KẾT LUẬN/Sách: “Hồ Chí Minh – con người của sự sống”

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

1. Sức sống của con người Hồ Chí Minh biểu hiện ở cuộc sống của ông có đầy tham vọng.

Phàm là người nào có đức dày, có tâm lành, có trí sáng, có tầm cao, có tài kinh bang tế thế, có ý chí lớn lao dời non lấp bể thì người đó không thể không có tham vọng.

Hồ Chí Minh là một con người như thế.

Hồ Chí Minh là người mang đầy tham vọng lớn lao. Tham vọng của ông không phải là nhằm lo lấy cái đích là làm cho bản thân ông giàu có về vật chất, được ăn ngon, mặc đẹp, có nhà to cửa rộng, nhà lầu xe hơi, vợ con đề huề, có quyền cao chức trọng, v.v. Tham vọng của ông, như ông nói một cách nôm na, đó là “sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong Tài liệu Tuyệt đối bí mật (Di chúc), ông còn nêu “điều mong muốn cuối cùng” của ông là “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[1]. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh dấn thân vào cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, không phải chỉ trong phạm vi đất nước ông mà còn cho cả toàn nhân loại cần lao.

Hồ Chí Minh đã thoát khỏi mọi sự cám dỗ cá nhân, đúng như ông lấy lời Mạnh Tử khuyên cán bộ, đảng viên là “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Ông dùng quyền lực của nhân dân uỷ thác cho mình với cái chức trách là Chủ tịch Chính phủ rồi Chủ tịch nước để mưu việc lớn cho dân, cho nước, cho người lao động trên toàn thế giới, và có thể nói là đắc dụng. Đến như khi sắp rụng về cội, trong Di chúc, ông viết đoạn bổ sung năm 1968: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng, không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[2].

Cả cuộc đời Hồ Chí Minh vất vả, đầy lo toan cho sự nghiệp lớn lao. Ông mồ côi mẹ lúc 10 tuổi, lo đám tang cho mẹ ở đất khách quê người (Kinh thành Huế) trong cái thời khắc tứ cố vô thân. Ông ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mà trong túi không có một xu, phải đem sức vóc thư sinh nai lưng làm những công việc nặng nhọc kiếm tiền để sống và hoạt động. Ông bị hai lần cầm tù, bị một cái án tử hình vắng mặt; chịu nhiều cảnh thiếu thốn, có lần trong tù “Gầy đen như quỷ đói/Ghẻ lở mọc đầy thân”, răng rụng mất mấy chiếc, mắt mờ, bị lao phổi. Ông là người có đầy nghị lực để chiến thắng bệnh tật nhiều lúc hành hạ ông. Ông chịu cảnh bị cảnh sát thực dân đế quốc săn lùng; chịu cảnh không dễ chịu khi mặc dù toàn tâm, toàn ý mưu việc lớn cho độc lập của Tổ quốc, tự do, hạnh phúc của đồng bào, cho giải phóng nhân loại cần lao mà oái oăm thay vẫn bị cấp trên, bạn bè, đồng chí, học trò của mình hiểu lầm. Không ít lần ông là thiểu số trong một số sự việc, mà chỉ có thực tế dần dần mới cho thấy kết quả cái thiểu số của ông là đúng.

Hình như các bậc danh nhân thường hay trải qua không ít quãng đời gian truân, long đong lận đận. Hồ Chí Minh kiên trì cho cái đúng, bảo vệ cái đúng và đầy lòng vị tha. Từ thuở xưa, lúc hàn vi, Hồ Chí Minh đã được các bậc chí sĩ hoặc các bậc cao niên đánh giá cao, đầy khích lệ và tin tưởng. Có người nói xấu ông. Tờ báo La Dépêche Coloniale đã có những bài viết phản ứng, phê bình gay gắt về những bài báo của Nguyễn Ái Quốc khi Nguyễn Ái Quốc tố cáo chủ nghĩa thực dân. Tờ báo này cho rằng, Nguyễn Ái Quốc là người đầy tham vọng cá nhân và còn cho rằng, Nguyễn Ái Quốc chẳng có sứ mệnh gì do nhân dân Việt Nam giao phó cho cả. Nguyễn Thế Truyền, một người Việt Nam trí thức yêu nước ở Pháp, đã viết bài “Un bolsévick jaune” đăng trên báo Pháp Le Paria, số 9, ngày 1-12-1922, trong đó nêu rằng: “Anh Nguyễn đầy tham vọng ư? Đúng. Nhưng anh Nguyễn tham vọng cái gì? Tham vọng giải phóng anh em của anh bị rơi vào vòng bóc lột hết sức dã man. Có tham vọng nào cao quý hơn thế không?… Ngực anh không có huân chương. Túi anh không có ngân phiếu chính phủ. Nhưng anh mang nguyện vọng của một dân tộc bị áp bức”[3]. “Nguyễn Ái Quốc có tham vọng giải phóng đồng bào thoát khỏi cùm kẹp của thực dân Pháp, đem lại tự do, hạnh phúc cho dân Việt Nam…Nguyễn Ái Quốc không được chính quyền Đông Dương uỷ nhiệm bày tỏ ý kiến trên báo Le Paria. Nhưng tiếng nói của Nguyễn Ái Quốc phản ánh khát vọng của dân Việt Nam muốn được cơm no áo ấm, được tự do, không bị áp bức. Tiếng nói của Nguyễn Ái Quốc là tiếng nói của toàn dân Việt Nam. Vậy các ông ở báo La Dépêche Coloniale hãy im mồm đi, đừng vu khống”[4].

Cụ Phan Châu Trinh hồi ở bên Pháp đã có nhiều lần tranh luận với Hồ Chí Minh. Cụ không đồng tình với phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh. Cụ Phan Châu Trinh cho rằng: “Bấy lâu nay, tôi cùng anh và Phan (Phan Văn Trường – MQT chú giải) đàm đạo nhiều việc, mãi tới bây giờ, anh cũng không ưa cái phương pháp khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh của tôi. Còn tôi thời lại không thích cái phương pháp ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội của anh, và cả cái lý thuyết thâu nhân tâm của Phan”[5]. Chúng ta hiểu ý Cụ Phan Châu Trinh viết “ngọa ngoại chiêu hiền, đãi thời đột nội” tức là nằm ở ngoài nước chiêu hiền nạp sĩ, đợi thời cơ về nước hoạt động. Cụ Phan Châu Trinh khuyên Nguyễn Ái Quốc: “Tôi khuyên anh nên thu xếp mà về, đưa tài năng của mình khích động nhân dân, hô hào đồng bào ba kỳ đồng tâm hiệp lực để mà đánh đổ cường quyền áp chế ắt là thành công”[6].

Tuy không tán thành phương pháp đó, nhưng Cụ Phan Châu Trinh, vốn là người rất kiệm lời khen, đã viết trong một bức thư ngày 28-2-1922 gửi cho Hồ Chí Minh: “Thực tình, từ trước tới nay, tôi không khinh thị anh mà ngược lại, tôi còn cảm phục anh nữa là đằng khác”[7]. Cụ Phan Châu Trinh còn viết: “Anh Nguyễn, tôi tường tâm với anh đã rõ nguồn cơn. Bây giờ thân tôi tựa chim lồng cá chậu. Vả lại cây già thì có rễ lay, người già thì trí lẫn, cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả giận, may ra có tỉnh giấc hồn mê. Còn anh như cây dương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông…Tôi cầu chúc anh thành công và hy vọng thấy mặt nhau ở quê hương xứ sở”[8]. “Cây dương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hỏi, lý thuyết tinh thông…– đó là những lời đánh giá của Phan Châu Trinh dành cho Hồ Chí Minh – những lời đánh giá đồng thời là những lời khen không dễ gì mà có được ở Phan Châu Trinh.

Còn đối với Cụ Phan Bội Châu, nhà yêu nước đầy nhiệt huyết muốn cứu nước theo đường lối vũ trang bạo động để lập nhà nước cộng hoà đại nghị tư sản nhưng không thành, bị thực dân Pháp bắt, quản thúc tại Huế, cụ tự tổng kết rằng, cuộc đời của cụ là một trăm thất bại mà không có lấy một thành công. Phan Bội Châu cùng quê và cùng trang lứa với cha của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Sắc. Cụ khẳng định rằng, có người khác giỏi hơn lớp của cụ đứng ra làm được cái việc là giành độc lập dân tộc mà lớp của các cụ không làm xong – người đó là Nguyễn Ái Quốc[9].

2. Sức sống của Hồ Chí Minh là ở bản lĩnh của con người ông được hình thành qua bao sóng gió của cuộc đời.

Cuộc đời của Hồ Chí Minh trải qua nhiều sóng gió. Điều đáng nói nhất ở đây là Hồ Chí Minh đã vượt qua nhiều sóng gió đó, chủ động, tích cực tôi rèn trong sóng gió đó để trưởng thành. Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh chỉ nhằm một cái đích là giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, xây dựng một đất nước hùng cường, trong đó mọi người có cuộc sống tốt đẹp về cả vật chất và tinh thần, mọi người trên thế giới đều được giải phóng.

Đó là cái đại sự trong cuộc đời Hồ Chí Minh. Mọi cái khác còn lại đều là tiểu tiết. Bản lĩnh đó là bản lĩnh của một trái tim, khối óc lo toan đại sự. Vì thế, đối với mọi khó khăn, trở ngại, Hồ Chí Minh đều cố gắng vượt qua, và mọi khổ ải đối với Hồ Chí Minh không làm ông sờn lòng, hơn thế Hồ Chí Minh còn sống một cuộc sống ung dung, tự tại, thanh thản. Cũng vì thế mà chúng ta thấy ở Hồ Chí Minh một tấm lòng quả cảm, một sự quyết tâm vô cùng tận, một tấm lòng bao dung, vị tha, một đại nghĩa phi thường, một trí lực dồi dào, một nhân cách đặc biệt. Nếu được coi cuộc đời Hồ Chí Minh là một cuốn phim tư liệu thì cuốn phim đó có nhiều tập, nhiều cảnh ken dày những tình huống hấp dẫn, chứ không phải cứ đều đều, xem xong chẳng đọng lại được gì trong tâm trí người xem.

3. Sức sống của Hồ Chí Minh được thể hiện qua đạo đức của ông, mà đó là thông điệp của sự phát triển.

Hồ Chí Minh hoá thân vào dân tộc và nhân loại cần lao với những giá trị đạo đức tốt đẹp nhất. Hồ Chí Minh hiện thân cho những giá trị tốt đẹp nhất mà bất cứ ai có lương tri đều mong muốn đạt được. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã trở thành cuốn sách giáo khoa về đạo đức mới cho các thế hệ người Việt Nam yêu nước. Đạo đức của Hồ Chí Minh có sức lay động, đi vào tận tâm khảm của những người chân chính, biến thành sức mạnh làm cho con người ta luôn luôn sống vươn lên các giá trị chân, thiện, mỹ.

4. Sức sống Hồ Chí Minh biểu đạt qua văn hoá và chính cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh trở thành giá trị văn hoá kiệt xuất của dân tộc và nhân loại.

Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật tiêu biểu trong lịch sử nhân loại có tác động mãnh liệt vào tiến trình phát triển văn hoá. Sự nghiệp của ông là cái nền văn hoá mà trên đấy biểu đạt những giá trị toàn cầu, những khát vọng của con người, của các dân tộc khác nhau, có bản sắc, cốt cách, đặc tính khác nhau nhưng thống nhất, hài hoà trong những giá trị chung nhất, tốt đẹp nhất mà con người toàn nhân loại và các dân tộc trên thế giới khát khao vươn tới. Đó là sự thống nhất trong đa dạng. Nhà văn hoá Hồ Chí Minh khuếch những cái đa dạng ấy lên, kết dính sự thống nhất đó vào một khối văn hoá đầy sức sống để bảo tồn, thúc đẩy chân, thiện, mỹ.

Hồ Chí Minh sống với nhân dân Việt Nam, với nhân dân tiến bộ trên thế giới với giá trị vĩnh hằng là con người văn hoá. Trong cuộc sống, nhiều giá trị của con người, của cộng đồng người mà có thể dễ quên, nhưng đối với giá trị văn hoá thì không bao giờ mất đi. Quyền cao, chức trọng, tiền bạc…không là gì cả nếu không có chất văn hoá. Hồ Chí Minh được người đời ngưỡng mộ chính là tư chất văn hoá.

Nhà văn hoá Hồ Chí Minh chính là sức sống của Hồ Chí Minh.

5. Hồ Chí Minh, tư tưởng, gương sáng của ông có sức lan toả vô cùng tận.

Hồ Chí Minh cũng chịu trách nhiệm trước các biến cố, những khuyết điểm, hạn chế, thậm chí sai lầm, trong bước đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Hoàn cảnh, cơ chế…tác động và có nhiều lúc cũng chế ngự suy nghĩ và hành động của ông. Hồ Chí Minh là một con người như bao con người khác, dù có đầy phẩm chất và năng lực ưu tú thế nào đi chăng nữa, vẫn không át nổi những hạn chế mà ông là một thành viên của lực lượng tạo ra cơ chế ấy, mặc dù có lúc ông bị thiểu số trong lực lượng đó. Những sai lầm của quá trình thực hiện cải cách ruộng đất, những sai lầm của duy ý chí, chủ quan trong cải tạo, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, v.v. chắc chắn có phần trách nhiệm của ông. Chúng ta không có ý định đưa Hồ Chí Minh ra ngoài cái cơ chế đó.

Hồ Chí Minh đã vượt qua biết bao trở ngại, gian truân, vượt cả chính mình trong đường đời. Hồ Chí Minh nhận biết được cái đúng và kiên trì bảo vệ. Và bằng cách như thế, bản lĩnh của ông mới được trui rèn. Sức sống mãnh liệt ở Hồ Chí Minh chính là lẽ phải và lòng kiên trì, ở chỗ bao dung, mưu lược, tất cả vì đại sự. Hồ Chí Minh đã đi qua những năm tháng đầy cam go, biết gạt đi những tiểu tiết, ông đã đến được với chân lý và ông đã thành công ở nước nhà, tuy chưa trọn vẹn. Lúc Hồ Chí Minh đi vào thế giới bên kia thì sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước vẫn đang còn dang dở, thế giới vẫn đang nhiều toan tính, đất nước Việt Nam vẫn đang trong những thời gian nước sâu lửa nóng.

Nhưng, Hồ Chí Minh vẫn sống trong những nhịp đập của đất nước, vì sự nghiệp của ông, tư tưởng của ông vẫn đồng hành cùng dân tộc. Điều tuyệt diệu là ở chỗ đó. Nếu thân thế và sự nghiệp của Hồ Chí Minh, tư tưởng Hồ Chí Minh ông chỉ là của thời gian Hồ Chí Minh sống thôi, thì giá trị cuộc đời Hồ Chí Minh không lớn lắm. Hồ Chí Minh để lại một sự nghiệp, một tư tưởng, nhưng tôi thấy một điều quan trọng nhất ở ông: đó là Nhân cách Hồ Chí Minh. Nhân cách đó không lẫn vào đâu được, một nhân cách cao cả đi cùng sự phát triển của dân tộc, gắn với đồng bào của ông, gắn với sự nghiệp đấu tranh vì sự tiến bộ trên thế giới.

Hồ Chí Minh đã trở thành một ông thánh sống. Nhưng, lạ thay và cũng đúng thay, ông không phải là một nhân vật huyền thoại, mà con người ông, cái đức, cái tâm, cái tầm, cái trí, cái tài của ông đã thành giá trị thực luôn hiển hiện trong tâm khảm của mỗi một người dân yêu nước trong các thế hệ người Việt Nam kế tiếp nhau. Sự nghiệp của ông còn dang dở, và người Việt Nam yêu nước khắp các phương trời đang tiếp bước ông. Hồ Chí Minh có trong hành trang của dân tộc Việt Nam và nhân loại cần lao tiến bước vào văn minh, tiến bộ. Cả cuộc đời Hồ Chí Minh chính là một thông điệp cho sự phát triển. Và, chính vì như vậy, giá trị cuộc đời Hồ Chí Minh trở thành một tài sản tinh thần quý báu cho dân tộc Việt Nam và – rộng hơn nữa – cho nhân dân lao động trên toàn thế giới.


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 500.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 501.

[3] Theo Đặng Hoà: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh : Một nhân cách lớn, http://www.tiasang.com.vn, 14:23:23, ngày 5-9-2007.

[4] Theo Ngô Đăng Lợi: “Nguyễn Thế Truyền – Một nhà trí thức đáng kính”, Tạp chí Xưa và Nay, số 312, tháng 7-2008, tr. 19.

[5] Đây là trong bức thư của Cụ Phan Châu Trinh gửi cho Nguyễn Ái Quốc ngày 18-2-1922. Xem tác phẩm của Thu Trang: Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp (1911-1925), Nxb Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2000, tr. 176-181. Xem thêm báo Nhân Dân, số 10553, ngày 19-5-1983.

[6] Như trên.

[7] Như trên.

[8] Như trên.

[9] Không biết từ khi nào, có người cho rằng, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) có câu “sấm”:

Đụn Sơn phân giới

Bò Đái thất thanh

Thủy đáo Lam Thành

Song Ngư thủy biển

Dịch nghĩa:

Núi Đụn nứt làm đôi

Khe Bò Đái mất tiếng

Nước đến chân Lam Thành

Hai hòn Ngư nước cạn

Sau này, có một trận động đất, núi Đụn bị nứt đôi (phân giới) và khe Bò Đái nước chảy không phát ra tiếng kêu lớn nữa (thất thanh). Đến thời Tự Đức (1848-1883), nước lũ sông Lam cuốn phăng nhiều làng, nó chảy tận đến chân Lam Thành; còn song Ngư là hòn Son và hòn Mực ở ngoài Cửa Hội lúc ấy nối liền với nhau vì nước biển cạn dần. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sau bao phen cứu nước thất bại, nhân dân trông chờ vào một đấng lãnh tụ mới.

Lúc ấy, Phan Bội Châu ở đất địa linh nhân kiệt Nam Đàn (Nghệ An) nổi lên như một thần đồng hay chữ, đứng đầu “Tứ hổ Nam Đàn” (Tứ hổ Nam Đàn gồm: Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương, Nguyễn Sinh Sắc). Phan Bội Châu đỗ đầu Giải nguyên kỳ thi hương khoa Canh Tý (1900) nhưng không ra làm quan, mà chiêu tập lực lượng đứng lên chống Pháp.

Lúc ấy, có ai đó khâm phục tinh thần của Phan Bội Châu, đã sửa câu sấm trên đây thành:

Đụn Sơn phân giới

Bò Đái thất thanh

Nam Đàn sinh thánh

Và, họ cho thánh đây chính là Phan Bội Châu. Cái câu “Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” mà người đời có ý nói về cụ Phan Bội Châu thì cụ không nhận về mình. Cụ nói rằng: “Kể cái nghề cử tử thì xưa kia tôi cũng có tiếng thật. Dân ta thường có thói trọng người văn học mà gán cho người ta cái đó. Nhưng, nếu Nam Đàn có thánh thật thì chính là ông Nguyễn Ái Quốc chứ không phải ai khác”

(Theo Đặng Hoà: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh : Một nhân cách lớn, http://www.tiasang.com.vn, 14:23:23, ngày 5-9-2007 và theo Bá Ngọc, Trần Minh Siêu: Chuyện kể bên mộ bà Hoàng Thị Loan, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2007, tr. 47 – 54.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: