói về sự tác động của xã hội đối với quá trình hình thành nhân cách con người, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò/tác nhân của xã hội, nhất là với lớp người trẻ. Để mỗi con người trở thành một công dân tốt, có ích cho xã hội thì sự tác động của xã hội, đặc biệt là quá trình giáo dục có một ý nghĩa rất to lớn.

Trong tư duy của Hồ Chí Minh có khá đầy đủ các nội dung/đặc trưng của quá trình xã hội hoá. Chẳng hạn, quá trình tương tác đa chiều cùng học hỏi lẫn nhau; quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục và kéo dài suốt cuộc đời; phù hợp và tuân theo những yêu cầu mục tiêu sự mong đợi của xã hội trong từng giai đoạn khác nhau; Qúa trình xã hội hoá hướng đến sự  tự giác của cá nhân là chủ yếu…

Theo Hồ Chí Minh có 3 môi trường chính: gia đình, nhà trường, xã hội; môi trường nào cũng đều có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách vì vậy cấn có sự phối hợp của các môi trường.

Chúng ta không chỉ dừng lại ở phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh một cách truyền thống; không chỉ đặt trong bối cảnh tư duy của Việt Nam mà cần phải mạnh dạn áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại; và đặt trong bối cảnh tư duy khoa học của thế giới. Điều này sẽ gợi mở trong nhiều lĩnh vực, nội dung, tư tưởng cụ thể của Hồ Chí Minh học có thể sử dụng/áp dụng các phương pháp/lý thuyết/ khái niệm từ nhiều ngành khoa học.

  1. 16. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH – NGƯỜI CỘNG SẢN SÁNG TẠO

TS Doãn Hùng

Giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính KV I

Hồ Chí Minh  – người cộng sản sáng tạo, được thể hiện ở hệ thống tư tưởng có tính vượt gộp các tri thức của nhân loại, ở năng lực ứng dụng tư tưởng đó trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Trước hết, sự sáng tạo của Hồ Chí Minh thể hiện ở việc không thoả mãn với những nguyên lý có sẵn, mà trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin đã bổ sung, phát triển những giá trị mới, làm cho hệ tư tưởng – lý luận luôn được đổi  mới, cách mạng hoá.

Thứ hai, sáng tạo của Hồ Chí Minh thể hiện ở năng lực kết hợp “duy lý hoá” và  “giải duy lý hoá” khi hoạch định và thực thi tư tưởng – lý luận. Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh vừa có tính sáng tạo theo triết lý phương Tây, vừa không xa rời với tâm lý, tình cảm, tập quán văn hoá của con người Việt Nam, được mọi người đón nhận bằng sự chân thành và sẵn sàng dấn thân.

Thứ ba, sáng tạo của Hồ Chí Minh còn được biểu hiện ở triết lý hành động, ở kiểm chứng mọi lý thuyết trong thực tiễn và bằng thực tiễn, hiện thân nhân sinh bằng dấn thân.

Tư tưởng, nhân cách của Hồ Chí Minh trở thành một tài sản  tinh thần quý báu của dân tộc ta, trở thành vốn minh triết đối ứng trong quá trình cọ xát, đối diện, bản địa hoá các lý thuyết khác nhau trong thế giới đương đại.

  1. 17. Tóm tắt tham luận

QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ

VIỆT NAM TIÊN TIẾN, ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG ĐIỀU KIỆN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ HIỆN NAY

PGS. TS. Dương Văn Sao

Hiệu trưởng trường Đại học Công đoàn

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế mang lại những mặt tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời cũng nảy sinh nhiều hạn chế, yếu kém trong đời sống văn hoá. Kinh tế thị trường kích thích khát vọng làm giàu, lấy đồng tiền làm mục tiêu duy nhất, dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội phát sinh, đang làm xói mòn đạo đức, lối sống lành mạnh và quan hệ giàu tình nghĩa của dân tộc Việt Nam. Nhiều người đã chạy theo lối sống thực dụng, tiếp nhân xô bồ mọi thứ văn hoá ngoại lai, có hiện tượng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng, tách rời văn nghệ với chính trị và có xu hướng thương mại hoá…Điều đáng nhức nhối, là sự suy thoái về tư tưởng và đạo đức, lối sống trong một bộ phận không ít cán bộ có chức, có quyền, gây bất bình trong nhân dân, gây tổn thương đến những giá trị văn hoá của dân tộc. Thực trạng trên đang đặt ra yêu cầu cấp bách cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa bảo vệ bản sắc văn hoá dân tộc với việc tiếp nhận có chọn lọc văn hoá thế giới. Trước mắt để tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, cần tập trung thực hiện những giải pháp cơ bản sau: Một là:  Đẩy mạnh  tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò của văn hoá đối với sự phát triển những giá trị XHCN. Hai là: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực  quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các đoàn thể nhân dân, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá công tác xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Ba là: Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với xây dựng và phát triển văn hoá, xã hội. Bốn là : Xây dựng văn hoá phải bắt đầu từ mỗi con người với tư cách là chủ thể của văn hoá. Năm là:  Giữ vững và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế

Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, vun trồng những giá trị nội sinh của dân tộc, tạo cơ sở vững chắc để tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loai và thời đại, đang là yêu cầu khách quan, đòi hỏi phải tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa.

  1. 18. Tóm tắt tham luận

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ VĂN HÓA

VIỆT NAM TIÊN TIẾN ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

GS, TS Dương Xuân Ngọc

Trong di sản to lớn và vô cùng qui báu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta có tư tưởng về văn hoá, xây dựng nền văn hoá dân tộc, khoa học và đại chúng.

Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước với những thời cơ và thách thức mới, yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta cần giải quyết thành công một số vấn đề sau:

Một là, tiếp tục đổi mới công tác  tuyên truyền giáo dục văn hóa, cả về nội dung và phương pháp  nhằm tạo ra sự chuyển biến căn bản về nhận thức trong toàn xã hội, trước hết trong các cấp ủy đảng, đảng viên, cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ các đoàn thể quần chúng về tầm quan trọng, sự cần thiết cấp bách của sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hoá Việt Nam xã hội hội chủ nghĩa,

Hai là, tập trung xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống luật pháp và chính sách về văn hóa.

Ba là, củng cố, kiện toàn  tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chuyên trách trong lĩnh vực văn hoá, cũng như các tổ chức quản lý hoạt động văn hoá

Bốn là, tăng cường nguồn lực và đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động văn hóa.

Năm là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá ; đẩy mạnh quá trình thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng , nội dung, phương thức quản lý của nhà nước về văn hóa./.

  1. 19. Tóm tắt tham luận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân tộc – Cơ sở quan trọng, xuyên suốt trong quá trình phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Hà Thị Khiết*

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta, Dân tộc ta nhiều di sản tư tưởng, văn hoá có ý nghĩa giá trị nhân văn sâu sắc; trong đó Người đặt nền móng củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số và đoàn kết từng dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Đồng thời, Người là hiện thân, là tấm gương tiêu biểu nhất của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết và giúp đỡ đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một trong những cơ sở và là tư tưỏng xuyên suốt của Người trong việc thực hiện thành công Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề Bình đẳng dân tộc.

1. Bình đẳng dân tộc là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mỗi dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều bình đẳng về mọi mặt. Hiến pháp của nước ta cũng khẳng định quyền bình đẳng của các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam và được cụ thể hoá bằng chính sách dân tộc qua các thời kỳ của cách mạng.

2. Độc lập dân tộc là cơ sở, điều kiện để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Bình đẳng dân tộc và độc lập dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, độc lập dân tộc là nền tảng để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc. Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh điều đó.

3. Thực hiện bình đẳng dân tộc là nhân tố quyết định để củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

4. Xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tạo lập sự bình đẳng giữa các dân tộc. Để thực hiện quyền bình đẳng dân tộc cần phải có một xã hội mà ở đó, quyền bình đẳng giữa các dân tộc có điều kiện và cơ sở để thực hiện: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải phóng triệt để các dân tộc bị áp bức”.

5. Đảng, Nhà nước là chủ thể chính trong việc xác lập và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, các dân tộc coi nhau như anh em một nhà và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ: “Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta là: các dân tộc đều bình đẳng và đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ nhau như anh em. Đồng bào miền xuôi phải ra sức giúp đỡ đồng bào miền ngược cùng tiến bộ về mọi mặt”. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nhiệm vụ của Trung ương, Chính phủ và cấp uỷ Đảng là phải làm sao nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào các dân tộc, phải giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiếu số về mọi mặt.

  1. 20. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ KẾT HỢP ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ VIỆC VẬN DỤNG BÀI HỌC ĐÓ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

PGS, TS. Hồ Tấn Sáng

1. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh.

Yêu nước, kiên cường trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và thiên tai là truyền thống văn hoá lâu đời của người Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử giữ nước và dựng nước. Truyền thống ấy đã được Nguyễn Ái Quốc kế thừa, phát triển lên tầm cao mới khi Người kết hợp với lý luận khoa học cách mạng thời đại – Chủ nghĩa Mác Lênin – Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Được hình thành từ 1920 và đi vào thực tiễn khi Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (1930), tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trở thành ngọn cờ dẫn dắt cả dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác – Cách mạng tháng Tám thành công, 30 năm kháng chiến thắng lợi trước hai đế quốc to và tiếp tục vượt qua khó khăn thách thức trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ hội nhập – nhận thức và hành động.

Lịch sử ghi nhận chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa thay đổi trật tự thế giới, đồng thời cũng đang chứng kiến bước khủng hoảng tạm thời của CNXH và sự điều chỉnh nhận thức theo các khuynh hướng tư tưởgn khác nhau.

Bối cảnh mới của thời đại – Hội nhập và phát triển, những thách thức mới đang là thước đo kiểm chứng sự kiên định của Đảng ta, dân tộc ta với tư tưởng, con đường mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn hơn 8 thập kỷ qua. Thực tiễn đang đòi hỏi phải chủ động thực hiện nhiều giải pháp, trong đó giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nhân tố con người có vị trí cực kỳ quan trọng.

  1. 21. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHI MINH VỀ XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ

NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM – Ý NGHĨA CỦA

TƯ TƯỎNG ĐÓ VỚI SỰ NGHIỆP ĐÔI MỚI

PGS.TS. Hoàng Trang

Viện Hồ Chí Minh

Công lao lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với dân tộc là Người đã tìm ra con đường cách mạng Việt Nam và dẫn dắt nhân dân ta hiện thực hóa con đường cách mạng đó, biến dân tộc ta từ nô lệ đến tự do. Hồ Chí Minh khẳng định: “Cách mạng Việt Nam trải qua hai giai đoạn: Cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa”. Đi lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội là mục tiêu tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Hồ Chí Minh chỉ rõ điểm xuất phát đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam “Từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” thì việc tồn tại và phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ở thời kỳ quá độ là tất yếu.

Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam là một quá trình, bao gồm những quan điểm về chính sách xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần khi nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội.

Khởi xướng và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng ta lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng soi sáng thực tế xã hội nước ta và đã khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

  1. 22. Tóm tắt tham luận

PHÁT HUY TINH THẦN QUỐC TẾ TRONG SÁNG

CỦA  HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

TS. Hoàng Văn Tuệ*

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời đầy nhiệt huyết của mình cho sự nghiệp đấu tranh vì một xã hội tốt đẹp, một tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam và các dân tộc bị áp bức, vì hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc.

Người là hiện thân của tinh thần quốc tế trong sáng.Trong trái tim nhân ái của Người, nỗi đau trước cảnh đồng bào mình bị đọa đày, đau khổ hòa quyện với nỗi đau của nhân loại cần lao; khát vọng cứu nước cứu dân càng được nhân lên bởi khát vọng giải phóng nhân dân các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đã mở rộng cửa nước ta ra thế giới đưa Việt Nam hội nhập với thời đại mới, khắc phục được tình trạng “bế quan tỏa cảng” suốt bao đời của chế độ phong kiến. Đây  có thể coi như một cuộc cách mạng về quan hệ quốc tế. Hồ Chí Minh đã đặt móng, xây nên tình đoàn kết quốc tế rộng lớn của dân tộc ta với các dân tộc trên thế giới, đóng góp quan trọng vào những thành tựu vĩ đại của nhân dân Việt Nam và phong trào cách mạng quốc tế, đồng thời cũng góp phần không nhỏ vào việc thay đổi bộ mặt thế gíới.

Trong xu thế phát triển mới của thế giới hiện nay, đang tạo ra những thách thức và thời cơ cho các quốc gia, dân tộc. Đối với nước ta, cần tiếp tục học tập và vận dụng tư tưởng , phong cách Hồ Chí Minh về quan hệ quốc tế; cần  khai thác và phát huy mạnh mẽ thế mạnh của ta. Đó là: Tập trung hơn nữa thu  hút đầu tư và phát triển nguồn nhân lực; Giải quyết tốt vấn đề an ninh lương thực với sử dụng đất đai;  Giữ gìn, phát huy truyền thống và bản sắc văn hóa đậm đà của dân tộc…

  1. 23. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨCÁN BỘ CÔNG CHỨC

PGS.TS. Huỳnh Thị Gấm

Học viện CT – HC khu vực II

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều công sức, trí tuệ, tâm huyết xây dựng đội ngũ cán bộ cho cách mạng nước ta và để lại một hệ thống các quan điểm sâu sắc, có giá trị lớn về công tác xây dựng đội ngũ này.

Người nêu cao vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, cả trong tranh đấu cho độc lập tự do, lẫn trong xây dựng, phát triển đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Người đặt yêu cầu tiêu chuẩn rất cao đối với đội ngũ cán bộ là phải thực sự có “đức” và “tài”. Ngoài chuẩn mực chung, Người cũng chỉ ra những chuẩn mực cụ thể cho cán bộ trong một số ngành nghề.

Để xây dựng nhà nước trong sạch vững mạnh thì cần phải quy tụ, lựa chọn, trong dụng những cán bộ công chức thật sự vừa “hồng” vừa “chuyên”, có đức độ và tài năng. Trong quá trình xây dựng nhà nước mới, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà, Người đã có chủ trương rất đúng đắn và đặc sắc trong xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nước và để lại nhiều kinh nghiệm quý báu cho chúng ta vận dụng và phát triển. Kinh nghiệm đó được đúc kết trong những phương thức cơ bản là: phương thức chuẩn bị sớm nguồn cán bộ; huấn luyện, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức; tìm kiếm, phát hiện cán bộ tốt và nhân tài, chiêu hiền đãi sĩ; phát hiện cán bộ từ trong hoạt động thực tiễn; phương thức sử dụng viên chức quan lại cũ; thi tuyển cán bộ công chức; sử dụng cán bộ;..

Đảng ta đã tiếp thu, kế thừa, vận dụng những quan điểm nổi bật, những phương thức cơ bản trong xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ công chức nhà nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức nhà nướccủa dân, do dân vì dân với nền hành chính trong sạch vững mạnh, dân chủ hiện đại và hiệu quả sắp tới. /.

  1. 24. Tóm tắt tham luận

TỪ VĂN HÓA HỒ CHÍ MINH ĐẾN VĂN HÓA ĐẢNG.

TS Lê Hanh Thông

Tạp chí khoa học chính trị – Học viện CT-HC khu vực II

1.Văn hóa Hồ Chí Minh

Văn hóa Hồ Chí Minh được hình thành nên trên cơ sở chủ nghĩa nhân văn, lòng nhân đạo, sự đồng cảm giữa con người với con người và vượt lên trên hết là tình hữu ái giai cấp.

Sinh ra trong cảnh đất nước bị giặc ngoại xâm giày xéo, Người đã sớm có lòng yêu nước, đồng cảm với quần chúng lao khổ. Trong quá trình ra đi tìm đường cứu nước, nhận thức được bản chất của chủ nghĩa thực dân, đồng cảm với những người dân lao động. Tình cảm, lòng yêu thương đối với con người trong Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở lòng yêu nước, thương dân đối với dân tộc mình, mà đã trở thành tình thương yêu đồng loại, giai cấp.

Chủ nghĩa nhân văn trong văn hóa Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở sự đấu tranh để giải phóng cho con người, đưa con người tới tự do, hạnh phúc mà còn là sự mong muốn con người vươn đến những sự tốt đẹp hơn.

2. Từ văn hóa Hồ Chí minh đến văn hóa Đảng.

Văn hóa Đảng được thể hiện đó là bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, mục tiêu, lý tưởng của Đảng thông qua mối quan hệ giữa đảng với xã hội, với quần chúng nhân dân; thông qua những con người cụ thể của đảng là các đảng viên, các tổ chức cơ sở đảng. Văn hóa đảng là nền tảng đảm bảo cho đảng phát triển vững mạnh, thực hiện được vai trò lãnh đạo của mình đối với xã hội.

Coi văn hóa đảng là sức mạnh, nên ngay từ khi thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã hết sức chú trọng đến việc giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, giáo dục đạo đức tư tưởng cho Đảng viên, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Người coi đó là nền tảng để tạo nên sức mạnh cho Đảng, nâng cao uy tín của đảng trong xã hội. Ngày nay để đảng có đủ uy tín, năng lực lãnh đạo xã hội, đảng phải tự đổi mới, chỉnh đốn để thật sự trong sạch, vững mạnh.

  1. 25. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH – NGƯỜI MỞ RA KỶ NGUYÊN

ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA NƯỚC VIỆT NAM MỚI

PGS.TS. Lê Văn Yên

NXB. Chính trị quốc gia

Với những sự kiện lịch sử và tư liệu mới thu thập được, chúng ta càng có điều kiện phân tích, lý giải một cách khoa học ý nghĩa, tầm vóc và giá trị đích thực của cuộc Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam mới, gắn liền với những hoạt động sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga ảnh hưởng quyết định đến chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt tiếp xúc với Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Người hướng về nước Nga và Lênin, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Năm 1920, Người trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đi theo con đường của Lênin.

Ngày 3-2-1930, Người thàản nh lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời của Đảng với cương lĩnh “cách mạng tư sản dân quyền”, sau này gọi là cách mạng dân chủ nhân dân, mở ra bước ngoặt mới có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc ta.

Kịp thời nắm thời cơ, Người phát động cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mở đầu kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập tự do của nhân dân Việt Nam. Bản Tuyên ngôn không chỉ khẳng định những nguyên tắc pháp lý về độc lập dân tộc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, mà còn khẳng định quyền dân tộc và quyền cơ bản của con người.

Cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh là từ quan điểm gắn độc lập của dân tộc với tự do của con người, gắn quyền dân tộc thiêng liêng với quyền cơ bản của con người. Cũng từ thực tiễn cuộc đấu tranh thắng lợi của nhân dân Việt Nam, hai khái niệm pháp lý trên đã được phát triển thành khái niệm mới là quyền dân tộc cơ bản

Thành công của Cách mạng Tháng Tám gắn liền với những hoạt động sáng tạo của Hồ Chí Minh, chứng minh tính đúng đắn và khoa học của những tư tưởng cách mạng của Người trong thời đại mới. Đó không chỉ là chân lý mà còn là minh chứng điển hình bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm hạ thấp ý nghĩa trọng đại của Cách mạng Tháng Tám cùng những tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

  1. 26. Tóm tắt tham luận

BẢN CHẤT VĂN HÓA CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

ThS Lương Thùy Liên

Văn hóa được tiếp cận dưới góc độ giá trị, thống nhất của ba hệ giá trị Chân, Thiện, Mỹ – đúng, tốt và đẹp. Chính trị được đề cập đến như một phạm trù lịch sử cũng với những tính chất của nó. Trên cơ sở đó khái quát bản chất văn hoá của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh và phân tích rõ một số biểu hiện cụ thể của bản chất này:

– Tinh thần yêu tha thiết hòa bình và nỗ lực tìm kiếm giải pháp hòa bình cho cách mạng Việt Nam.

– Tinh thần khoan dung sâu sắc.

– Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh là văn hoá của sự phát triển.

Bản chất văn hoá của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh có giá trị lý luận và thực tiễn trong công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam và đoàn kết các lực lượng tiến bộ trên thế giới tiến tới một tương lai hòa bình, hợp tác và phát triển.

  1. 27. Tóm tắt tham luận

ĐẤU TRANH VÌ QUYỀN CON NGƯỜI – MỘT ĐÓNG GÓP XUẤT SẮC CỦA HỒ CHÍ MINH VỚI CUỘC ĐẤU TRANH

VÌ SỰ TIẾN BỘ CỦA NHÂN LOẠI

ThS Lý Việt Quang*

Quyền con người (nhân quyền) gắn liền với sự phát triển của lịch sử nhân loại. Đây là một tiêu chí quan trọng phản ánh sự tiến bộ, văn minh của nhân loại qua những nấc thang lịch sử. Nó vừa mang tính phổ biến, là những tiêu chí chung của cộng đồng quốc tế, vừa mang tính đặc thù, thể hiện đặc điểm, điều kiện riêng của mỗi quốc gia, dân tộc.

Điểm nổi bật trong cuộc đấu tranh của Hồ Chí Minh vì quyền con người là Người thực hiện cuộc đấu tranh xuất phát từ vị trí một người dân thuộc địa. Có thể hiểu đóng góp của Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh vì quyền con người là một bộ phận trong thành tựu chung của cuộc đấu tranh vì quyền con người ở thời đại các dân tộc thuộc địa, bị áp bức thức tỉnh, vùng dậy giành lại quyền sống, quyền làm người, quyền lựa chọn con đường phát triển phù hợp với truyền thống, nguyện vọng của dân tộc và xu thế mới của thời đại.

Cống hiến của Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh vì quyền con người được thể hiện qua sự phê phán, lên án tình trạng chủ nghĩa tư bản thực dân chà đạp tàn bạo, có hệ thống lên quyền con người ở các thuộc địa nói chung, Việt Nam nói riêng; thể hiện qua tư tưởng về các quyền cơ bản của con người, từ quyền dân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội, cuộc sống vật chất và tinh thần, đến quyền của đời sống tâm linh, từ quyền của nam giới, của người lớn, đến quyền của phụ nữ, của trẻ em. Xuất phát từ hiện thực xã hội Việt Nam – một xã hội thuộc địa và từ thân phận là một người dân mất nước, trong các quyền con người, Hồ Chí Minh chú trọng hơn hết và trước hết đến quyền được sống trong độc lập, tự do của mỗi người dân.

Nội dung của các công ước, tuyên bố quốc tế về quyền con người trong mấy thập kỷ qua và gần đây cho thấy những đóng góp của Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh vì quyền con người vẫn có ý nghĩa thời sự đối với Việt Nam và thời đại ngày nay.

  1. 28. Tóm tắt tham luận

ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH

MỘT CÁCH NHÌN ĐƯƠNG ĐẠI

GS,TS MẠCH QUANG THẮNG

Sau khi nêu lên triết lý phát triển từ đạo đức Hồ Chí Minh xuất phát từ cách tiếp cận với văn hóa học, tác giả bài viết đi sâu phân tích những nội dung đạo đức Hồ Chí Minh như là thông điệp cho thời đại ngày nay.

1. Lòng nhân ái. Tình thương yêu, quý trọng con ng­ười tr­ước hết Hồ Chí Minh dành cho những ng­ười bị áp bức, bóc lột, những ngư­ời cùng khổ. Hồ Chí Minh chú ý tới phát triển con người, không những giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến mà còn ở chỗ tìm cách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người. con người phát triển toàn diện vươn tới vương quốc của tự do.

2. Trung với nước, hiếu với dân. Hồ Chí Minh cho rằng, ng­ười cách mạng phải đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết và tr­ước hết. Hiếu với dân là nội dung rất cơ bản trong quan niệm của Hồ Chí Minh trong cái cặp chỉnh thể “Trung với nước hiếu với dân”, trong đó có hiếu với cha mẹ mình, và nói rộng ra là tình họ hàng. Chữ “hiếu” theo quan niệm của Hồ Chí Minh tích cực hơn quan niệm Nho giáo là bởi vì hiếu với dân không ngăn trở con ngư­­ời ta làm tròn đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ cũng như­ tình huynh đệ.

3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là một nội dung của cái gốc đạo đức, cái gốc của sự phát triển trong triết lý hành động của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh là người nói nhiều đến cá nhân nhưng không sa vào chủ nghĩa cá nhân; nói nhiều đến đạo đức và sự nghiêm minh của pháp luật nhưng không tuyệt đối hoá một cái nào mà ở Hồ Chí Minh có sự gắn kết nhuần nhuyễn giữa “đức trị” và “pháp trị”.

4. Vì dân tộc, vì thế giới, quảng giao để phát triển. Cái gốc của sự phát triển, triết lý phát triển của Hồ Chí Minh còn là ở cái tinh thần quảng giao trên một tinh thần “tứ hải giai huynh đệ”. Đó cũng là cái nền của đạo đức. Hồ Chí Minh đã đưa đất nước Việt Nam mở cửa ra với thế giới.

  1. 29. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ  MINH  VỚI GIÁ TRỊ DÂN CHỦ CỦA CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

PGS.TS Ngô Đăng Tri([1])

Hồ Chí Minh đi ra nước ngoài năm 1911 là tìm đường cứu nước và cứu dân, thỏa mẵn được hai mục tiêu: vừa giải phóng được dân tộc khỏi ách thống trị nước ngoài, vừa cứu được nhân dân khỏi ách áp bức bóc lột. Hồ Chí Minh đã chọn con đường cách mạng vô sản.

Những năm 1930-1945, dù có lúc thế này, lúc thế khác song, trước sau Đảng và Hồ Chí Minh đều kiên trì tư tưởng cách mạng dân tộc, dân chủ, luôn hướng tới mục tiêu giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc Tổng khởi nghiã Tháng Tám năm 1945 đã được lịch sử ghi nhận là cuộc Cách mạng Tháng Tám và thừa nhận người lãnh đạo nó là Hồ Chí Minh, không chỉ là một Chiến sĩ cách mạng quốc tế lỗi lạc, Anh hùng giải phóng dân tộc mà còn là một Danh nhân văn hóa, một Nhà dân chủ  kiệt xuất của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới.

Hơn lúc nào hết, cần nhận thức lại một cách toàn diện, sâu sắc tính chất, ý nghĩa dân chủ của cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945, thấm nhuần sâu sắc hơn giá trị dân chủ, nhân quyền, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong cuộc cách mạng ấy để phát huy vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay./.

  1. 30. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH – CHIẾN SĨ TIÊN PHONG ĐẤU TRANH VÌ HÒA BÌNH, HỮU NGHỊ VÀ TIẾN BỘ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ NHÂN LOẠI

PGS, TS Nguyễn Bá Linh

Việt Nam là một dân tộc có truyền thống yêu hòa bình. Hồ Chí Minh là một người con của dân tộc đã kế thừa và phát triển truyền thống quý báu đó vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Song ở thế kỷ XX Việt Nam còn là một thuộc địa của đế quốc Pháp. Vì vậy, Hồ Chí Minh sớm khẳng định “Muốn hòa bình thật sự thì phải có độc lập thật sự và đấu tranh cho độc lập dân tộc tức là đấu tranh bảo vệ hòa bình”[2].

Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh bao giờ cũng chủ trương ôn hòa, đấu tranh bằng phương pháp hòa bình hơn là chiến tranh bằng cách thức tỉnh nhân dân, giáo dục nhân dân hiểu được ý nghĩa của độc lập, tự do để họ đứng lên “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Trong Tuyên ngôn Độc lập (2-1945) Hồ Chí Minh viết “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. “Khi thực dân phản động Pháp đưa quân xâm lược Việt Nam; giữa hai giải pháp hòa bình và bạo lực, Hồ Chí Minh chọn giải pháp hòa bình. Người chấp nhận nhân nhượng: Ký Hiệp định 6-3. Mặt khác không quản nguy hiểm, Người sang tận thủ đô nước Pháp để tìm kiếm hòa bình và ký tạm ước 14-9-1946 hòa hoãn thêm thời gian. Trong các thư gửi nhân dân Pháp, Người nhấn mạnh: Việt Nam không chiến tranh chống nước Pháp mà chỉ muốn hai dân tộc cộng tác thật thà (2-1-1947). Nước Pháp chỉ cần nói một câu là chiến sự đình chỉ ngay tức khắc (18-2-1947). Tất cả thiện chí của Hồ Chí Minh không được Chính phủ Pháp lúc đó đáp lại chân tình, chiến tranh đã nổ ra.

Trong lời kêu gọi kháng chiến (19-12-1946) Hồ Chí Minh viết :”Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”[3]. Toàn dân Việt Nam đã thực hiện lời kêu gọi kháng chiến của Hồ Chí Minh  thực hiện kháng chiến, kiến quốc đã đưa đến thắng lợi Điện Biên Phủ, lập lại hòa bình ở Đông Dương theo Hiệp nghị Giơ-ne-vơ.

Từ ngày Mỹ đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 46 lần gửi thư cho các Tổng thống Mỹ và trả lời phỏng vấn của các nhà báo Mỹ  khẳng định chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của đất nước và quyền chống xâm lược.

Trong thư gửi Tổng thống Giôn-xơn, Hồ Chí Minh viết: ”Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất thiết tha với độc lập, tự do và hòa bình. Chính phủ Mỹ gây ra chiến tranh xâm lược Việt Nam thì con đường đưa đến hòa bình ở Việt Nam là Mỹ, phải chấm dứt xâm lược”[4]. Sau thất bại thảm hại ngày 21-1-1973 Mỹ ký Hiệp định Pa-ri, chịu rút hết quân đội ra khỏi miền Nam Việt Nam, hòa bình trở lại ở Đông Dương.

Trong khi đấu tranh cho hòa bình, độc lập tự do, Hồ Chí Minh đã hướng tới một tương lại vì sự phát triển hòa bình, hữu nghị về hợp tác lâu dài bền vững giữa các dân tộc. Người bao giờ cũng chủ trương hòa bình nhưng chỉ có thống nhất độc lập mới có hòa bình thật sự. Ngay sau ngày tuyên bố độc lập (Hồ Chí Minh đã gửi thư cho ngoại trưởng Mỹ Giêm Biêcnơ (01-11-1945) đặt vấn đề “mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ có sự hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam”[5].

Cùng những ngày đầu kháng chiến, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Hội đồng Bảo an liên hiệp quốc, trình bày rõ chính sách đối ngoại hòa bình của nước Việt Nam mới [6].

Từ ngày hòa bình và thống nhất đất nước, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, Đại hội lần thứ VI và các Đại hội tiếp theo, Đảng cộng sản Việt Nam chủ trương đổi mới lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động: đổi mới nhưng không đổi màu, đổi hướng, hội nhập nhưng không hòa tan nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của bè bạn quốc tế để “xây dựng nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” như Hồ Chí Minh đã vạch ra trong Di chúc. Chính vì vậy, Hội nghị toàn cầu các quốc gia hòa bình họp ở Mỹ tháng 11-2009 công nhận : Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hòa bình nhất thế giới”.

  1. 31. Tóm tắt tham luận

SỰ SÁNG TẠO CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG

HÀNH TRÌNH TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC ĐẦU THẾ KỶ XX

TS Nguyễn Đình Cả

Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh

Lòng yêu nước, ý chí giải phóng dân tộc là động cơ thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc đi tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo của Người thể hiện như sau:

–  Tự ra đi tìm đường cứu nước, không dựa dẫm vào nước nào; không nhờ vả, kêu gọi người khác giúp mình.

– Đi vào cuộc sống thực tiễn, bằng lao động để mở mang nhận thức tìm ra chân lý.

– Tham gia hoạt động chính trị, tiếp cận các trường phái cách mạng, các luồng tư tưởng; khảo nghiệm thực tiễn để chọn con đường đúng.

“Hãy làm đi khi chúng tôi còn trẻ” – Câu ngạn ngữ phương Tây rất đúng với thực tiễn cuộc đời Hồ Chí Minh. Người đã hiến dâng tuổi trẻ, bằng sự dũng cảm, sáng tạo đã  làm nên một Nguyễn Ái Quốc – ngôi sao sáng nhất trên bầu trời cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.

Sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc trong hành trình tìm đường cứu nước đang song hành với cả dân tộc trong thế kỷ XXI. Người anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh đã mang lại cho dân tộc ta con đường cứu nước, cứu nhà. Lẽ nào Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cứu được nước nhà thoát khỏi nô lệ lầm than để đến với độc lập hoà bình mà chúng ta lại không xây dựng được đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như ý nguyện dang dở của Người.

  1. 32. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI QUYÊN CON NGƯỜI.

TS.Nguyễn Đức Thùy

Hồ Chí Minh sớm tiếp xúc với tư tưởng nhân quyền của Cách mạng Pháp, đó là lý tưởng cao quý,  dành cho ít người. Nghiên cứu các nước: Người khẳng định không có các quyền con người cơ bản ở các nước thuộc địa. Có độc lập dân tộc mới có thể có quyền con người. “ Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, là chân lý của thời đại, là cống hiến quan trọng của Hồ Chí Minh.

Theo Hồ Chí Minh, chỉ có các quyền tự do của cá nhân và độc lập dân tộc là chưa đủ để bảo đảm cho nhân dân  lao động được hưởng hạnh phúc.  Do vậy, phải thực hiện cách mạng dân chủ mới, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mới giải phóng được nhân dân lao động và các dân tộc khỏi ách nô lệ.  Độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là  điều kiện và tiền đề cơ bản để giải phóng triệt để con người, là sự phát triển sáng tạo, đóng góp lý luận lớn của Hồ Chí Minh. Thắng lợi của Cách mạng tháng 8-1945 và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1975; sự thành lập nước Việt Nam Dân chủ  Cộng hòa và sau là Cộng hòa XHCN Việt Nam đã tạo ra tiền đề cơ bản cần thiết để thực hiện và phát triển quyền con người một cách toàn diện. Bảo đảm và phát triển quyền con người ở Việt Nam hiện nay gắn liền với xây dựng và phát triển chế độ xã hội mới, chủ nghĩa xã hội, Nhà nước dân chủ, pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

  1. 33. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH – NHÀ NHÂN VĂN CHỦ NGHĨA LỖI LẠC CỦA DÂN TỘC VÀ THỜI ĐẠI

PGS,TS. Nguyễn Hồng Sơn*

Hồ Chí Minh – Nhà nhân văn chủ nghĩa lỗi lạc của dân tộc và thời đại. Bản chất của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh được biểu hiện tập trung ở các đặc trưng chủ yếu sau đây:

Tôn trọng quyền tự do, dân chủ và đề cao các phẩm chất cao quý của con người. Đây là đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh.

Tinh thần nhân ái và bao dung của con người với con người. Có thể nói trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lòng yêu thương đối với con người, lòng vị tha đối với đồng loại là một nét nổi bật nhất.

Tư tưởng giải phóng con người, tất cả vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, toàn diện, tự do của con người. Yêu thương con người, tôn trọng những phẩm giá cao quý của con người xét đến cùng là để giải phóng con người, đem lại hạnh phúc và tự do cho mọi người.

Có thể khái quát về bản chất chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong một luận điểm ngắn gọn của chính Người: “Nhân văn là nhân nghĩa mà “nhân nghĩa là nhân dân””…

  1. 34. Tóm tắt tham luận

TRIẾT LÝ HÀNH ĐỘNG HỒ CHÍ MINH

GS.TS Nguyễn Hùng Hậu

Triết lý hành động là triết lý và hành động, nói và làm, lý luận và thực tiễn liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau. Sự xuất hiện của triết học Mác đã tạo ra một cuộc cách mạng trong triết học vì nó không chỉ giải thích mà còn cải tạo thế giới bằng hoạt động thực tiễn của con người.

Triết lý hành động Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa những tinh hoa của triết học Đông Tây kim cổ mà còn kế thừa những điểm tinh tuý của triết học Mác- Lênin và đưa triết lý hành động lên tầm cao mới.

Triết lý hành động của Người thể hiện rõ nhất trong tư tưởng :”Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Dĩ bất biến ứng vạn biến tức là lấy cái bất biến (không thay đổi) mà ứng phó với cái vạn biến (cái luôn thay đổi).

Vậy, cái bất biến ở Hồ Chí Minh là gì? Cái bất biến lớn nhất ở Hồ Chí Minh được tập trung ở bốn cái liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau, đó là độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ. Mặc dù bốn yếu tố này nằm trong mối liên hệ mật thiết, không tách rời nhau, nhưng nhìn chung chúng lại chia ra làm hai cấp độ, một bên là độc lập, còn bên kia là tự do, hạnh phúc, dân chủ. Hai cấp độ này không tách rời nhau vì nếu có cái thứ nhất mà không cá cái thứ hai thì cái thứ nhất cũng trở nên vô nghĩa. Theo Người, có độc lập mà dân không được hưởng tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng để làm gì. Ngược lại, muốn có cái thứ hai thì đầu tiên, trước hết phải có cái thứ nhất. Cái thứ nhất là tiền đề không thể thiếu được, nhưng cái thứ hai mới là mục đích cuối cùng. Từ lôgíc đó, Người đã gắn giải phóng dân tộc với chủ nghĩa xã hội- tư tưởng trung tâm, cốt lõi của Người.

Triết lý ”Dĩ bất biến ứng vạn biến” đồng thời cũng là triết lý hành động, gắn với hành động.

Mỗi triết lý hành động đồng thời cũng là một triết lý sống, qui định một phong cách sống tương ứng. Triết lý hành động ”Dĩ bất biến ứng vạn biến” đồng thời cũng là triết lý sống “Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm” (Lấy tâm của mọi người làm tâm của mình).

Với triết lý sống “Dĩ chúng tâm vi kỷ tâm” đã khiến cho Bác và Đảng ta ngoài lợi ích của nhân dân không còn lợi ích nào khác.

Ở Hồ Chí Minh không chỉ triết lý gắn với hành động, đi liền với hành động mà ngược lại, ngay hành động cũng nói lên triết lý. Như vậy, ở Người, triết lý và hành động gắn liền mật thiết, chặt chẽ với nhau, triết lý hướng đến hành động, hành động nói lên triết lý, trong triết lý đã bao hàm xu thế hành động, trong hành động có triết lý, triết lý và hành động xoắn xít với nhau tạo nên triết lý hành động Hồ Chí Minh mà không phải vĩ nhân nào cũng có được.

  1. 35. Tóm tắt tham luận

§µo t¹o ng­êi c¸n bé  trong di s¶n Hå ChÝ Minh

( t×m hiÓu qua x©y dùng lùc l­îng c«ng chøc)

GS TS Nguyễn Hữu Khiển

Hồ Chủ tịch là lãnh tụ của Việt Nam, là nhà văn hóa của thế giới. Với cương vị là người đứng đầu Nhà nước Người luôn chăm lo đến đội ngũ công chức sao cho hết lòng phụng sự dân tộc và nhân dân.

Người nhận định : một dân tộc dốt là một dân tốc yếu: Dốt và yếu đi liền với nhau, kế sách chấn hưng dân tộc bằng chính những người dân có học nhưng phải là người có đức: Tài và đức. Đối với chế độ, Người nói: Cán bộ phải là công bộc của dân. Những giáo huấn của Chủ tịch HCM về việc học và cách học của cán bộ đến hôm nay còn nguyên giá trị. Khoa học và thực tiễn cán bộ cần thực hiện những huấn thị đó.

Cần nghiên cứu thấu đáo và thiết thực để thực thi có hiệu quả những giáo huấn có tính di sản của vị Lãnh tụ, người đứng  đầu đất nước nhằm xây dựng đội ngũ công chức cán bộ có đủ năng lực và phẩm chất cho ngày hôm nay.

  1. 36. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG DÂN TỘC,
HÒA BÌNH, HỮU NGHỊ, PHÁT TRIỂN VÌ TIẾN BỘ
CỦA VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

Nguyễn Mạnh Cầm[7]

Bài tham luận đã phân tích 5 vấn đề nổi bật trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, hoà bình, hữu nghị và phát triển vì tiến bộ của Việt Nam và thế giới.

Trước hết, đó là tư tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh sớm nắm bắt được xu thế phát triển của thời đại nên đã đúc kết đường lối cứu nước và giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản. Con đường này bắt đầu từ cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới do đảng tiên phong của giai cấp công nhân lãnh đạo nhằm đánh đổ thực dân, đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, tiếp đó là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam.

Thứ hai, Hồ Chí Minh là hiện thân của tư tưởng đối ngoại vì hoà bình, hữu nghị và tiến bộ của nhân loại. Tư tưởng này thể hiện trong chủ trương tập hợp lực lượng rộng rãi, đoàn kết rộng rãi các dân tộc cùng chung số phận và quan điểm về đa dạng hóa quan hệ quốc tế, làm bạn với tất cả các nước và thực sự đây là những ý tưởng vượt thời đại. Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc thấm đượm trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.

Thứ ba, Hồ Chí Minh đã đặt nền móng cho triết lý về phát triển và hợp tác cùng phát triển. Ngay từ giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã có cái nhìn khoa học và hiện đại về phát triển, trong đó có những vấn đề mà nhiều lý thuyết phát triển ngày nay đang đặt ra như phát triển bền vững, phát triển nhân văn, mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, nội sinh và ngoại lực, kinh tế và xã hội, vật chất và tinh thần, hiện tại và tương lai.

Thứ tư, Hồ Chí Minh từ rất sớm đã đưa ra tư tưởng nhân văn về bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền trẻ em, bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ. Quan điểm “trồng cây” và “trồng người” của Hồ Chí Minh thể hiện ẩn ý sâu xa của Người về mối quan hệ con người – thiên nhiên trong sự hài hoà và trường tồn của vũ trụ, cũng như mối quan hệ hiện tại – tương lai. Người rất yêu mến trẻ em và luôn quan tâm đến vấn đề học tập, vấn đề đào tạo và giáo dục thiếu niên, nhi đồng cho cho các em phát triển một cách toàn diện. Hồ Chí Minh cũng quan tâm đến việc giải phóng phụ nữ thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ. Người cho rằng: Trong sự nghiệp cách mạng nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người; nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa.

Thứ năm, vấn đề vận dụng tư tưởng hoà bình, hữu nghị và tiến bộ của Hồ Chí Minh trong công cuộc hội nhập để phát triển hiện nay. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng tiên phong theo xu hướng mở cửa, đa dạng hoá quan hệ với nước ngoài, tăng cường hữu nghị và hợp tác với các nước để phát triển đất nước và để cùng phát triển thông qua việc khai thác đầu tư, thúc đẩy buôn bán trên cơ sở xem lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia là cao nhất. Trong công cuộc đổi mới chúng ta đã giành được thắng lợi có ý nghĩa lịch sử do vận dụng đúng đắn tư duy đối ngoại của Hồ Chí Minh.

  1. 37. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI CUỘC ĐẤU TRANH
VÌ HÒA BÌNH HỮU NGHỊ GIỮA CÁC DÂN TỘC

GS TS Nguyễn Ngọc Cơ

Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc – danh nhân văn hóa thế giới. Cả  cuộc đời Hồ Chí Minh đã hiến dâng cho sự nghiệp đấu tranh cho hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc.

Sinh trư­ởng trên mảnh đất Nghệ An giàu truyền thống yêu nư­ớc, lại kế thừa tinh thần khoan dung, hòa hiếu , nhân nghĩa của cha ông ta,nên từ rất sớm  Nguyên ái Quốc – Hồ chí minh đã có những cảm thông sâu sắc đối với những ng­ười cùng cảnh ngộ.

Sau này , khi ra đi tìm đư­ờng cứu n­ước, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã  có dịp gặp gỡ những ngư­ời anh em ở bốn phư­ơng trời  và tìm cách  đoàn kết  họ lại , “ hợp thành một nhà” , đấu tranh để giành quyền sống và quyền  tự do.

Ra đi từ lòng yêu nư­ớc, yêu th­ương đồng loại, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Lê nin và nhận thấy chủ nghĩa Mác Lê nin là “chủ nghĩa nhân đạo hiện thực”.

Suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh đã phấn đấu không mệt mỏi để xây dựng một nền hòa bình, hòa mục cho dân tộc Việt Nam  và  cho các dân tộc khác trên thế giới.

Trong tư­ t­ưởng Hồ Chí Minh, hòa bình là điều vô cùng quý báu , như­ng để có hòa bình thực sự thì phải thiết lập tình đoàn kết , hữu nghị giữa các dân tộc.Nội dung tư­ t­ưởng hòa bình ở Hồ  Chí Minh đã gặp gỡ những quan điểm về hòa bình của nhân dân thế giới.

Tư­ t­ưởng Hồ Chí Minh về hòa bình vì vậy , có tính chiến đấu cao. Người kiên quyết đấu tranh cho một nền hòa bình chân chính ; muốn giải quyết tất cả những xích mích , xung đột dân tộc , sắc tộc, tôn giáo … bằng con đư­ờng thư­ơng l­ượng. Tinh thần Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các n­ước, không phân biệt chế độ chính trị, xã hội …ở Hồ chí Minh đã trở thành một nguyên tắc nhất quán trong các quân hệ đối nội , đối ngoại của Đảng và Chính phủ Việt Nam ngày nay.

Hòa bình phải gắn với độc lập dân tộc, với hạnh phúc của nhân dân .

Đó là hai vấn đề có quan hệ khăng khít với nhau. Vì thế đấu tranh cho hòa bình là nhiệm vụ chung của cả loài ng­ời tiến bộ.

Hòa bình, hữu nghị phải trên cơ sở hợp tác thân thiện và thành thật; phải tôn trọng lẫn nhau trên cơ sở độc lập , chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Tư­ t­ưởng Hồ Chí Minh về hòa vình , hữu nghị giữa các dân tộc, thực sự là một di sản quý giá, không chỉ đối với Đảng ta, nhân dân ta mà còn đối với tất cả nhân dân các dân tộc yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới.

  1. 38. Tóm tắt tham luận

ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

PGS, TS. Nguyễn Quốc Phẩm

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Đó cũng là nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, cống hiến to lớn về lý luận và thực tiễn của Người. Đó là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam do Hồ Chí Minh lựa chọn.

Hồ Chí Minh từng đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” và chỉ rõ: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và người lao động toàn thế giới khỏi ách nô lệ”. Xu thế phát triển của thời đại cũng phản ánh tính tất yếu của việc gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

Phân tích những trước tác cũng như những hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy được sự gắn bó hữu cơ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tư tưởng của Người: độc lập dân tộc là điều kiện, tiền đề để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa xã hội đến lượt nó làm điều kiện để bảo đảm độc lập dân tộc lâu dài, bền vững.

Công cuộc đổi mới ở Việt Nam hơn 20 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Một trong những bài học lớn là: “trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

  1. 39. Tóm tắt tham luận

BÀI VIẾT “TƯ TƯỞNG VÀ LÝ LUẬN HỒ CHÍ MINH
VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VIỆT NAM”

PGS, TS Nguyễn Thanh Tâm

Viện Lịch sử Đảng

Quán triệt quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin về CNXH và quy luật phổ biến về xây dựng xã hội XHCN, tư tưởng, lý luận Hồ Chí Minh về CNXH Việt Nam có những điểm sáng tạo phù hợp với truyền thống dân tộc, đặc điểm xã hội và điều kiện đất nước Việt Nam. Đó là giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp công nhân, cách mạng dân tộc dân chủ gắn với cách mạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đi lên xã hội cộng sản là một tất yếu lịch sử, tư tưởng. Đó là không có gì quý hơn độc lập tự do, là độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, là hoà bình, dân chủ và là cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dâ, là xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh để không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Xây dựng CNXH Việt Nam là một cuộc cải biến toàn diện, to lớn, sâu sắc về thể chế chính trị từ cộng hoà dân chủ lên CNXH; nền kinh tế – xã hội với quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất tiên tiến, văn hoá và con người XHCN. Xây dựng CNXH Việt Nam phải dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, dựa vào nhân dân, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển khoa học, kỹ thuật và có Đảng Cộng sản luôn tự chỉnh đốn, đổi mới lãnh đạo.

Theo tư tưởng, lý luận Hồ Chí Minh, Đảng ta nhận thức ngày một rõ hơn CNXH Việt Nam, thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng. Bổ sung Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH là một nhiệm vụ trọng tâm của Đảng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI tới.

  1. 40. Tóm tắt tham luận

T­Ư TƯ­ỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC

CỦA CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

PGS,TS Nguyễn Thế Thắng*

1. Vừa có tính nguyên tắc cứng rắn vừa có biện pháp thực hiện linh hoạt, mềm dẻo. Cương lĩnh, mục tiêu, quan điểm cơ bản của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nguyên tắc làm việc phải giữ vững, không thay đổi. Các hình thức, biện pháp, bước đi thực hiện  phải  mềm dẻo, biến hóa linh hoạt thích hợp với những điều kiện lịch sử và con người cụ thể .

2. Kết hợp tính nhiệt tình cách mạng với tính khoa học. Say mê, hết sức tận tuỵ với công việc, đồng thời phải có tri thức khoa học, chuyên môn, kỹ năng lãnh đạo, quản lý, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.

3. Kết hợp tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách và quyết đoán. Làm việc dân chủ tập thể nhưng quyết đoán, dám chịu trách nhiệm cá nhân, kịp thời đưa ra những quyết định đúng.

4. Thống nhất lý luận với thực tiễn, tư tưởng gắn với hành động, nói đi đôi với làm. Lấy kết quả công việc, sản xuất và chiến đấu để đánh giá phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý. Chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả.

5. Phong cách làm việc quần chúng. Sống và làm việc sâu sát với thực tế, cơ sở, gần gũi với cấp dưới và nhân dân, thấu hiểu và chia sẻ tâm tư, nguyện vọng, niềm vui và nỗi vất vả của họ, làm cho dân tin, dân yêu, dân phục, dân theo, dân ủng hộ.

6. Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Mỗi cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là người công bộc chân chính của nhân dân

  1. 41. Tóm tắt tham luận

“MỘT DÂN TỘC DỐT LÀ MỘT DÂN TỘC YẾU”
– CHÂN LÝ CỦA THỜI ĐẠI

GS, TS. Nguyễn Thị Doan*

Cha ông ta đã khẳng định “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu và thấp kém”. Lênin đã chỉ rõ “không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội” và Người yêu cầu mọi người phải luôn luôn “học, học nữa, học mãi”.

Lời kêu gọi bất hủ “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý của thời đại. Trong thực tiễn của cách mạng,  Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn xa trông rộng, quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo,  từng bước xây dựng đất nước ngày càng phát triển về mọi mặt.

Thực hiện lời dạy của Bác, từ khi đất nước thống nhất (1975), sự nghiệp giáo dục, đào tạo đã góp phần quyết định vào những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của đất nước, làm thay đổi căn bản và toàn diện đất nước, làm cho thế và lực, uy tín quốc tế của nước ta không ngừng tăng lên. Qua đó đã chứng minh và làm sáng tỏ câu nói của Bác “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.

Ngày nay, với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ càng có ý nghĩa quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia. Để giành thắng lợi trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thời gian tới cần phải:

– Tiếp tục đổi mới toàn diện, mạnh mẽ hơn nữa giáo dục, đào tạo, xây dựng, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao nói chung và đội ngũ trí thức nói riêng theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”.

Phát triển mạnh khoa học, công nghệ, để hàm lượng chất xám trong quá trình sản xuất tăng lên, đảm bảo tăng năng suất lao động và phát triển bền vững.

– Tiếp tục phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

  1. 42. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC VÀ VIỆC THỰC HIỆN TƯ TƯỞNG CỦA NGƯỜI TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Th.S Nguyễn Thị Hồng Mai

Viện Lịch sử Đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá Việt Nam. Người đã đi xa nhưng di sản của Người để lại cho chúng ta một kho tàng vô giá bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Tư tưởng giáo dục của Người là cơ sở lý luận cho việc xây dựng định hướng chiến lược phát triển giáo dục ở nước ta trong các thời kỳ cách mạng đã qua, trong hiện tại cũng như tương lai.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc giáo dục và đào tạo của nước nhà, coi đó là sự nghiệp cao cả, sự nghiệp “trồng người”. Người đã đề cập sâu sắc và toàn diện đến vấn đề giáo dục và cho rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Tư tưởng của Người về giáo dục là một hệ thống các quan điểm về: mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả giáo dục.

Trên cơ sở vận dụng và thấm nhuần tư­ tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nghị quyết và nhiều chính sách về giáo dục – đào tạo, “coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “là chìa khoá hướng vào tương lai”, “là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân”. Những tư tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục đã được vận dụng có hiệu quả trong các nhà trường và ngành giáo dục.

  1. 43. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT, HỢP TÁC KHU VỰC ĐÔNG NAM Á VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG

TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

Ths. Nguyễn Thị Mai

Học viện CT- HC Quốc gia Hồ Chí Minh

Là một chiến sĩ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong thực tiễn hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh rất coi trọng đến khu vực Đông Nam Á, vốn có quan hệ truyền thống lâu đời và lợi ích chung về độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Tư tưởng này được hình thành qua nhiều giai đoạn gắn với quá trình hoạt động và chỉ đạo cách mạng của Người.

Bài viết này đề cập đến các bài nói, bài viết, các hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm xây dựng mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực Đông Nam Á: Những hoạt động của Nguyễn Ái Quốc trong khoảng thời gian từ 1925 đến 1930, nhằm tăng thêm sự đoàn kết giữa các dân tộc bị áp bức vùng Đông Nam Á; Năm 1945 Nhiều quốc gia ở Đông Nam Á ở những mức độ khác nhau cũng lần lượt giành được độc lập nhưng các nước đế quốc một lần nữa lại quay lại xâm lược các nước Đông Nam Á. Vì vậy, một lần nữa nhân dân các nước trong khu vực lại đoàn kết, hợp tác với nhau để bảo vệ độc lập, tiếp tục sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Ngày nay trước những khó khăn, thách thức to lớn của tình hình thế giới và trong nước đặt ra, Đảng ta đã nắm bắt được quy luật, thực trạng và xu thế vận động mới của tình hình thế giới, có chiến lược và sách lược đúng về đối ngoại, đặc biệt là mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước ASEtổ chức. Sau khi gia nhập ASEAN, Đảng chủ trương đưa Việt Nam hội nhập sâu rộng và tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN.

  1. 44. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ MỐI QUAN HỆ GIAI CẤP VÀ DÂN TỘC.

PGS. TS Nguyễn Thị Ngân

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đường lối nhất quán và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Việc giải quýêt mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với vấn đề giai cấp được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào các giai đoạn cách mạng của nước ta.

Chủ nghĩa dân tộc được Hồ Chí Minh xem là động lực to lớn của người Việt Nam và khi chủ nghĩa dân tộc đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân sẽ thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản và chủ nghĩa quốc tế XHCN của giai cấp công nhân. Đó là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được cụ thể hoá bằng chính sách dân tộc trên 3 nguyên tắc: Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển. Trong đổi mới ở Việt Nam động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân, với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng, nguồn lực của các thành phần kinh tế và của toàn xã hội

  1. 45. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Nguyễn Thị Nguyệt

Việt kiều tại Campuchia

Thông qua một số sự kiện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh từ buổi thiếu thời đến những năm tháng hoạt động đầy gian khó ở châu Âu, tác giả đã bày tỏ lòng biết ơn đến Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam vì những cống hiến lớn lao của Đảng và Bác Hồ với cách mạng Việt Nam và sự quan tâm lớn tới người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có người Việt ở nam Campuchia.

Là người trước đây đã nghe theo tiếng gọi của Hồ Chí Minh và Đảng ta, đã tham gia nhiều phong trào Việt kiều ủng hộ cách mạng; nay có dịp về dự Hội thảo về Hồ Chí Minh, tác giả càng tự hào về Việt Nam và về Hồ Chí Minh. Đồng thời tác giả cũng bày tỏ sự tin tưởng vào con đường mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn cho dân tộc là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

  1. 46. Tóm tắt tham luận

NHẬN THỨC VỀ NHỮNG GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN TRONG BẢN DI CHÚC THIÊNG LIÊNG CỦA HỒ CHỦ TỊCH

TS. Nguyễn Thị Tâm

Học viện Chính trị- Hành chính Khu vực III

– Di chúc là một di sản bất hủ, đậm đà bản sắc dân tộc và thời đại. Đó là tác phẩm mà Người chuẩn bị rất công phu. Không chỉ viết, Người còn đọc lại, suy ngẫm, trăn trở để chỉnh sửa, bổ sung cho những “lời dặn lại” đặc biệt của mình vào những dịp sinh nhật từ năm 1965 cho đến khi trái tim đó ngừng đập vĩnh viễn vào lúc 9giờ 47 phút ngày 2/9/1969. “Di chúc” in đậm trong đó những giá trị về tư tưởng, tình cảm, chính trị, nhân văn, đạo đức, văn hoá, văn học, nghệ thuật, ngoại giao…

Di chúc là sự trăn trở, sự trù tính công việc mang nội dung sâu sắc và toàn diện. Mọi công việc Người đề cập đến trong Di chúc từ việc lớn đến việc nhỏ, từ gần đến xa, từ việc chung đến việc riêng, từ việc của xã hội, đoàn thể đến việc của từng cá nhân con người, của dân tộc và nhân loại…

– Hai nội dung quan trọng bậc nhất trong Di chúc của Hồ Chí Minh là xây dựng Đảng và chăm lo cho con người. Người đặc biệt nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền. Tư tưởng và mục đích cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh xuất phát từ con người và cuối cùng trở về với con người.

“Di chúc” là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp. Cuộc “vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ngày càng đi vào chiều sâu, vì vậy, không chỉ giới thiệu tác phẩm Di chúc tới đảng viên, cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân là mà còn cần phải đưa tác phẩm Di chúc vào chương trình giảng dạy văn học ở trường phổ thông trung họ.

  1. 47. Tóm tắt tham luận

Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền trẻ em và sự bình đẳng tiến bộ của phụ nữ.

Nguyễn Thị Thanh Hòa

Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đặt nền móng và xây dựng, kiến tạo một hệ thống quan niệm, tư tưởng đối với phụ nữ và trẻ em.

Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và quyền trẻ em là kết tinh của sự hội tụ truyền thống văn hoá gia đình, quê hương đất nước; của các giá trị văn hoá nhân loại; của học thuyết Mác-Lênin được chắt lọc và lan toả thông qua tư chất của một con người kiệt xuất.

Mặc dù không trực tiếp đề cập đến khái niệm “quyền trẻ em” nhưng Bác là nhà lãnh đạo luôn tôn trọng, quan tâm đến quyền lợi của trẻ em về mọi mặt. Quan điểm về việc bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em luôn được Bác ưu tiên và đã trở thành một bộ phận của tư tưởng giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội văn minh, dân giàu, nước mạnh. Bên cạnh đó Người cũng rất chú trọng đến việc “trồng người”. Bác coi trọng việc giáo dục, bồi dưỡng trẻ em không chỉ ở nội dung mà cả phương pháp và coi đây là nhiệm vụ của toàn xã hội vì sự định hình nhân cách, lý tưởng của trẻ em hôm nay quyết định thế giới trong tương lai.

Có thể nói Hồ Chí Minh là người đầu tiên coi trọng vai trò và khả năng của phụ nữ; công khai bênh vực phụ nữ, đưa tiếng nói đó ra khỏi phạm vi dân tộc. Người trăn trở tìm con đường để giải phóng dân tộc, giải phóng phụ nữ, chỉ ra cho phụ nữ con đường đi tới tự do, bình đẳng. Người luôn quan tâm đến việc xoá bỏ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, tạo mọi điều kiện để phụ nữ phát huy tài năng sức lực của mình vào sự phát triển của đất nước và của chính bản thân mình.

Tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, về bình đẳng và tiến bộ phụ nữ nói riêng là di sản tinh thần vô cùng quí báu đối với cách mạng Việt Nam, với sự nghiệp phát triển đất nước hôm nay và mai sau.

  1. 48. Tóm tắt tham luận

“Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh – một Di sản vô giá của thời đại”

Nguyễn Thị Tình –

Nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh – lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam; đồng thời Người là nhà văn hóa lớn. Một biểu hiện rõ nét của nhà văn hóa Hồ Chí Minh là phong cách văn hóa trong ứng xử của Người. Phong cách ứng xử văn hóa đó không chỉ mang dấu ấn Việt Nam mà còn mang dấu ấn của tinh hoa văn hóa ứng xử của nhân loại. Những bài học kinh nghiệm mà Người để lại về văn hóa ứng xử là di sản vô giá mà hôm nay chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng.

1.Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là sự kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa ứng   xử trong văn hóa dân tộc Việt Nam và tinh hoa trong văn hóa ứng xử của nhân loại.

2. Lòng nhân ái, trí tuệ và lí tưởng cao đẹp tạo nên phong cách ứng xử mẫu mực Hồ Chí Minh.

3. Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh- một Di sản vô giá của thời đại.

Những bài học quý về văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh là:

–                     Kết hợp lí lẽ và tình cảm;

–                     Linh họat, khôn khéo, biết mình, biết người;

–         Chân thành, lịch thiệp, khiêm tốn.

  1. 49. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH TỪ THỰC TIỄN ĐẾN TƯ DUY LÝ LUẬN

VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

PGS,TS Nguyễn Trọng Phúc

Trong hoạt động thực tiễn và nhận thức lý luận Hồ Chí Minh đã sớm đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và nghiên cứu sâu sắc lý luận về chủ nghĩa xã hội, đồng thời nghiên cứu thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Trung Quốc và các nước Đông Âu. Người cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa từng bước nhận thức đặc điểm, hình thức, bước đi và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định những quan niệm cơ bản trong tư duy lý luận của Người về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Người khẳng định chủ nghĩa xã hội hoàn toàn có thể áp dụng được ở Việt Nam. Cần phải nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội để có Cương lĩnh, đường lối và hành động phù hợp. Phải phân tích sâu sắc những đặc điểm, những điều kiện cần thiết để chuyển lên xây dựng chủ nghĩa xã hội sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập, thống nhất; xác định hình thức, bước đi phù hợp phải thực hiện từng bước vững chắc mang lại hiệu quả thiết thực. Quan niệm của Người về chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người được ấm no, sung sướng, hạnh phúc, được học hành, có cuộc sống vật chất, tinh thần tốt đẹp. Xây dựng chủ nghĩa xã hội do chính nhân dân tự làm lấy và phải dựa vào lực lượng của toàn dân. Người coi trọng tổng kết thực tiễn để không ngừng làm rõ nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội.

  1. 50. Tóm tắt tham luận

NGHIÊN CỨU TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH

TS Nguyễn Văn Sáu

Đảng cầm quyền, dân là chủ; đảng viên là người đầy tớ của nhân dân. Đây là vấn đề được các tác giả Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Đặng Xuân Kỳ, Vũ Khiêu, Song Thành… đề cập.

Các tác giả tổng kết ba vấn đề của Đảng cầm quyền trong tư tưởng Hồ Chí Minh: 1- “Đảng cầm quyền”, nhưng dân là chủ. Mọi “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. 2- “Đảng cầm quyền” thì một số lớn cán bộ, đảng viên được giao nhiệm vụ trong bộ máy quyền lực, có quan hệ đến quyền lực, quyền lợi. Nhưng họ không bao giờ được xa rời mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của mình. 3- Nhiệm vụ của “Đảng cầm quyền” khó khăn hơn, to lớn hơn, phức tạp hơn. Đảng phải làm rất nhiều việc, phải lo mọi mặt của đời sống nhân dân, từ việc nhỏ đến việc lớn. Vì vậy, Đảng phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Có thể khai quát ở ba nội dung lớn:

1- Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động – tức lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm “cốt”.

2- Tuân thủ những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của một đảng Mác-Lênin tập trung vào 6 vấn đề: nguyên tắc tập trung dân chủ; nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; nguyên tắc tự phê bình và phê bình; kỷ luật nghiêm minh và tự giác; đoàn kết thống nhất trong Đảng; củng cố quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân.

3- Vấn đề đảng viên, cán bộ tập trung vào: phẩm chất, tiêu chuẩn; công tác cán bộ.

  1. 51. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI CUỘC ĐẤU TRANH
VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG VÀ SỰ TIẾN BỘ CỦA PHỤ NỮ

TS Nguyễn Thị Kim Dung*

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Cả cuộc đời, Người luôn phấn đấu cho mục tiêu Tổ quốc được độc lập, nhân dân được hưởng hạnh phúc, ấm no. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng và nhân dân ta một di sản tư tưởng phong phú, trong đó có tư tưởng về quyền bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ. Những quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ là sự tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại. Những quan điểm đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Hồ Chí Minh đã đánh giá chính xác vai trò của phụ nữ Việt Nam và ghi nhận những đóng góp to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp cách mạng. Hồ Chí Minh khẳng định: “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta trẻ cũng như già ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp rực rỡ”. Và Người đã tặng cho phụ nữ Việt Nam danh hiệu “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam đã được bình đẳng trên mọi lĩnh vực, vị thế và năng lực của phụ nữ ngày càng được nâng lên, trở thành một lực lượng quan trọng trong xã hội. Những thành tích mà phụ nữ Việt Nam đạt được trong lao động sản xuất, trong chiến đấu, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội đã phần nào đền đáp lại niềm tin yêu và hy vọng của Người.

  1. 52. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG DÂN VẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH MÃI MÃI

TOẢ SÁNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

TS. Nguyễn Văn Hùng

Uỷ viên Hội đồng Lý luận Trung ương

– Từ thời tuổi trẻ đến lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Nước lấy dân làm gốc”. Vì vậy, Người đặc biệt chú trọng công tác dân vận và để lại một hệ thống quan điểm có giá trị lý luận, thực tiễn quý báu về vấn đề quan trọng này.

– Quán triệt quan điểm về vấn đề dân vận trong thực tiễn đòi hỏi phải có sự lãnh đạo của Đảng, quản lý điều hành của Nhà nước và sự cộng tác của các đoàn thể quần chúng, phải trở thành phong trào cách mạng của quần chúng trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó vai trò của cán bộ là cực kỳ quan trọng. Muốn vậy, cán bộ phải thực hiện đúng phương châm công tác như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quán triệt: Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe,         chân đi, miệng nói, tay làm. Đồng thời phải thực sự : Trọng dân, tin dân, hiểu dân, gần dân, học dân, có trách nhiệm với dân.

– Thực hiện tốt những điều Người đã quán triệt gắn liền với cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là thiết thực nhất trong việc thấm nhuần tư tưởng “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” của Người.

  1. 53. Tóm tắt tham luận

TRIẾT LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HỒ CHÍ MINH – MỘT ĐÓNG GÓP QUAN TRỌNG CHO TRIẾT LÝ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI HIỆN ĐẠI

GS. TS. Nguyễn Văn Huyên

Hồ Chí Minh xây dựng nên một triết lý phát triển đúng đắn, khoa học, nhân văn mà bản chất, nội dung, phương thức của nó hoàn toàn phù hợp với xu hướng tìm tòi lý thuyết phát triển xã hội trong thế giới hiện đại.

Hồ Chí Minh cho rằng, độc lập dân tộc, tự do cho tổ quốc là điều kiện tiên quyết để một quốc gia tự chủ xây dựng và phát huy sức mạnh toàn dân cho sự nghiệp phat triển đất nước.

Sự lựa chọn đúng đắn con đường đi của dân tộc là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, con người hạnh phúc. Cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Các yếu tố nền tảng cho sự phát triển xã hội là một hệ thống đồng bộ: chế độ chính trị – xã hội dân chủ, nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân  vững mạnh, một nền kinh tế tiên tiến, một nền khoa học – công nghệ hiện đại, một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc.

Con người vừa là động lực vừa mục tiêu của phát triển xã hội – nó vừa là lực lượng quyết định xây dựng xã hội, vừa là mục đích tối cao của phát triển; nó vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của quá trình xây dựng và phát triển xã hội.

Sự kết hợp hài hoà truyền thống – hiện đại, dân tộc – quốc tế, bên trong – bên ngoài; xây dựng môi trường thân thiện thiên nhiên- con người,…là nguyên lý kết hợp nội lực- ngoại lực, hiện tại – tương lai, con người – thiên nhiên, tạo nên sự phát triển bền vững.

Đoàn kết, thống nhất, đồng lòng mọi lực lượng xã hội – các giai cấp, tầng lớp, thành phần, tổ chức, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, hiệu quả của đảng cộng sản vì dân vì nước là điều kiện tất yếu của thực hiện phát triển xã hội.

  1. 54. Tóm tắt tham luận

Hồ Chí Minh với công chức và công vụ

của nền hành chính dân chủ cộng hoà

PGS.TS Nguyễn Đăng Thành

Phó Giám đốc Học viện CTHC Quốc gia Hồ Chí Minh,

Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia

Hồ Chí Minh có ý thức từ rất sớm và rất sâu sắc về việc xây dựng một nền hành chính mới của chính thể dân chủ cộng hoà. Hai yếu tố cơ bản góp phần làm nên chất lượng mới của nền hành chính ấy là đội ngũ công chức công tâm, thạo việc, mẫn cán và nền công vụ gần dân, vì dân. Hồ Chí Minh đã sử dụng các biện pháp khoa học và hiệu quả để xây dựng một nền hành chính mới và theo đó nhiều  quan niệm, nguyên lý đã định hình và đến nay còn nguyên giá trị.

  1. 55. Tóm tắt tham luận

QUAN HỆ GIỮA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỚI CHỦ NGHĨA MÁC- LÊNIN

GS Nguyễn Đức Bình

Tư tưởng Hồ Chí Minh có 3 nguồn gốc: một là, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; hai là, tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây; ba là, chủ nghĩa Mác- Lênin và đây là nhân tố quyết định nhất. Bài viết chỉ đề cập mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh.

Các dân tộc đều có lòng yêu nước. Song truyền thống yêu nước Việt Nam có những nét đặc sắc: tinh thần độc lập tự chủ, anh dũng bất khuất trong đấu tranh dựng nước và giữ nước; giàu tính cộng  đồng, tính nhân dân, tính nhân bản; có xu hướng gắn với tiến bộ xã hội.

Tư tưởng Hồ Chí Minh ko chỉ kết tinh những giá trị dân tộc, mà còn bắt nguồn từ tinh hoa văn hoá nhân loại, cả phương Đông và phương Tây mà Người đã thâu thái được.

Trên cơ sở những thực tế và giá trị văn hoá thế giới, đặc biệt  là từ  chủ nghĩa yêu nước, Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác- Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự gặp gỡ tất yếu và tự nhiên giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa Mác- Lênin. Việc Nguyễn ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác- Lênin, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác- Lênin “cái cần thiết” và “con đường” giải phóng dân tộc Việt Nam, “ngọn hải đăng soi đường cho toàn thể nhân  loại bị áp bức đi tới giải phóng” là bước quyết định trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Bắt gặp chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng yêu nước ở Nguyễn Ái Quốc có bước nhảy vọt về chất – tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc trở thành tư tưởng Hồ Chí Minh.

  1. 56. Tóm tắt tham luận

SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA HỒ CHÍ MINH

VỚI ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG

VỀ CHỐNG ĐẾ QUỐC VÀ CHỐNG PHONG KIẾN (1930- 1941)

PGS.TS Nguyễn Khánh Bật*

1. Những điểm tương đồng cơ bản

Thứ nhất, nhân dân Việt Nam một cổ hai tròng, bị hai tầng áp bức bóc lột của thực dân Pháp và địa chủ phong kiến phản động bản xứ.

Thứ hai, trong xã hội Việt Nam tồn tại hai mâu thuẫn cơ bản. Nhiệm vụ cách mạng ở nước ta là phản đế và phản phong nhằm mang lại độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày.

Thứ ba, hai nhiệm vụ phản đế và phản phong liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau.

2. Những điểm khác biệt.

Một là, Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu. Đảng Cộng sản Đông Dương nhấn mạnh nhiệm vụ chống phong kiến. “Thời kỳ bây giờ cách mạng chỉ có tính chất thổ địa và phản đế”.

Hai là, Hồ Chí Minh chia địa chủ thành 3 loại: đại, trung và tiểu địa chủ. Người chủ trương “đánh trúc bọn đại địa chủ”. Đối với trung, tiểu địa chủ cần tranh thủ lôi kéo họ.

Đảng Cộng sản Đông Dương khẳng định phải tiêu diệt địa chủ với tư cách là một giai cấp.

Ba là, Hồ Chí Minh chủ trương tịch thu ruộng đất của đại địa chủ, chia cho dân cày nghèo, trong khi đó Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ rõ tịch thu toàn bộ ruộng đất của địa chủ chia cho trung nông và bần nông.

3. Sự chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam – Sự trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Đông Dương

Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng tỏ tính đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhanh nhạy, đáp ứng đòi hỏi từ thực tiễn, Đảng Cộng sản từng bước khắc phục những điểm khác biệt với Hồ Chí Minh. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám, tháng 5- 1941 thể hiện sự nhất trí cao giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Đảng Cộng sản Đông Dương.

Thắng lợi của cách mạng tháng Tám 1945 là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Trong sự nghiệp đổi mới Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt lên hàng đầu lợi ích dân tộc, “phát huy sức mạnh toàn dân tộc” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

  1. 57. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC –

XÉT DƯỚI GÓC ĐỘ ĐỘNG LỰC TINH THẦN

Nguyễn Thị Thúy Thanh

Đại đoàn kết dân tộc là một nội dung quan trọng trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Người coi đại đoàn kết là một động lực tinh thần to lớn trong cuộc đấu tranh cách mạng cũng như trong xây dựng xã hội mới. Với cương vị lãnh đạo cao  nhất của Đảng và dân tộc trong suốt 24 năm liền, Hồ Chí Minh đã khơi dậy được sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Người đã tập hợp, quy tụ được các giai cấp, tầng lớp, đảng phái…thành một khối thống nhất. Đây chính là nhân tố quan trọng để chúng ta chiến thắng kẻ thù . Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen nhau. Để tận dụng tốt thời cơ cũng như vượt qua những thách thức, chúng ta phải nhận thức rõ những động lực của đất nước. Một trong những động lực quan trọng đó sức mạnh đàon kết của toàn dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy động lực đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.

  1. 58. Tóm tắt tham luận

CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN HỒ CHÍ MINH

GGS, TS Phạm Minh Hạc

  1. Trải qua các giai đoạn văn hoá – thời đại dã man, thời đại mông muội – loài người dần dần hình thành và phát triển tính người, tình người, sau được khái quát lên thành chủ nghĩa nhân văn. Tiếng Việt còn hai thuật ngữ nữa đồng nghĩa với chủ nghĩa nhân văn là “nhân đạo”. Chủ nghĩa nhân văn (nhân đạo) thời Phục hưng với nội hàm giải phóng loài người khỏi giáo quyền, tôn trọng nhân phẩm con người, các năng lực của con người, nhất là khả năng lý trí, thế tục, đề cao và bảo vệ cuộc sống nhân đạo, nhân văn.

Thế kỷ XX, chủ nghĩa nhân văn – nhân đạo phát triển mạnh, các khối chính trị đều nói tới chủ nghĩa nhân văn – nhân đạo, có học giả đưa ra “Chủ nghĩa nhân văn mới”. Phong trào giải phóng dân tộc đặc biệt đề cao trào lưu nhân văn – nhân đạo. Ở Việt nam có “Hồ Chí Minh là hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả”.

2. Trong nhiều tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, dưới khía cạnh này hay khía cạnh khác, đều đề cập đến chuyên đề này: “Hồ Chí Minh là người của chủ nghĩa nhân đạo theo ý nghiã đầy đủ nhất…Chất con người Hồ Chí Minh là chất Việt nam, chất cách mạng, chất cộng sản, chất nhân văn”, “Nếu như khi còn trẻ, Bác Hồ đã chú trọng “vấn đề con người và giải phóng con người” thì đến cuối đời, Bác vẫn căn dặn lại sau khi chiến tranh kết thúc “đầu tiên là công việc đối với con người; “Một trong những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với loài người là chủ nghĩa nhân văn …”.

3.Tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin cũng như truyền thống văn hoá – lịch sử của dân tộc vào lãnh đạo cách mạng Việt nam (từ năm 1924), Tư tưởng Hồ Chí Minh đã hàm chứa Chủ nghĩa nhân văn Mác xít Việt nam.

  1. 59. Tóm tắt tham luận

GIÁ TRỊ BỀN VỮNG CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

TS. Phạm Văn Bính

Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

– Với điều kiện lịch sử thời đại mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khởi thảo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp công nhân chống tư bản, giành chính quyền về tay mình, xây dựng xã hội cộng sản. Khẩu hiệu của các ông là Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại. Đến thời đại của Lênin, khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, vận dụng lý luận Mác, bổ sung yếu tố thời đại, khẩu hiệu của Lênin là Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại.

– Trên con đường tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận Mác – Lênin, từ nghiên cứu thực tiễn thế giới và Việt Nam, khẩu hiệu của Hồ Chí Minh là Lao động tất cả các nước đoàn kết lại. Con đường cách mạng Việt Nam từ giải phóng dân tộc, đi lên CNXH, gắn liền với sự nghiệp cách mạng thế giới trở thành lý luận cách mạng Việt Nam, là ngọn cờ dẫn dắt cả dân tộc ta từng bước giành thắng lợi, từ khi Đảng ta ra đời đã qua hơn 80 năm lịch sử. Dưới ngọn cờ ấy, nhiều quan điểm chỉ đạo chiến lược được Người và Đảng ta khái quát, nhiều bài học kinh nghiệm đã tổng kết, trong đó quan điểm, tư tưởng Không có gì quý hơn độc lập tự do – độc lập dân tộc gắn liền với CNXH đã trở thành chân lý trường tồn và đang được thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh, được nhân loại tiến bộ tôn vinh, ngưỡng mộ.

– Độc lập dân tộc gắn liền với tự do hạnh phúc của nhân dân, gắn liên với tư tưởng nhân văn thời đại, đó là cốt lõi tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh. Bởi vậy, tư tưởng Không có gì quý hơn độc lập tự do của Người đã và đang đến với nhiều dân tộc trên thế giới.

  1. 60. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VỚI THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU KINH TẾ XÃ HỘI

ThS Phạm Đức Kiên

Vấn đề này ở Việt Nam được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm giải quyết trên tinh thần “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.

Ngày từ nửa cuối những năm 20 của thế kỷ XIX, Hồ Chí Minh đã định hướng ban đầu cho sự kết hợp chính sách kinh tế với chính sách xã hội. Sang những năm 30 của thế kỷ XX, những định hướng này được phát triển lên mức độ cao hơn. Kết hợp phát triển kinh tế với thực hiện các mục tiêu xã hội, vào những năm 40 của thế kỷ này, được Hồ Chí Minh chỉ rõ ở 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh; ở đường lối kháng chiến, vừa kiến quốc và xây dựng đời sống mới… Từ năm 1954 đến năm 1969, Hồ Chí Minh đã nêu rõ mục đích, nội dung của việc phát triển kinh tế gắn với việc giải quyết các vấn đề xã hội nhằm quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, đấu tranh thống nhất nước nhà và đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trước khi qua đời, Hồ Chí Minh còn nói rõ trong bản Di chúc: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát triển kinh tế và giải quyết thỏa đáng các vấn đề xã hội vừa là nhân, vừa là quả của nhau. Đó cũng là lôgíc của sự phát triển bền vững, phản ánh bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

  1. 61. Tóm tắt tham luận

DI SẢN HỒ CHÍ MINH Ở THỪA THIÊN HUẾ

– CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

(Bản tóm tắt)

Ths. Phan Công Tuyên

Uỷ viên TV, Trưởng Ban TG TU Thừa Thiên Huế

Thừa Thiên Huế vinh dự là một trong số ít tỉnh, thành trong cả nước còn lưu giữ được nhiều di sản quý giá về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời gian càng lùi xa, những di sản quý báu của Người càng toả sáng, nhân dân Thừa Thiên Huế mãi mãi trân trọng lưu giữ nhằm tiếp tục phát huy, truyền nối niềm tin, sức mạnh cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Di sản Hồ Chí Minh ở Thừa Thiên Huế phản ánh những chặng đường lịch sử từ thời niên thiếu (1895 – 1901), sang tuổi vị thành niên (1906 – 1909) và khoảng thời gian khi Người trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945 – 1969). Di sản Hồ Chí Minh ở Thừa Thiên Huế bao gồm di sản vật thể và di sản phi vật thể.

Từ thực tiễn tại Thừa Thiên Huế, chúng tôi rút ra một số vấn đề trong công tác bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản Hồ Chí Minh như sau:

Thứ nhất, cơ sở khoa học của việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di sản là công tác nghiên cứu khoa học, nhằm tìm đến yếu tố gốc, yếu tố cốt lõi, là sự thật lịch sử. Đó là cơ sở để người đời sau hiểu rõ, hiểu đúng nhân vật lịch sử vĩ đại Hồ Chí Minh.

Thứ hai, cần giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa bảo tồn và tôn tạo; tôn tạo trên cơ sở bảo tồn, phát huy giá trị của bảo tồn, tránh khuynh hướng hiện đại hóa di sản, muốn làm cho di sản xứng tầm với lãnh tụ bằng cách tôn tạo vượt ra ngoài phạm vi giá trị bảo tồn.

Thứ ba, việc phát huy di sản Hồ Chí Minh thực chất là truyền nối giá trị của niềm tin và sức mạnh giữa các thế hệ; hướng mọi người đến với một tấm gương vừa vĩ đại, vừa gần gũi. Khi di sản Hồ Chí Minh thuộc về trái tim của mỗi người dân thì việc phát huy di sản không chỉ là nỗ lực của các cơ quan quản lý di sản.

Thứ tư, để lưu giữ và truyền nối di sản Hồ Chí Minh, cần có những địa chỉ mà khi đến đó, từ trong sâu thẳm của trái tim, mọi người đều cảm nhận được sự gần gũi, cảm động, thiêng liêng và trân trọng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đi xa đã hơn 40 năm. Những gì Người để lại cho dân tộc Việt Nam đã trở thành di sản. Thừa Thiên Huế vinh dự mang trong mình một bộ phận di sản quý giá ấy. Di sản Hồ Chí Minh mãi mãi là niềm tự hào của Đảng bộ và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  1. 62. Tóm tắt tham luận

TrÝ thøc lµ vèn qóy b¸u cña d©n téc

PGS, TS Phan Thanh Kh«i

Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh chÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề tri thức được đề cập đến với nhiều quan điểm đặc sắc. Từ những quan điểm này làm cơ sở, giúp chúng ta nhận thức đầy đủ hơn đường lối của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước hiện nay.

  1. Trí thức “ một bộ phận trong lực lượng cách mạng”. Hồ Chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò của trí thức. Người khẳng định: Trí thức là một bộ phận trong lực lượng cách mạng, trí thức có nhiệm vụ thi đua phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân.
  2. “ Công, nông, trí cần phải đoàn kết thành một khối”. Hồ Chí Minh cho rằng, công, nông và trí thức là những bộ phận cơ bản quyết định đến thành bại của cách mạng. “Vì lẽ đó, trong sự nghiệp cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lao động trí óc có một vai trò quan trọng và vẻ vang; và công, nông, trí cần đoàn kết chặt chẽ thành một khối”.
  3. “ Trí thức ta có khuyết điểm nhiều chứ không phải ít”. Khi nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của tri thức, Hồ Chí Minh cũng thẳng thắn chỉ ra cả những ưu điểm và khuyết điểm, cả những mặt tích cực và hạn chế của trí thức Việt Nam. Từ đó, Người nêu rõ: “Đảng và Chính phủ phải rất chú ý đến việc giúp đỡ anh em trí thức cũ tiến bộ, cải tạo tư tưởng, đồng thời đào tạo ra trí thức mới từ công nhân, nông dân ra”.
  4. “Trí thức không bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức thôi”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến nhiệm vụ đào tạo trí thức. Và cơ bản hơn, con đường đào tạo và xây dựng trí thức nước ta, theo Người là: “Đào tạo trí thức mới/ cải tạo trí thức cũ/ công nông trí thức hóa/ trí thức công nông hóa”.
  5. Trí thức là “những người lao động làm chủ”, “ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ”. Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng trí thức, với tính cách là nghệ thuật dùng người, sử dụng trí thức phải chú ý đến yếu tố dân chủ, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi.
  6. “Tìm người tài đức”. Hồ Chí Minh rất trọng dụng nhân tài. Ngay trong những năm đầu chính quyền công – nông non trẻ, Người đã viết hai bài trên báo cứu quốc: “Nhân tài và kiến quốc” (1945) và “Nhân tài và kiến quốc” (1946). Đó là những Chiếu cầu hiền trong thời đại mới.
  1. 63. Tóm tắt tham luận

NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH QUA PHONG TRÀO XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH

TS Phan Xuân Thành

– Hội khoa học lịch sử Nghệ An –

Cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh là một cuộc cách mạng long trời lở đất, diễn ra sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập được 3 tháng. Đây là một sự kiện lớn trong bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Sự cống hiến to lớn của đồng chí Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ở 3 khía cạnh: sự chỉ đạo, uốn nắn phong trào; công tác đào tạo cán bộ và bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thế hệ đời sau.

Khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh nổ ra, Nguyễn Ái Quốc đang ở Hương Cảng. Tuy thế, Người vẫn theo dõi sát sao phong trào, cùng với Trung ương chỉ đạo cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân ta. Người yêu cầu Trung ương Đảng phát động phong trào toàn quốc chia lửa với Nghệ Tĩnh; yêu cầu Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sản Pháp làm những việc có thể để giúp đỡ các nạn nhân của cuộc đàn áp đẫm máu. Nguyễn Ái Quốc còn gửi thư góp ý với Trung ương uốn nắn những sai lầm trong công tác chỉ đạo. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự giúp đỡ chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, phong trào không bị dập tắt một lúc mà chuyển về nông thôn, lên vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi.

Đồng chí Nguyễn Ái Quốc còn chú ý đào tạo hạt giống đỏ, cán bộ cách mạng cho quê hương xứ Nghệ, cử nhiều chiến sỹ đào tạo ở Quảng Châu, Trung Quốc, từ đây về chỉ đạo Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Sau cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chăm lo nhiều đến các chiến sỹ Xô Viết Nghệ Tĩnh. Người coi đây là những hạt giống đỏ để bồi dưỡng lý tưởng đạo đức cho thế hệ đời sau.

Từ cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh cho đến hôm nay đã 80 mùa xuân. Từng ấy thời gian đủ để cho chúng ta chiêm nghiệm những đóng góp to lớn của Người đối với quê hương xứ Nghệ. Nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh của Bác, 80 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh, bảo tàng được nâng cấp, bổ sung tài liệu, hiện vật về Người góp phần giáo dục thế hệ trẻ trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.

  1. 64. Tóm tắt tham luận

VẤN ĐỀ VĂN HÓA TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Tạ Ngọc Tấn

Năm 1943, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hoá là sự tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn1 . Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa.

Từ nhận thức khái quát về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra một cách cụ thể về nội dung, yêu cầu xây dựng nền văn hóa của đất nước. Người viết tiếp: “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc” là:

“1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường.

2. Xây dựng luận lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng

3. Xâydựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội

4. Xây dựng chính trị: dân quyền

5. Xây dựng kinh tế”.([8]).

Việc chỉ ra những điểm lớn trên chứng tỏ rằng, khi phân định nội hàm khái niệm văn hóa, Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ rằng, xây dựng nền văn hoá dân tộc phải đặt trong mối quan hệ qua lại với các mặt khác của đời sống dân tộc như: “tâm lý”, “luân lý”, “xã hội”, “chính trị”, “kinh tế”. Xây dựng văn hóa phải gắn liền với từng bình diện ấy, làm cho văn hóa trở thành phẩm chất tốt đẹp, đặc trưng riêng có và ý nghĩa tích cực của những lĩnh vực đời sống đó.

Việc phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng văn hóa theo năm mặt trên cho thấy, nội dung, yêu cầu về văn hóa gắn bó hữu cơ và thể hiện sinh động trên tất cả các bình diện của đời sống xã hội. Trong mỗi bình diện xã hội cụ thể ấy, văn hóa, một mặt là điều kiện để bảo đảm thực hiện các mục tiêu xây dựng, phát triển xã hội. Mặt khác, văn hóa cũng chính là mục tiêu của của sự nghiệp xây dựng phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa và hơn nữa, còn là mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu xem xét từ bình diện phát triển con người, mang lại sự hoàn thiện cho con người.

Từ nhũng luận điểm trên, có thể thấy rằng, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hóa vừa là điều kiện, vừa là mục đích của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Sự chuyển hóa biện chứng giữa văn hóa và sự tiến bộ của các bình diện cụ thể của đời sống kinh tế – xã hội là một vấn đề có tính quy luật, có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

  1. 65. Tóm tắt tham luận

Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

PGS.TS. Thành Duy

Tư tưởng Hồ Chí Minh vốn mang giá trị thời đại. Bài viết đã nêu rõ ý nghĩa và giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ trước đây mà cả hiện nay, đặc biệt là hiện nay, khi nhân loại đã có những bước phát triển đột phá, tạo nên cục diện thế giới mới, đang ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến quá trình phát triển của tất cả các nước trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Bài viết đã nêu bật bốn giá trị mới về thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh. Một là, tiếp thu đồng thời phát triển học thuyết Mác – Lênin. Hai là, Hồ Chí Minh đã thấy trước rất lâu con đường phát triển của nhân loại phải gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Ba là, trong khi có nhiều quan niệm khác nhau về chủ nghĩa xã hội thì mô hình chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh đang được nhân loại quan tâm. Đó là chủ nghĩa xã hội vì con người, cho con người và do con người, hay còn gọi là chủ nghĩa xã hội nhân văn. Bốn là, trong lĩnh vực phát triển con người và văn hoá, chủ thể của thời đại văn minh xã hội chủ nghĩa …

  1. 66. Tóm tắt tham luận

TÌM HIỂU LÝ TƯỞNG, HOÀI BÃO CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

QUA NHỮNG SỰ KIỆN TRONG HAI LẦN NGƯỜI VỀ THĂM QUÊ

Tô Hồng Hải – Ủy  viên ban Thường vụ,

Trưởng ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy Nghệ An

I. TÌNH QUÊ HƯƠNG TRONG BÁC :

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một con người giàu tình cảm với quê hương, và quê hương luôn là nguồn tình cảm lớn, là mối quan tâm lớn trong trái tim của Bác. Điều đó thể hiện trong những lá thư, trong văn thơ, trong tình cảm của Bác với người thân trong gia đình. Khi cao trào cách mạng dâng lên trong cả nước mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ Tĩnh, tuy còn bận  hoạt động ở nước ngoài, Người đã kịp báo cáo với Quốc tế Cộng sản( ngày 19-2-1931). Vẫn trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc, Người viết: Bùi ngùi dạo đỉnh Tây Phong/ Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai. Hồi kháng chiến chống thực dân Pháp, khi nghe tin anh cả là Nguyễn Sinh Khiêm qua đời tại quê nhà(làng Sen), Bác không về được mà gửi Điện, “xin bà con nguyên lượng cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước!.

II. LÝ TƯỞNG CỦA BÁC ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG LÀ XÂY DỰNG TRÊN ĐẤT NGHỆ NHỮNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA :

Nửa tháng sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, ngày 17-9-1945 Bác đã có thư khuyên Nghệ An phải có đội ngũ cán bộ mang tư tưởng mới, trong sạch và biết chăm lo cho dân. Lần đầu Bác về thăm quê, trong buổi chuyện trò với đại biểu nhân dân toàn tỉnh (14-6-1957), Bác nói: Thanh niên đoàn có thành tích nhưng cũng cần phải cố gắng, phải gương mẫu trong việc đoàn kết, học tập, tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Nói chuyện ở một nhà máy, Bác chỉ rõ: Giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, phải làm thế nào xứng đáng là lãnh đạo để người ta tin cậy. Trong buổi chuyện trò với những cán bộ, đảng viên hoạt động lâu năm(9-12-1961), Bác nhắc nhở trong họ tôn trọng và dìu dắt đúng mức đối với thế hệ trẻ…

III. HOÀI BÃO CỦA BÁC ĐỐI VỚI QUÊ HƯƠNG:

Trong Thư  Bác gửi Ban Chấp hành Đảng bộ Nghệ An(21-7-1969), Bác rất mong đồng bào và đồng chí tỉnh nhà ra sức phấn đấu làm cho Nghệ An mau trở thành một trong những tỉnh khá nhất ở miền Bắc. Bác muốn Nghệ An phải khôi phục và phát triển kinh tế , nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, phải: Tích cực thực hiện dân chủ với nhân dân hơn nữahết sức chăm lo đời sống nhân dân. Bác dạy chúng ta phải biết dựa vào dân, phát huy sức trẻ, tháo gỡ khó khăn, tạo thêm thuận lợi, đổi mới và hội nhập để phát triển đi lên.

Những mong muốn, hy vọng của Bác đối với quê hương, sâu xa cũng là những hoài bão, khát vọng đối với cả dân tộc, đất nước Việt Nam yêu thương của Người./.

  1. 67. Tóm tắt tham luận

Cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh
về Độc lập dân tộc  và chủ nghĩa xã hội

PGS.TS Tô Huy Rứa

Dòng chủ đạo xuyên suốt và bao trùm tư tưởng Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Với độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã làm sáng tỏ điều cốt yếu nhất trong tư tưởng về đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam. Đó là con đường cách mạng giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, giành độc lập cho dân tộc và đưa dân tộc quá độ tới chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Nắm vững phương pháp luận mác-xít, khoa học và cách mạng Hồ Chí Minh đã luận chứng thấu đáo, rõ ràng con đường phát triển của Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản và chủ nghĩa cộng sản, do đội tiên phong lãnh đạo là Đảng cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân, có chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốtcông- nông là gốc của cách mạng, sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc, là cơ sở xã hội sâu rộng, bền vững của Đảng, của cách mạng, đảm bảo cho cách mạng đến nơi, tức là triệt đểđi tới thắng lợi.

Sáng tạo đặc sắc, làm nên cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, cách mạng thế giới là ở chỗ, Người đã giải quyết thành công vấn đề dân tộc, giải phóng dân tộc.

Mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa giải phóng giai cấp và giải phóng dân tộc đã tổ chức lực lượng và đã hành động một cách nhất quán, trung thành một cách sáng tạo đối với chủ nghĩa Mác-Lênin về lý luận cách mạng và phương pháp cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin dựa trên những phân tích và tổng kết thực tiễn ở Việt Nam, ở Đông Dương, ở châu Á và phương Đông nói chung.

Sáng tạo của Hồ Chí Minh ở tầm vượt trước tư duy và tư tưởng đương thời, của thời đại bấy giờ, để đứng vững trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, trên ý thức hệ tiên tiến của thời đại là chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học.

Người nhận thức rõ, sức mạnh giai cấp công nhân là ở chỗ gắn với sức mạnh dân tộc, giai cấp ở trong dân tộctriển vọng tích cực của dân tộc chỉ có thể do giai cấp công nhân dẫn dắt. Với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là điều kiện, tiền đề của chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là đảm bảo chắc chắn, đầy đủ, nhất của độc lập dân tộc.

Tư tưởng chính trị chiến lược nêu trên của Hồ Chí Minh ở tầm tư tưởng chiến lược, là triết học chính trị Hồ Chí Minh. Giá trị, sức sống và ý nghĩa của tư tưởng này vẫn còn nguyên tính thời sựhiện đại, có tác dụng định hướng phát triển cho cách mạng Việt Nam thời kỳ đương đại, trong sự nghiệp đổi mới để phát triển dân tộc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thế kỷ XXI./.

  1. 68. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

TS. Trần Ngọc Uẩn

Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Bài viết khái quát tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền thể hiện trên năm nội dung chính và phân tích sự vận dụng, phát triển của Đảng ta ở 5 vấn đề:

Một là, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực Nhà nước là thuộc về nhân dân. Nhân dân lao động làm chủ thông qua Nhà nước, bằng Nhà nước.

Hai là, quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Ba là, Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở hiến pháp, pháp luật và bảo đảm cho hiến pháp, pháp luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan  hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bốn là, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, vì con người; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân; thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật.

Năm là, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đồng thời bảo đảm sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên khác của mặt trận.

Bài viết đề cập 4 giải pháp để thực hiện các nội dung trên.

  1. 69. Tóm tắt tham luận

SỰ SÁNG TẠO CỦA HỒ CHÍ MINH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT QUAN HỆ GIỮA GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VÀ GIẢI PHÓNG GIAI CẤP – NGUỒN GỐC THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

PGS.TS Trần Thành

Sự sáng tạo trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách mạng Việt Nam và đó cũng là một trong những đóng góp xuất sắc của Người vào lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin.Đứng vững trên lập trường mác-xít, đánh giá đúng sức mạnh to lớn của phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa, Hồ Chí Minh cho rằng, cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa không nhất thiết phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Xét về quan hệ lợi ích, trong cuộc cách mạng này, Hồ Chí Minh cho rằng phải đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích giai cấp, lấy mục tiêu độc lập dân tộc làm mục tiêu hàng đầu. Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là Hồ Chí Minh coi nhẹ quan điểm giai cấp. Ở Người độc lập được đặt lên hàng đầu. Song, giải phóng dân tộc và độc lập dân tộc phải được giải quyết trên lập trường giai cấp vô sản.

  1. 70. Tóm tắt tham luận

MỘT SỐ ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA HỒ CHÍ MINH VÀ

ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG VỀ LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG

Ở VIỆT NAM NHỮNG NĂM 30, THẾ KỶ XX

ThS Trần Thị Huyền*

Muốn tiến hành cách mạng phải có lực lượng cách mạng. Bất kỳ cuộc cách mạng nào, việc xác định lực lượng là một nhân tố quan trọng quyết định thắng – thua, thành – bại của cuộc cách mạng đó. Vấn đề tổ chức lực lượng là vấn đề có tầm chiến lược của cách mạng Việt Nam, một bộ phận quan trọng trong đường lối cách mạng của Hồ Chí Minh và Đảng ta. Do các nguyên nhân khác nhau việc xác định lực lượng cách mạng giữa Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương vào những năm 30 thế kỷ XX có những điểm tương đồng và khác biệt.

– Điểm thống nhất lớn giữa Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương về lực lượng cách mạng đó chính là về lực lượng chủ lực, là gốc của cách mạng.

– Điểm khác biệt lớn giữa Hồ Chí Minh với Đảng Cộng sản Đông Dương về lực lượng cách mạng là việc đánh giá lực lượng trung gian trong cách mạng giải phóng dân tộc.

– Nguyên nhân của sự khác nhau: Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương đều xuất phát từ phương pháp phân tích giai cấp của chủ nghĩa Mác – Lênin. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Đông Dương theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản nhưng Quốc tế Cộng sản lại dựa trên thực tế cách mạng ở những thuộc địa có đặc điểm không giống với Đông Dương và Việt Nam. Trong khi đó, Hồ Chí Minh thấu hiểu sâu sắc nguyện vọng chung của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam là độc lập, tự do, hạnh phúc, trên cơ sở đó phát huy được sức mạnh toàn dân tộc vào sự nghiệp cách mạng chung, tạo ra sức mạnh to lớn của lực lượng cách mạng Việt Nam – yếu tố quan trọng đưa tới thành công của cách mạng.

Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề lực lượng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng mở rộng tối đa lực lượng cách mạng, chủ trương đoàn kết xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội, đưa đất nước ngày càng phát triển và vững bước đi lên.

  1. 71. Tóm tắt tham luận

Tư tưởng  Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận cho cán bộ đảng viờn – giỏ trị lý luận và thực tiễn trong cỏch mạng Việt Nam

PGS.TS Trần Thị Thu Hương

Công tác giáo dục lý luận cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là một trong những yếu tố cơ bản, quyết định đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong công cuộc đổi mới đất nước. Vỡ vậy, hơn lúc nào hết, những giá trị củả tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác giáo dục lý luận cho cán bộ đảng viờn cú ý nghĩa thiết thực cho cụng cuộc đổi mới hiện nay.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của công tác giáo dục lý luận cho cán bộ Đảng viên, xuất phát từ quan điểm coi trọng vai trò của lý luận đối với hoạt động thực tiễn.

2. Về mục đích giáo dục lý luận cho  cán bộ đảng viên, theo Hồ Chí Minh,  trước hết nhằm trang bị hệ thống luận điểm cách mạng, khoa học, phương pháp luận biện chứng, từ đó nâng cao giác ngộ lý tưởng cách mạng, củng cố niềm tin vào tiền đồ cộng sản chủ nghĩa bằng các cơ sở khoa học, trang bị công cụ nhận thức nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn thường xuyên biến đổi đặt ra.

3. Các khâu của quá trình giáo dục lý luận cho cán bộ đảng viên từ việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ, đến chỉ ra nội dung, phương pháp, nguyên tắc và các điều kiện tiến hành giáo dục lý luận có hiệu quả. Giáo dục lý luận là chính là trang bị hệ thống luận điểm, phương pháp tư duy khoa học cho cán bộ hạn chế và khắc phục những sai lầm trong hoạch định đường lối chính sách cũng như trong chỉ đạo thực tiễn, nhất là bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí. Kinh nghiệm thực tiễn lịch sử  của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng thế giới đã chỉ ra rằng, khi nào những người cộng sản chủ quan duy ý chí thì sẽ dẫn đến sai lầm, khuyết điểm, thậm chí gây tổn thất lớn cho cách mạng. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ căn nguyên sâu xa  của sai lầm, khuyết điểm đó chính là” kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông[9].

Những quan điểm mang tính hệ thống trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận cho cán bộ Đảng viên, đã và đang là những định hướng   có giá trị lâu dài, bền vững, nhất là trong các giai đoạn lịch sử có tính chất bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.

  1. 72. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG

NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI

Ths. Trần Thị Vui*

Từ năm 1911 đến năm 1941, Nguyễn Ái Quốc sống và hoạt động nước ngoài – một nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc. Có thể nói thời gian 30 năm làm người Việt Nam sống ở nước ngoài đó cũng là thời gian hình thành quan trọng góp phần hình thành tư tưởng Nguyễn Ái Quấo – Hồ Chí Minh.

Trong công tác vận động kiều bào ở Pháp, Trung Quốc, Liên Xô, Lào, Thái Lan… Người luôn chú ý khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc của người Việt Nam; đồng thời vận động, chỉ đạo phong trào Việt kiều hoạt động đúng hướng.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Ngay từ những ngày đầu lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi, động viên đồng bào ta ở nước ngoài phát huy tinh thần yêu nước, tranh thủ nhân dân sở tại, ủng hộ đất nước.

Với 30 năm (1911-1941) sinh sống và hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc là một Việt kiều và cũng là người làm công tác vận động kiều bào tiêu biểu. Hoạt động của Người trong thời gian bôn ba ở nước ngoài gắn liền với công tác vận động cách mạng, vận động quần chúng, để lại dấu ấn sâu đậm về phương pháp và phong cách vận động đồng bào ở xa Tổ quốc. Những năm tháng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Bác Hồ luôn chú ý đến công tác vận động kiều bào hướng về quê hương, hướng về Tổ quốc. Trong các lời kêu gọi, thư gửi, thư chúc Tết hằng năm, Người không bao giờ quên những người con xa Tổ quốc.

  1. 73. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ CHUYỂN TỪ

CÁCH MẠNG DÂN TỘC DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÊN CÁCH MẠNG XHCN Ở VIỆT NAM

TS Trần Văn Hải

Học viện CT – HC QG Hồ Chí Minh

Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là cống hiến vĩ đại của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam. Tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, tiến hành thực hiện các nhiệm vụ dân chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội, gắn liền với tự do hạnh phúc cho nhân dân là một tất yếu đã được Hồ Chí Minh khẳng định, được thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam kiểm chứng.

1. Cơ sở lý luận của sự khẳng định trên là kết quả của hoạt động thực tiễn, nghiên cứu luận điểm cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác – Lênin mà Hồ Chí Minh đã thể hiện trong quan điểm tư tưởng và chỉ đạo thực tiễn của Người, được Người khái quát thành mục tiêu, đường lối, nhiệm vụ của các giai đoạn cách mạng cụ thể và đi vào thực tiễn bằng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách tổ chức thực hiện của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.

2. Tư tưởng Hồ Chí  Minh, quan điểm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và thực tiễn cách mạng Việt Nam thể hiện rõ: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển sang cách mạng XHCN là tất yếu và chỉ đạo xuyên suốt, trong từng giai đoạn cách mạng luôn được Hồ Chí Minh và Đảng ta điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp thực tiễn; hình thái xã hội dân chủ nhân dân không tồn tại vĩnh cửu mà là quá độ, nó có thể chuyển thành hình thái XHCN hoặc tư bản chủ nghĩa. Sự chuyển biến có phù hợp với quy luật phát triển của thời đại hay không đòi hỏi bộ tham mưu và những người cầm lái còn chuyển cách mạng ở mỗi quốc gia, dân tộc phải có trí tuệ khoa học, bản lĩnh cách mạng và sáng tạo.

  1. 74. Tóm tắt tham luận

NÉT ĐẶC SẮC TRONG CHỦ NGHĨA NHÂN VĂN

HỒ CHÍ MINH

PGS.TS Trần Văn Phòng

Chủ nghĩa nhân văn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là ngọn nguồn, cơ sở, nền tảng quy định toàn bộ mục đích sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh xét về bản chất là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản được thực hiện phù hợp với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam.

Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh có những nét đặc sắc sau:

Thứ nhất, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là sự kết tinh độc đáo những giá trị của chủ nghĩa nhân văn Việt Nam với chủ nghĩa nhân văn của nhân loại và được nâng lên một tầm cao mới phù hợp với thực tiễn thời đại trên cơ sở chủ nghĩa nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin;

Thứ hai, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn duy vật;

Thứ ba, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh là chủ nghĩa nhân văn hành động (chủ nghĩa nhân văn thực tiễn);

Thứ tư, chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh có sự thống nhất hữu cơ giữa tình yêu thương con người với lòng bao dung, độ lượng và niềm tin vào sức mạnh,  phẩm giá con người của Hồ Chí Minh. Những nét đặc đặc sắc trên trong chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh thống nhất hữu cơ với nhau, tác động, bổ sung cho nhau, cùng nhau làm nên nét riêng chỉ có trong chủ nghĩa nhân văn của Người.

  1. 75. Tóm tắt tham luận

Minh chứng từ Nơi ở và làm việc của Người

Trần Viết Hoàn

Bài viết đề cập đến nơi ở và làm việc của Bác Hồ tại Khu Phủ Chủ tịch là giá trị nhân văn cao cả Hồ Chí Minh đã thể hiện ở nơi đây minh chứng cụ thể về danh hiệu mà Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc phong tặng cho Người “Danh nhân văn hoá thế giới”. Giá trị nhân văn Hồ Chí Minh là được thể hiện ở chính cuộc sống đời tư của mình, về:

– Bữa ăn, chốn ở của Người…

– Những tấm gương cụ thể của Bác về cái mặc…

– Những việc làm cụ thể về đức tính khiêm tốn mà Bác Hồ nêu gương sáng…Bác Hồ đã để lại cho đời, cho dân tộc, cho nhân loại tấm gương sáng ngời về đạo đức, tấm gương về những đức tính và đạo lý làm người cao cả, đẹp đẽ nhất. Bác dạy cho Người làm quan tránh được lối sống quan dân lễ cách.

Những cái đẹp về cuộc sống của một danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh, cái đẹp thực sự truyền thống nhưng hiện đại, cái đẹp giản dị nhưng văn minh, cái đẹp khiêm tốn nhưng vĩ đại, cái đẹp của đời riêng nhưng phù hợp với quy luật của đời chung là tài sản vô giá của dân tộc và nhân loại. Để từ đó mà “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, thiết thực xây dựng nền văn hoá mới trong bối cảnh thời đại của thế kỷ XXI./.

  1. 76. Tóm tắt tham luận

HỒ CHÍ MINH VỚI TƯ TƯỞNG NGOẠI GIAO VÌ HÒA BÌNH HỮU NGHỊ

VÀ HỢP TÁC GIỮA CÁC DÂN TỘC

TS.Trần Minh Trưởng*

Xuất phát từ truyền thống ngoại giao hòa bình hữu nghị của ông cha ta và từ những bài học kinh nghiệm đấu tranh ngoại giao trong lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh đã chắt lọc và hình thành tư tưởng ngoại giao hòa bình, hữu nghị trong những điều kiện mới.

Tư tưởng ngoại giao của Người đã góp phần tích cực vào việc tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận tiến bộ trên thế giới đối với việc công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia và ủng hộ Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược. Hồ Chí Minh đã thành công trong việc phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo ra sức mạnh tổng hợp, làm gia tăng sức chiến đấu của dân tộc Việt Nam trên tất cả các phương diện: Gìn giữ chính quyền cách mạng, huy động mọi lực lượng vào cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi; Thúc đẩy công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, bảo vệ hậu phương miền Bắc; Đặc biệt, ngoại giao đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Sự chỉ đạo xây dựng, hoạch định đường lối, chính sách đối ngoại và những hoạt động ngoại giao trực tiếp của Hồ Chí Minh đã trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

  1. 77. Tóm tắt tham luận

SỨC SỐNG VĨ ĐẠI CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG TIẾN TRÌNH CÁCH MẠNG VIỆT NAM DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

TS Trần Quốc Long

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn tất yếu của cách mạng Việt Nam trên con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người, do Hồ Chí Minh phát hiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện thành công, đánh dấu bước ngoặt căn bản co cách mạng Việt Nam và mở đường cho các dân tộc trên thế giới đấu tranh giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước vận dụng vào việc hoạch định đường lối chiến lược; được hiện thực hóa sinh động và thành công rực rỡ qua các thời kỳ cách mạng cho đến thắng lợi ngày nay.

Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã thực sự khẳng định độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng. Đây là di sản vô giá và trường tồn của Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa sâu sắc trong thời đại ngày nay.

  1. 78. Tóm tắt tham luận

GÓP PHẦN HIỂU THÊM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ CON NGƯỜI VÀ BỒI DƯỠNG NHÂN TỐ CON NGƯỜI

CHO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VIỆT NAM

PGS.TS Trịnh Đình Tùng –

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Lý tưởng đấu tranh giải phóng con nguời, bảo vệ những giá trị của con người đã đi theo xuyên suốt sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Hồ Chí Minh.

Đối với Hồ Chí Minh, con người vừa là động lực vừa là mục tiêu giải phóng của cách mạng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Con người không phải là một khái niệm trừu tượng. Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn cụ thể và mang tính lịch sử.

Từ lâu trước khi các nhà nghiên cứu đi sâu phân tích vấn đề này trên nhiều lĩnh vực: triết học; xã hội học; tâm lý học; luật học… khi động viên, lãnh đạo nhân dân thực hiện những nhiệm vụ cách mạng, Hồ Chí Minh là người luôn nhấn mạnh vai trò của nhân tố con người và đã tích cực hoá nhân tố con người một cách khéo léo, đầy hiệu quả.

Những lợi ích thực tế do cách mạng mang lại cho mỗi người dân chính là tác nhân kích thích tới nhân tố con người, có tác dụng quyết định trong việc tích cực hoá nhân tố con người trong quá trình giành độc lập, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh nổi lên với vai trò chủ thể sáng tạo của nền dân chủ nhân dân, là động lực đồng thời là mục tiêu của cuộc cách mạng mà nhân dân Việt Nam tiến hành.

Xây dựng con người Việt Nam hiện nay, đặc biệt là thế hệ trẻ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự chuẩn bị tích cực và chủ động nhất nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cho triển vọng của đất nước và dân tộc Việt Nam trên con đường phát triển theo lý tưởng của Bác Hồ và mục tiêu của CNXH trong tương lai./.

  1. 79. Tóm tắt tham luận

Ý NGHĨA NHỮNG CỐNG HIẾN TO LỚN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÌ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

PGS. TS Võ Xuân Đoàn

Đại học ngoại ngữ – Tin học thành phố Hồ Chí Minh

Bài viết khẳng định và chứng minh ý nghĩa những cống hiến lớn lao của Hồ Chí Minh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên 3 vấn đề.

1. Ý nghĩa những cống hiến lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh dành độc lập dân tộc. Chủ yếu ở việc hoạch định đường lối đúng và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Ý nghĩa lớn lao của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc là gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.

3. Ý nghĩa phương pháp luận Hồ Chí Minh chính là: Đi theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh đề ra là duy nhất đúng.

Bài viết sử dụng các sự kiện lịch sử để chứng minh cho các nhận định nêu trên.

  1. 80. Tóm tắt tham luận

CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI SỰ NGHIỆP ĐỘC LẬP DÂN TỘC

VÀ THỐNG NHẤT TỔ QUỐC

PGS, TS Vũ Đình Hòe

I- Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập, dân tộc, thống nhất Tổ quốc

– Trong lịch sử nhân loại, việc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập dân tộc không phải là đặc điểm riêng có của một dân tộc nào, song thật hiếm có một dân tộc như dân tộc Việt Nam, phải thường xuyên đấu tranh chống lại nhiều kẻ thù mạnh hơn gấp.

– Hồ Chí Minh đã phải trải qua gần 10 năm đầy gian truân thử thách ở nhiều châu lục, gắn bó chặt chẽ với phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và chính Người đã tìm thấy con đường cứu  nước và giải phóng dân tộc đúng đắn “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên toàn thế giới khỏi ách nô lệ”.

– Trong quá trình lãnh đạo cách mạng chống thực dân, đế quốc để giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh đã vượt trước các bậc tiền bối và những người cùng thời trong việc đề ra chiến lược, sách lược, phương pháp cách mạng để tập hợp lực lượng, tiên đoán và chớp thời cơ để giành thắng lợi cho cách mạng. Công lao to lớn của Người mãi mãi được Đảng ta, dân tộc ta và bạn bè quốc tế tôn vinh.

II- Tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội để thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Các Đại hội IV, V, VI, VII, VIII, IX và X của Đảng đều khẳng định tiếp tục thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và “Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Thắng lợi của hơn 24 năm đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thắng lợi của tư tưởng đường lối độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh, là thắng lợi của Đảng và nhân dân Việt Nam đã nắm vững và giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Hồ Chí Minh trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vì mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

  1. 81. Tóm tắt tham luận

GÓP PHẦN TÌM HIỂU VỀ PHONG CÁCH NGOẠI GIAO

HỒ CHÍ MINH

PGS. TS Vũ Dương Huân

Tổng lãnh sự Việt Nam tại Viễn đông, Liên bang Nga

Bài viết bố cục thành hai phần;

  1. Đôi điều về phong cách ngoại giao.

Trước khi đưa ra quan niệm của mình về phong cách ngoại giao, tác giả đã khảo cứu khái niệm phong cách, phong cách ngoại giao của các nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu và tìm ra sự giổng và khác nhau của họ về quan niệm – phạm trù mang tình công cụ nà. Tiểu kết phần này, tác giả không chỉ đưa ra quan niệm, định nghĩa của mình về phong cách ngoại giao mà còn đề cập đến mối quan hệ của nó với tư tưởng, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao.

  1. Những nét đặc trung phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh

Thứ nhất, kiên quyết các vấn đề về chiến lược, nguyên tắc…song vô cùng mềm dẻo về các vấn đề sách lược.

Hai là, linh hoạt, uyển chuyển song rất quyết đoán, đặc biệt ở những thời điểm bước ngoặt quan trọng của tiến trình cách mạng.

  1. 82. Tóm tắt tham luận

VẤN ĐỀ “DÂN LÀM CHỦ” TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

PGS,TS Vũ Quang Vinh

Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

Sau nhiều năm bôn ba tìm đường cứu nước để tìm kiếm một nền dân chủ thật sự, đúng theo nghĩa “dân làm chủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Đảng lãnh đạo nhân dân Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước lúc đi xa, Người căn dặn: “ Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát

Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, từ Hội nghị thành lập Đảng (2-1930) và trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam, vấn đề dân chủ luôn là một nội dung cốt lõi của cách mạng Việt Nam. Vấn đề dân chủ được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm toàn diện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, trong đó xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân do dân, vì dân mà nòng cốt là khối liên minh công, nông, trí thức là vấn đề xuyên suốt cách mạng Việt Nam. Từ khi lập nước đến nay, quyền con người của người Việt Nam ngày càng được quan tâm , bảo vệ và đã thu dược nhiều thành quả quan trọng. Để thực sự xây dựng một đất nước trong đó “ dân làm chủ” theo tư tưởng Hồ Chí Minh chúng ta cần thực hiện đồng bộ những giải pháp cụ thể

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ gắn liền với sự phát triển và hoàn thiện tư tưởng cách mạng của Người, đã đem lại thành công cho dân tộc ta trong thế kỷ XX và đang tiếp tục soi đường cho sự nghiệp đổi mới để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

  1. 83. Tóm tắt tham luận

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

Tiến sĩ Vũ Trường Giang*

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có một lịch sử phát triển, bản sắc văn hóa riêng. Nhận thức rõ vai trò, vị trí của vấn đề dân tộc, trong đó có vai trò, vị trí quan trọng (trong qúa trình dựng nước, giữ nước của các dân tộc thiểu số (DTTS)) ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt về vấn đề này.

Suốt mấy mươi năm trên cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng và chính phủ xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chính sách đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, cho nên đã phát huy lòng yêu nước, động viên sức người, sức của cho kháng chiến và kiến quốc, phát triển kinh tế, văn hóa, từng bước nâng cao đời sống đồng bào. Có thể nói đối với đồng bào các dân tộc thiểu số, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm và sự quan tâm đặc biệt. Người coi trọng công tác dân vận đồng bào, từ việc tuyên truyền giáo dục, giúp đỡ đồng bào các dân tộc thiểu số để đồng bào có được ý thức đoàn kết và bình đẳng dân tộc, xóa bỏ thành kiến dân tộc, khắc phục tập tục lạc hậu, chăm lo phát triển sản xuát để từng bước đưa đời sống đồng bào các dân tộc thoát khỏi đói, nghèo.

Bài viết tập trung phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về các dân tộc thiểu số với bốn nội dung sau:

1. Vai trò của các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp cách mạng.

2. Các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, tương trợ.

3. Quan tâm phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào các DTTS.

4. Quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ người DTTS.


* Bé T­ lÖnh b¶o vÖ l¨ng Chñ tÞch Hå ChÝ Minh

* Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

* GS.TS. Khoa Lịch sử – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

** TS. Khoa Lịch sử – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

* Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương.

* Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh chÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh

* Viện Hồ Chí Minh thuộc Học viện CTHCQG Hồ Chí Minh.

[1] – Khoa LÞch sö, Tr­êng §HKHXHNV, §HQGHN.

[2] – Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb CTQG. H., 1995, tr. 500.

[3] – Hồ Chí Minh. Toàn tập, Sđd. T. 4, tr. 486.

[4] -Báo Nhân dân. số 4730 ra ngày 22-3-1967.

4 – Hồ Chí Minh . Sđd . T. 4, tr. 40.

5– Hồ Chí Minh.. Sđd. T.4, tr. 303.

* Gián đốc Học viện Chính trị – Hành chính khu vực III.

[7] Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao

* Trưởng Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Hành Chính Khu vực I

* Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

* Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng – Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh.

* Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

1. Hồ Chí Minh, Tòan tập, tập.3 (1930-1945), NXB CTQG, Hà Nội, 2009, tr.431

2. Sách đã dẫn, tr. 431.

* Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

[9] Hồ Chí Minh, Sđ d, t5, tr. 233.

* Häc viÖn ChÝnh trÞ – Hµnh chÝnh quèc gia Hå ChÝ Minh

* Viện Hồ Chí Minh thuộc HVCT-HCQG. Hồ Chí Minh.

* Khoa Dân tộc & Tôn giáo, Học viện Chính trị – Hành chính khu vực I.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: