Chương 4: VĂN HOÁ SOI ĐƯỜNG CHO QUỐC DÂN ĐI/Sách: “Hồ Chí Minh – con người của sự sống”

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

I. Vai trò, chức năng của văn hoá
Cách nhìn của thế giới
Quan niệm của Hồ Chí Minh
II. Hồ Chí Minh  –  sự tiếp biến văn  hoá. Vượt qua cú sốc văn hoá
III. Văn hoá trong tư tưởng Hồ Chí Minh – Cách nhìn biện chứng     trong xã hội hiện đại
Văn hoá với chính trị, kinh tế, xã hội
Văn hoá lối sống
Vượt qua cú sốc về giáo dục

Đạo đức là một bộ phận của văn hoá, có nghĩa là tôi/và nhiều người nữa mạnh dạn nêu lên khái niệm “văn hoá đạo đức”. Có thể có bạn đọc không ưng. Ở đây, trong cuốn sách này, chương trước, tôi muốn tách riêng ra để viết về đạo đức Hồ Chí Minh như là một triết lý phát triển qua hành động thực tế của Hồ Chí Minh.

Ở trong chương này, tôi viết riêng về văn hoá ở con người ông. Đúng thế. Hồ Chí Minh là nhà văn hoá. Hồ Chí Minh là nhà văn hoá trùm lên tất cả các cái danh khác mà người ta gọi ông.

Có người được coi là anh hùng dân tộc nhưng không phải là nhà văn hoá. Cũng có người được coi là nhà văn hoá nhưng không phải là anh hùng dân tộc. Hồ Chí Minh có hai trong một.

Văn hoá của Hồ Chí Minh chính là cái nền cho con người đứng vững. Văn hoá Hồ Chí Minh chính là những giá trị lan toả, thẩm thấu vào mọi ngóc ngách của cuộc sống. Nhà văn hoá Hồ Chí Minh là người hoạt động chính trị chuyên nghiệp. Hồ Chí Minh đem văn hoá phổ vào sự phát triển.

I. Vai trò, chức năng của văn hoá

Văn hoá hiện hữu trong tất cả mọi mặt đời sống của con người. Nó là những gì do con người và vì con người. Có lẽ chính vì thế mà Tổ chức văn hoá – Giáo dục – Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) trong Nghị quyết về Thập niên thế giới phát triển văn hoá 1987-1997 viết rằng: “Các trọng tâm, các động cơ và các mục đích của phát triển phải được tìm trong văn hoá”. Cũng trong buổi lễ phát động về Thập niên thế giới phát triển văn hoá ấy, Tổng thư ký UNESCO lúc đó là F. Mayor cho rằng: “Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách khỏi môi trường văn hoá, thì nhất định sẽ xảy ra mất cân đối nghiêm trọng, cả về kinh tế lẫn văn hoá và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ vị suy giảm rất nhiều” (Theo tài liệu của Uỷ ban quốc gia Thập niên thế giới phát triển văn hoá).

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rằng: văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội.

Còn Hồ Chí Minh cho rằng: Văn hoá soi đường cho quốc dân đi.

Sự nghiệp văn hoá của Hồ Chí Minh đã toả sáng và sẽ còn thúc đẩy một cách mạnh mẽ sự phát triển của dân tộc Việt Nam, một dân tộc sau bao nhiêu năm kinh qua chiến tranh tàn khốc và chịu tác động của nhiều biến cố của thời cuộc, kể cả sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, hiện đang kiên trì, quyết tâm bước trên con đường đổi mới vì mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Văn hoá Hồ Chí Minh có trong chiến lược, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam mới. Văn hoá Hồ Chí Minh có trong chính trị, kinh tế, xã hội. Văn hoá Hồ Chí Minh có trong tiếng gầm đại bác của bộ đội ta nã vào trận địa quân xâm lược ở Điện Biên Phủ. Văn hoá Hồ Chí Minh có trong điệu hò của các chị, các anh dân công lội suối băng rừng rầm rập tiếp tế cho chiến trường. Văn hoá Hồ Chí Minh có trong trận tiến công chiến lược Mùa Xuân năm 1975 mang tên ông. Văn hoá Hồ Chí Minh có trong tiếng i tờ đánh vần của những em trẻ cắp sách đến trường. Văn hoá Hồ Chí Minh có trong cuộc chiến đấu khổng lồ chống lại nghèo nàn và lạc hậu, v.v. Văn hoá Hồ Chí Minh mang những giá trị vật chất và tinh thần của lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng hàng ngàn năm vào thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới. Văn hoá Hồ Chí Minh mang âm hưởng hào hùng của cả nhân loại cần lao tiến bước vào sự nghiệp giải phóng con người để vươn tới cái tất yếu của tự do.

Dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển được là nhờ có sức mạnh của văn hoá. Giáo sư Trần Văn Giàu viết rất hay rằng: “Trong truyện Tây du, có ông Tề Thiên Đại Thánh náo thiên cung, bị phạt đè dưới Ngũ Hành sơn 500 năm, không chết nhờ linh đơn của Thái Thượng Lão Quân, song lại phải nhờ Bồ Tát Quan Âm mới được giải thoát, còn Văn Lang bị đè dưới núi 2 lần lâu hơn, quá ngàn năm, vẫn sống nhờ linh đơn văn hoá của chính mình, và cũng nhờ linh đơn văn hoá đó mà tự mình có sức lật đổ Ngũ Hành Sơn”[1].

Hồ Chí Minh là người đã mở ra một nền văn hoá mới cho dân tộc Việt Nam, huy động các tiềm năng vào việc xây dựng chế độ mới. Hồ Chí Minh đã làm rạng rỡ dân tộc Việt Nam bằng sự nghiệp văn hoá của chính mình. Đúng như nhà thơ Liên Xô Ôxíp Manđensơtam năm 1924 nhận xét về Hồ Chí Minh trong một bài báo của mình sau khi nói chuyện với ông: từ Nguyễn Ái Quốc toả ra một nền văn hoá, không phải là văn hoá châu Âu, mà có lẽ là nền văn hoá của tương lai.

Bản thân văn hoá có nội hàm rất rộng, vì thế trong khuôn khổ của cuốn sách này, tôi chỉ nêu lên một số vấn đề về văn hoá Hồ Chí Minh và vận dụng một số quan điểm của ông vào việc phân tích khía cạnh văn hoá và sự phát triển hiện nay.

Việt Nam và nhân loại đang ở vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới. Thế kỷ XX đầy bi hùng để lại cho thế kỷ mới những di sản lớn. Những giá trị mang sang thế kỷ mới vẫn là giá trị của văn hoá. Loài người đang và sẽ phấn đấu cho một tương lai tươi sáng, trong đó có việc phát huy những giá trị tốt đẹp và đấu tranh chống lại những gì là phản động, lạc hậu. Sự nghiệp đó chính là sự nghiệp của văn hoá.

Nhà văn hoá Hồ Chí Minh không chỉ là con người của thế kỷ XX mà còn là của các thế kỷ tiếp theo, góp phần soi rọi ánh sáng văn hoá của mình cho nhân loại đi tới.

CÁCH NHÌN CỦA THẾ GIỚI

Đã có rất nhiều định nghĩa hoặc khái niệm về “văn hoá”. Có người định nghĩa theo phạm vi rộng, có người nhìn theo một góc độ hẹp. Nhưng rộng hay hẹp thì văn hoá đều là những giá trị do con người tạo ra. Tổ chức UNESCO, cho đến năm 1982, đã thống kê (tuy nhiên chưa đầy đủ) trên thế giới có khoảng hơn 200 định nghĩa “văn hoá”. Đến nay, chắc con số đó đã lên nhiều hơn nữa.

Với một nỗ lực chung của các thành viên đa quốc gia, năm 1982, trong Tuyên bố về những chính sách văn hoá, Tổ chức UNESCO thống nhất định nghĩa về văn hoá như sau:

“Trên ý nghĩa rộng nhất, văn hoá có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình, là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”.

Quả thực, đây là định nghĩa khá dài, cấu trúc từ nhiều ý, và đương nhiên chuyển từ một ngôn ngữ khác ra tiếng Việt có khi chuyển còn lủng củng.

Từ định nghĩa trên đây, tuy có thể phương pháp không được hay lắm, nhưng tôi thử “cắt lát” thành các ý sau đây:

Một là, văn hoá là những giá trị làm nên sắc thái của một xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội (trong định nghĩa trên gọi là “tính cách của một xã hội”). Tổng hợp những giá trị đó, cả tinh thần và vật chất, để mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng tồn tại và phát triển, để nó là nó chứ không phải ai khác.

Trong văn hoá, người ta hay đề cập cái “bản sắc” thì đó chính là sự tổng hợp những giá trị làm nên bản sắc của một xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội được xác định. Nói như vậy để thấy rằng, có bao nhiêu xã hội, bao nhiêu cộng đồng người trong xã hội thì có bấy nhiêu bản sắc văn hoá. Cũng có người không thừa nhận “bản sắc văn hoá”, bởi vì bản sắc cản trở cho sự phát triển. Tôi thì cho rằng, nhất định có bản sắc văn hoá. Hồ Chí Minh thì không gọi bản sắc văn hoá, mà gọi là “cốt cách”.

Trong một bài viết dưới dạng bức thư của tác giả Thanh Nguyễn, một người Mỹ gốc Việt Nam đăng trên VietNamNet ngày 21-10-2008, gửi từ San Diego về Việt Nam cho một người tên là T., có kể nhiều việc trong cuộc sống của bà con Việt kiều tại Mỹ, từ chuyện bầu cử nghị sĩ, bầu cử tổng thống Mỹ, chuyện thế hệ trẻ người Mỹ gốc Việt Nam đã hoà nhập vào văn hoá Mỹ, có mặt tốt, nhưng có mặt làm cho thế hệ cha anh đầy lo lắng. Những chuyện như vậy đặt lại vấn đề không nhỏ một tý nào, đó là vấn đề bản sắc dân tộc trên con đường giao lưu tự nhiên để hội nhập và phát triển. Bức thư viết đoạn cuối cùng cũng là lời kết rằng: “Còn nỗi lo lâu dài của những gia đình Việt chúng tôi ở đây là làm sao giữ được văn hoá Việt. Để con cái không quên gốc gác, tổ tiên ông bà cha mẹ chúng ở đâu. Mới đây, đọc trên mạng, tôi bật cười khi một vị nào đó nói rằng, văn hoá là cái tự đọng lại, nên không cần giữ gìn bản sắc. Ông ấy quên rằng, văn hoá là “mưa dầm thấm lâu”, nhưng sự suy thoái, sự thoái hoá văn hoá lại rất nhanh, nhất là với mỗi quốc gia còn nghèo, đang trên đường hội nhập để phát triển, nếu con người ta không có kế sách đủ mạnh”.

Giữa xã hội này, hoặc nhóm người trong xã hội này, với xã hội kia, hoặc nhóm người trong xã hội kia không đồng nhất về văn hoá, tuy có thể có những điểm đồng nhất nhưng không phải là tất cả, mà có những điểm riêng. Tổng hợp cả những điểm đồng nhất và cả những điểm riêng biệt, và chủ yếu là những điểm riêng biệt vì những điểm riêng này có vai trò quyết định, sẽ cho chúng ta thấy “văn hoá” của một xã hội hoặc của một nhóm người trong xã hội.

Hai là, văn hoá của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội được thể hiện bằng cả những giá trị vật chất và cả những giá trị tinh thần. Ngoài những giá trị, ngoài sinh hoạt vật chất trong quá trình tồn tại và phát triển, con người và xã hội con người, chính là thành quả, là cái ra đời từ sự tác nhân của quá trình lao động, tức là một quá trình tác động đến tự nhiên và xã hội. Như thế, con người chính là sản phẩm của tự nhiên.

Theo định nghĩa của UNESCO trên đây, nổi lên vấn đề quyền con người – với tư cách là một trong những vấn đề cơ bản của văn hoá. Con người có quyền được sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền sáng tạo. Hơn nữa, quyền sống ở đây không chỉ là sống về sinh học chung chung mà quyền được sống trong ấm no, tự do, hạnh phúc. Do vậy, mọi hành vi xâm phạm đến quyền sống và sáng tạo của con người là hành vi vi phạm nhân quyền và đương nhiên, theo lôgíc tất yếu của định nghĩa này, thì đó là hành vi phản văn hoá. Những điều đó đã được phản ánh rõ trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới gồm 30 điều do Hội uỷ viên nhân quyền Liên hiệp quốc khởi xướng vào tháng 6 năm 1948 và được Đại hội Liên hiệp quốc thông qua ngày 10-12-1948 tại Pari (Thủ đô Cộng hoà Pháp).

Nhưng, đi vào thực tế, có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề quyền con người, khó mà thống nhất từ các cộng đồng, quốc gia khác nhau trên thế giới. Đã khó thống nhất, chưa hiểu được nhau, thì các cộng đồng, quốc gia đó lại còn chưa ngồi với nhau, hoặc ngồi với nhau chưa nhiều, để đối thoại. Không ngồi với nhau để đối thoại mà khổ thay, lại còn sớm quy kết, có tính chất “kết tội” nhau.

Quyền con người là vấn đề của văn hoá, đúng theo định nghĩa UNESCO trên đây. Do vậy, hiểu nó và hành xử với nhau trên bình diện quốc tế về vấn đề này cũng phải trên cái trục của văn hoá.

Một hành vi, một sự vật và hiện tượng nào đó, trong con mắt của dân tộc này được coi là hành vi của văn hoá, của cái tốt đẹp, thì chưa chắc đối với dân tộc khác lại được coi là như vậy, mà có khi người ta cho đó là hành vi, sự vật, hiện tượng phản văn hoá. Thậm chí, đối với trong cùng một dân tộc, thì tiêu chí lúc này là văn hoá, nhưng lúc khác nó lại là không văn hoá. Có thể có những điều mà nư­ớc này, người này cho là bình thư­ờng, cho là tốt thì ngư­ời kia, nước kia cho là lạ, lố bịch, là dạy đời, v.v.

Trước dịp ông Phan Văn Khải, lúc ấy là Thủ tướng của Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sang thăm và làm việc chính thức tại Mỹ, tôi đọc trên mạng internet thấy người ta viết một cái tin rằng, ông Peterson, cựu Đại sứ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ tại nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đề đạt ý kiến cho Việt Nam nhân dịp này nên chú ý quảng bá hình ảnh Việt Nam trên đất Mỹ. Đó là ý tưởng tốt, từ cái tâm tốt. Ông Peterson cho rằng, Thủ tướng là một bộ mặt của đất nước; rằng, mọi hành vi ứng xử của Thủ tướng phải đạt đến mục tiêu quảng bá đó.

Vì vậy, ông đề nghị, nếu Việt Nam cần thì ông ấy sẽ tìm cho một chuyên gia của Mỹ về vấn đề này để tư vấn, giúp ông Phan Văn Khải. Đó là câu chuyện bình thường của người Mỹ và, như trên tôi đã viết, đó cũng là sự thành tâm của ông Peterson. Nhưng, đối với Việt Nam, liệu có được bao nhiêu người thông cảm cho lời đề nghị đó của Peterson? Thậm chí, có người còn cho rằng, lời đề nghị đó của Peterson là khiếm nhã. Cần gì phải ai dạy, cần gì ai cố vấn, tư vấn. Người Việt Nam không quen với tư duy ấy. Sự thật ứng xử, thao tác ngoại giao trong chuyến đi của Thủ tướng Phan Văn Khải như thế nào thì chắc là nhiều người biết vì phóng viên đã ghi và Đài Truyền hình Việt Nam VTV1 đã phát sóng, trong đó có cảnh hai vị, G. Busơ và Phan Văn Khải, ngồi nói chuyện với nhau mà ông Phan Văn Khải cứ trưng tờ giấy ra đọc (mà đọc không tự tin lắm), còn ông G. Busơ thì lại không cần giấy tờ gì.

Người Mỹ, hay rất nhiều nước khác trên thế giới, cứ hay nhận xét công khai về chuyện của nước này, nước nọ. Lại còn hay xếp hạng, hoặc cho vào danh sách này, danh sách khác nữa: Đội bóng xếp thứ mấy của thế giới trong tháng này, năm này; chỉ số năng lực cạnh tranh về môi trường kinh doanh năm này của tỉnh này, nước này hiện xếp thứ mấy[2]; tham nhũng xếp thứ mấy; tình hình tự do tôn giáo, tình hình nhân quyền của nước nọ được kết luận, được xếp như thế nào trong bảng tổng sắp năm nay, v.v.

Chắc là nhiều người có tâm trạng trách móc rằng, ai khiến nước Mỹ hay các nước khác xếp hạng hoặc cho vào danh sách này, danh sách nọ (chẳng hạn “Danh sách những quốc gia cần đặc biệt quan tâm về tôn giáo” – viết tắt tiếng Anh là CPC), rồi tuyên bố đưa nước này vào, đưa nước kia ra khỏi cái danh sách đó. Đưa ra rồi thì một số người lại đề nghị đưa vào trở lại danh sách. Thành thử ra nghe cứ như là cái danh sách đó cầm tù cả một quốc gia khác. Nhiều người Việt Nam chúng ta chắc là không quen, không chịu cái lý ấy của người Mỹ.

Ngoài những giá trị chung nhất, quyền con người, xét theo khía cạnh văn hoá, nó được biến đổi theo năm tháng và theo thời cuộc. Ngay cái đẹp cũng vậy. Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng dân cư, hoặc trong cùng một cộng đồng dân cư, thời nay quan niệm cái đẹp khác, thời khác quan niệm cái đẹp lại khác. Ngay như các hoa hậu thế giới chẳng hạn. Xem trên vô tuyến truyền hình, có người thốt lên: cô ấy mà hoa hậu ư? Ở Myanma, có dân tộc, người phụ nữ phải đeo vòng cổ thật nhiều để cái cổ cao lên vì quan niệm của họ đã là người phụ nữ đẹp thì phải có cổ thật cao. Trước năm 1945, và kéo dãn thêm những năm sau nữa, ở Việt Nam có lẽ không ai đánh giá rằng một cô gái nào đó là đẹp khi cô gái ấy không nhuộm răng đen. Đã là cô gái đẹp thì cô gái đó phải có răng đen tuyền, đen rưng rức giống như những hạt na; nếu không, cô gái đó sẽ bị chê là có hàm răng trắng hơn hớn. Hoặc một cô gái Việt Nam có khi lại được người Việt Nam coi là có duyên khi có chiếc răng khểnh, nhưng đối với người châu Âu thì đó là điều bất thường, không có duyên gì hết, cần sớm được đưa vào bệnh viện để xử lý.

Hồ Chí Minh quan niệm quyền con người là quyền được sống trong một nước độc lập, tự do, hạnh phúc. Vì thế, ông nêu ra quan điểm: Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Ông nêu rõ ràng nhất là trong bản Tuyên ngôn độc lập do ông thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội) chiều ngày 2-9-1945.

Trong bản Tuyên ngôn độc lập ấy, Hồ Chí Minh dẫn cả ý trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm 1776: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Rồi ông dẫn cả ý của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1793: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Hồ Chí Minh có ý nêu: thế giới (mà điển hình là Mỹ và Pháp) coi như vậy, thì các nước khác, trong đó có Việt Nam, cũng coi như vậy và quyết tâm phấn đấu cho được như vậy. Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố với thế giới vào cái buổi chiều nắng vàng nhạt Ba Đình rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc – đó là những vấn đề cơ bản bậc nhất của quyền con người. Người nào, thế lực nào đã muốn tước đi của người khác cái quyền sống thì người đó, thế lực đó đừng có kết tội người khác vi phạm quyền con người. Họ không đủ tư cách để dạy người khác về vấn đề bảo vệ và thực thi nhân quyền.

Đó là lý lẽ chủ yếu của các dân tộc đã từng bị xâm lược, bị giết chóc, bị tàn phá. Nước đã mất độc lập thì dân cũng mất luôn cái quyền tự do, quyền con người không được bảo đảm. Do đó, Hồ Chí Minh gắn quyền con người vào với nền độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh còn có quan niệm rõ hơn: tuy sống trong độc lập, nhưng dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập chẳng để làm gì. Được độc lập rồi, thì dân phải được tự do, dân phải được ăn no, mặc ấm, được hạnh phúc, được học hành, được lao động, được nhiều quyền nữa…để phát triển. Đó là ham muốn tột bậc của Hồ Chí Minh và cũng là quan điểm cơ bản nhất của nhà văn hoá Hồ Chí Minh về quyền con người.

Văn hoá, do đó, được hiểu là những gì do con người và vì con người; và bản thân con người chính là sản phẩm của văn hoá.

Ba là, văn hoá thúc đẩy sự hoàn thiện con người. Con người – như chúng ta biết – luôn có xu hướng vươn tới chân, thiện, mỹ. Đó là con người nhân bản, con người của ý thức xã hội. Ai đó là ác, nhưng nhất định từ góc khuất của tâm hồn vẫn có những điều thiện, mà chỉ chờ khơi dậy, tính thiện sẽ bước ra từ góc khuất đó để toả sáng, có khi át cả cái ác tức thời.

ở khía cạnh này, định nghĩa của UNESCO nêu lên tác dụng của văn hoá, “làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý”. Nói vấn đề đạo lý, nhân cách của con người thì quả là vấn đề muôn năm cũ, nhưng vẫn luôn luôn đầy nhạy cảm. Con người nào đó có văn hoá hay không có văn hoá, trình độ văn hoá cao hay bình thường, hoặc thấp là chủ yếu ở điểm này. Chính đây là động lực mạnh mẽ nhất cho hành động của con người và nói lên một quy luật văn hoá gắn liền với sự phát triển.

Sự phát triển này vừa gắn liền, vừa là kết quả của quá trình đấu tranh chống lại sự phản văn hoá. Đó cũng là quá trình lựa chọn, đào thải và tinh luyện để tìm hướng vươn lên những điều tốt đẹp. Cuộc đời của con người ta là một quá trình rèn luyện, con người vươn lên để khẳng định vị trí, vai trò có ích trong xã hội. Sự hiện hữu của từng cá nhân chính là tế bào để làm nên sức sống của toàn thể cộng đồng. Không có cá nhân thì không thể nào có cộng đồng. Ngược trở lại, không có cộng đồng thì cá nhân cũng không thể tồn tại. Do đó, văn hoá vì con người, do con người, mang tính nhân văn.

Bốn là, định nghĩa về văn hoá của UNESCO trên đây được diễn đạt theo nghĩa rộng, chứ không theo nghĩa hẹp, và đó là cách nhìn nhận trên cơ sở của các quốc gia thành viên UNESCO.

Thực ra, đi vào khái niệm văn hoá là điều rất khó, người ta dễ có những ý kiến khác biệt. Bởi vì, văn hoá là cái bao la khôn cùng của chính con người trong vũ trụ, và văn hoá cũng là những cái cụ thể mà con người có thể cảm nhận bằng năm giác quan được. Ăn, mặc ở…là văn hoá đấy. Chúng ta có nhai nuốt được nó, có thể sờ thấy, có thể mặc trong người, v.v. Nhưng, văn hoá cũng là một cái gì đấy thật trừu tượng. “Cái gì đấy” là thuộc cái không thể nào cụ thể được, không thể đong, đo, đếm được. Khó không có nghĩa là không thống nhất với nhau được. UNESCO năm 1982 đã (tạm) ghi nhận những ý kiến thống nhất trong định nghĩa đó.

Song, cuộc sống vốn rất đa dạng và vô cùng phong phú. Bên cạnh định nghĩa trên, còn có rất nhiều định nghĩa khác nữa, không phủ nhận, không đối lập mà là một dạng thể hiện vấn đề cốt lõi của văn hoá.

Quan niệm của Hồ Chí Minh về văn hoá là một trong số đó. Chúng ta sẽ đề cập điều này ở phần sau. Gớt (Goethe) – người Đức – cũng nêu ý kiến về văn hoá rất độc đáo: “Phải kể đến cả y phục lẫn ẩm thực, cả lịch sử lẫn triết học, cả nghệ thuật lẫn khoa học, cả trò chơi trẻ con lẫn tục ngữ, cả khí hậu lẫn phong cảnh, cả kinh tế lẫn văn học, cả chính trị lẫn riêng tư…và ngay cả hướng dẫn về những tai hại đốn rừng phá núi cũng phải được nêu ra khi đề cập khái niệm văn hoá”[3].

Lại có quan niệm cho rằng, văn hoá không chỉ với tư cách là hoạt động xã hội của con người, mà còn là với tư cách là sự phát triển tự nhiên của chính bản thân con người. Văn hoá trước hết là quan hệ của con người với tự nhiên. Tự nhiên không đứng ngoài văn hoá. Văn hoá là trình độ người của sự phát triển các quan hệ xã hội, và con người là sản phẩm trực tiếp của tự nhiên đồng thời là chủ thể năng động của các quan hệ xã hội. Nếu tách khỏi tự nhiên thì con người sẽ không còn sự sống.

Như vậy là văn hoá có vai trò và chức năng rất quan trọng trong mọi thời đại trên thế giới. Nói đến cách nhìn của thế giới về vai trò, chức năng của văn hoá tức là chúng ta đã thừa nhận tính toàn nhân loại của văn hoá. Nói đến tính toàn nhân loại của văn hoá lại phải nhắc lại rằng, nó không phủ nhận tính dân tộc của văn hoá. Chúng ta không tuyệt đối hoá từng tính chất đó. Và do vậy, đề cập cách nhìn của thế giới về vai trò, chức năng của văn hoá, chỉ là trên mức độ tương đối. Tương đối là bởi vì nó lại được nhìn – dù không tự giác và tự giác – qua một lăng kính ý thức hệ và qua lăng kính của dân tộc. Không ở đâu như lĩnh vực văn hoá, sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội lại được nhìn với phương cách đa diện, đa chiều, đan chéo, phong phú và phức tạp đến như vậy.

Hiện nay, vấn đề này lại càng tinh tế và phức tạp hơn khi xu thế quốc tế hoá đời sống xã hội đang diễn ra một cách nhanh chóng, nó như những đợt sóng dồn dập trùm lên hoặc va đập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong những cơn sóng toàn cầu đó, tất cả các dân tộc trên thế giới, không trừ một dân tộc nào, đều đứng trước những thời cơ, thách thức lớn trên con đường phát triển của mình.

Với toàn cầu hoá, sự phân hoá giàu nghèo giữa các nước trên thế giới diễn ra nhanh hơn và với quy mô lớn hơn; các nước nghèo và kém phát triển càng có nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, bị một số nước kinh tế phát triển bóc lột bằng nhiều hình thức. Toàn cầu hoá thúc đẩy rõ hơn quá trình bất bình đẳng giữa các quốc gia. Theo con số thống kê chưa đầy đủ năm 2004 của Liên hiệp quốc, trên thế giới hiện nay có khoảng 17.000 công ty xuyên quốc gia chi phối kinh tế của nhiều nước và có khoảng 2.500 những người giàu có mà giá trị tài sản của họ bằng tổng giá trị tài sản của 4,4 tỷ người (Con số năm 2004). Do vậy, có lý khi có người cho rằng, toàn cầu hoá hiện nay là toàn cầu hoá có nhiều mặt trái hơn là mặt tiến bộ. Toàn cầu hoá có phải chỉ là toàn cầu hoá về kinh tế không? Đúng là bắt đầu là từ kinh tế, nhưng quá trình của nó diễn ra không phải chỉ là kinh tế, mà còn có nhiều mặt khác nữa, trong đó nhất định có cả văn hoá (Văn hoá theo nghĩa hẹp).

Thế giới nhìn nhận văn hoá trước hết ở vai trò, chức năng nhận thức của nó. Văn hoá là cái thiên nhiên thứ hai do chính con người tạo ra và văn hoá còn tạo ra con người với tính cách nhân bản, một sinh vật cao cấp có ý thức xã hội, có tình cảm, có lý tính. Do vậy, chức năng nhận thức là chức năng đầu tiên của văn hoá. Và như vậy, với chức năng này, văn hoá có trong tất cả các lĩnh vực, nhưng rõ nhất là lĩnh vực giáo dục và liên quan đến trình độ dân trí của từng người, nhóm người hay của mỗi dân tộc. Chính nhận thức đã tạo ra dân trí và dân trí được coi là một nấc thang hay một tiêu chí để “đo” mức độ phát triển của dân tộc.

Do vậy, trên thế giới hiện nay, người ta đo sự phát triển của mỗi nước không chỉ bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mà còn bằng các lĩnh vực khác nữa, trong đó có sự phát triển của dân trí, số người được đi học, bình quân tuổi thọ, tỷ lệ người có việc làm, sự ổn định chính trị-xã hội, môi trường tự nhiên và xã hội trong sạch, bằng việc chăm lo đến đời sống vật chất lẫn tinh thần của cộng đồng dân cư, v.v. Nếu chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế không thôi (tức là kinh tế phiệt) thì sẽ dẫn tới mất công bằng xã hội, lối sống bị tha hoá, thực dụng, ích kỷ…

Do vậy, đề cập sự phát triển là đề cập cả phát triển kinh tế-xã hội, tức là sự phát triển cả về các giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Điều đó cắt nghĩa tại sao một số nước có GDP rất cao, GDP trên đầu người cũng rất cao nhưng vẫn lo ngại và có sự báo động về đời sống văn hoá thấp.

Một anh nhà giàu nhưng vẫn bị xếp vào loại “trọc phú” như thường, nếu như anh ta có trình độ học vấn thấp và trình độ văn hoá kém cỏi. Một mặt khác của tình trạng đó là một anh có trình độ học vấn cao, trình độ văn hoá cao, nhưng anh ta “nghèo rớt mồng tơi”, thì cho dù anh ta tự hào mình sống trong sạch, thanh bạch… thì nghèo và hèn vẫn là anh em sinh đôi. Mà đã hèn, thì cần xem lại cái tư chất của anh ta, cái “chất” văn hoá của anh ta. Trong cốt cách của nhà Nho theo quan điểm Khổng giáo cũng như theo Lão giáo, người ta vẫn thích cái nghèo mà thanh bạch hơn, giống như cây trúc quân tử, như cây tùng, cây bách đứng hiên ngang giữa đất trời. Đó là thanh tao trong cái nghèo chứ không phải thanh tao trong sự giàu sang. Ở đây, theo tôi, cái nghĩa văn hoá đủ đầy là: vừa giàu (sang), vừa thanh bạch, cả hai, chứ không riêng mặt nào, mới là cái đích của con người và xã hội văn minh. Đương nhiên, ở đây/và đối với hiện nay ở Việt Nam, tôi vẫn phải nói thêm là: giàu sang trên cơ sở chính đáng.

Văn hoá có tác dụng nâng cao nhận thức của con người và cũng là phát huy vai trò của con người trong việc tạo ra những giá trị mới của văn hoá. Chức năng nhận thức của văn hoá được các giai cấp, với ý thức chính trị khác nhau, tìm mọi cách “khuôn” theo ý thức hệ nhất định, Nhưng dù sao, cái chung nhất vẫn là nhận thức về cuộc sống theo giá trị nhân bản.

Liên quan đến vai trò, chức năng nhận thức là vai trò, chức năng giáo dục. Ở đây, thể hiện rõ nhất tính giai cấp và dân tộc của văn hoá. Con người có xu hướng vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ. Đó là xu hướng vươn lên không ngừng và qua đó con người luôn luôn hoàn thiện mình, không có điểm dừng. Nhưng sự vươn lên trong xu hướng đó lại là quá trình đấu tranh theo quan điểm của từng giai cấp hoặc theo ý thức hệ và ý thức chính trị chính thống của một quốc gia. Trong vai trò, chức năng này, ngoài cái chung, các sản phẩm văn hoá đều phục vụ cho chính trị. Do vậy, một điều hiển nhiên mà không ai có thể phủ nhận được là văn hoá nói chung và văn học, nghệ thuật nói riêng, nó không ở bên cạnh, nó không ở ngoài mà là ở trong chính trị.

Việc giáo dục thể hiện rõ ở các định hướng nhất định của các giai cấp, các đảng chính trị cầm quyền. Chẳng hạn:

– Giáo dục lý tưởng cho con người

– Giáo dục và định hướng hành động của con người.

Nhưng vẫn có những “dòng” văn hoá đi ngoài sự chủ định của giai cấp, đảng chính trị cầm quyền mà có cũng mang chức năng, đóng vai trò giáo dục chung. Một bức tranh, một bức tượng, v.v.. không thể nói là để giáo dục theo quan điểm của một giai cấp này hay giai cấp nọ. Những tác phẩm nghệ thuật thời phục hưng chẳng hạn, là tài sản tinh thần, có tính giáo dục chung cho mọi giai cấp, cho mọi thế hệ. Công trình Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc là ý đồ của giai cấp phong kiến, nhưng lại là sản phẩm văn hoá chung của loài người. Di sản văn hoá Huế, chủ yếu bao gồm những cung điện, lăng tẩm của vua quan nhà Nguyễn, hình thành do ý định của giai cấp phong kiến. Nhưng sản phẩm văn hoá đó lại có chức năng giáo dục rất sâu sắc về sức mạnh, trí tuệ con người Việt Nam, về lịch sử, về nghệ thuật, v.v. Như vậy, chức năng giáo dục của văn hoá còn vượt lên trên ý thức hệ, nó có sức lan tỏa, thẩm thấu xuyên qua không gian, thời gian, và như vậy, nó có sức sống vĩnh hằng.

Các nhà nghiên cứu trên thế giới về văn hoá khẳng định vai trò, chức năng của văn hoá còn ở phương diện thẩm mỹ. Nhiều người thường báo động là có lúc chúng ta hay lãng quên chức năng này của văn hoá, tức là nói đến giá trị thẩm mỹ của nghệ thuật. Nói đến thẩm mỹ là nói đến việc nhận thức và hưởng thụ hoặc hướng con người tới cái đẹp. Cái đẹp ở đây đã được kết tinh thành giá trị văn hoá và được biểu cảm qua nhiều “kênh” khác nhau của các lĩnh vực cụ thể của văn hoá.

Cuộc sống phong phú của con người là cuộc sống chắt lọc và vươn lên cái đẹp. Cuộc sống thường nhật đó được thể hiện bằng tất cả sự lung linh, huyền ảo của cuộc đấu tranh giữa cái thiện với cái ác và thường là cái thiện thắng thế. Văn hoá thường hướng thị hiếu của con người tới cái đẹp và nâng cao trình độ thẩm mỹ của con người. Điều đó giải thích tại sao mọi cái chạy theo thị hiếu tầm thường hoặc biểu cảm cuộc sống thường nhật một cách thô thiển, phản văn hoá, thì không có đất sống lâu dài. Nó cũng có thể sống nhưng thường chết yểu, vì xã hội sẽ tự điều chỉnh, tuỳ thời gian lâu – nhanh khác nhau chứ không cần những biện pháp hành chính can thiệp, thậm chí dùng những biện pháp hành chính để can thiệp một cách thô bạo thì đến lúc đó những biện pháp đó lại trở thành hành vi phản văn hoá.

Con người có thiên hướng sống cho cái đẹp, hướng tới cái đẹp và cảm xúc, hưởng thụ cái đẹp. Về ý nghĩa đó, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của con người vươn tới những điều tốt đẹp. Con người biết tạo ra hiện thực theo quy luật thẩm mỹ và đó là một trong những điều rất cơ bản để phân biệt con người – sinh vật cao cấp – với các loài động vật khác.

Chính giá trị thẩm mỹ của văn hoá hầu như cùng nội hàm với giá trị đạo đức tốt đẹp của con người. Những phẩm giá, nhân cách, tính nhân đạo, những vấn đề có tính chuẩn mực xử thế ở đời cũng là những yêu cầu của đạo đức. Do vậy, ở đây, không nên và không thể tách bạch hai lĩnh vực này trong đời sống tinh thần của con người – con người thông minh, con người xã hội.

Sự phát triển của xã hội loài người cũng là sự phát triển của xã hội vươn tới cái đẹp. Và như vậy, sự tiến bộ xã hội phản ánh quá trình đấu tranh của loài người cho cái đẹp. Đó thực sự là hành trình chiếm lĩnh cái đẹp mà hành trình này là vô tận, không bao giờ dừng.

Trong giá trị thẩm mỹ của văn hoá theo nghĩa rộng thì văn học, nghệ thuật (thường được gọi tắt là văn nghệ) – lĩnh vực hẹp của văn hoá là lĩnh vực nhạy cảm nhất của văn hoá — phản ánh một cách sinh động nhất và tác động mạnh mẽ nhất tới đời sống hằng ngày của con người.

Mặt khác, trong thời kỳ hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ càng phát triển như vũ bão thì các phương tiện thông tin đại chúng – truyền thông phát triển một cách rộng rãi và nhanh nhạy đã chắp cánh cho các loại hình văn học, nghệ thuật và các lĩnh vực khoa học… bay xa, lan toả vào tất cả các ngóc ngách của đời sống thì văn hoá càng nổi rõ vai trò, chức năng quan trọng là hướng con người cũng như phản ánh cuộc đấu tranh của con người cho cái đẹp.

Con người là một thực thể của vũ trụ (tiểu cũ trụ) và chính con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá. Con người có nhu cầu rất phong phú, mỗi một con người lại có nhu cầu riêng trong cuộc sống. Với nội dung định nghĩa văn hoá như đã nêu ở trên thì vai trò, chức năng của văn hoá còn là ở phương diện giải trí.

Không phải lúc nào và ở đâu, người ta cũng chú ý đến chức năng này của văn hoá. Thật tệ hại biết bao khi con người không biết cách giải trí. Giải trí là hơi thở của văn hoá và chính nó lại tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của con người. Liên quan đến vấn đề này, có chuyện từ khi công chức Việt Nam một tuần lễ làm việc 5 ngày (nghỉ làm việc thứ bảy và chủ nhật) và khi đời sống vật chất nhìn chung đã được cải thiện hơn trước thì có nhu cầu lớn giải trí trong hai ngày nghỉ cuối tuần, nhưng thường là ở giai đoạn đầu không biết cách giải trí, chủ yếu là do thiếu chỗ chơi, thiếu những nơi giải trí.

Có thể nói, tính đa sắc thái của văn hoá có phần xuất phát từ tính đa diện và phong phú của nhu cầu giải trí của con người. Con người, cộng đồng người, ngoài nhu cầu chung giống nhau hoặc tương đối giống nhau về sở thích, về giải trí, thì lại có sở thích riêng. Ngay trong một gia đình chẳng hạn, đơn cử gia đình phổ biến hiện nay trên thế giới là gia đình hai thế hệ là bố mẹ, con cái, thì các thành viên trong gia đình ít khi đồng điệu nhau về sở thích. Tổng hợp các sở thích của từng thành viên trong gia đình, cả sở thích giống nhau và cả sở thích khác nhau, sẽ cho ta một kết quả của văn hoá gia đình (ở phương Đông, nhất là ở Việt Nam, gia đình được coi là tế bào, hay như Hồ Chí Minh coi là hạt nhân, của xã hội). Đó là sự thống nhất trong đa dạng. Thí dụ về gia đình trên đây có thể mở rộng cho cả cộng đồng dân cư, cho mỗi dân tộc – quốc gia và rộng hơn nữa, cho cả nhân loại.

Con người sáng tạo ra các giá trị văn hoá là để cho chính mình và do đó cũng là nhằm đáp ứng nhu cầu sở thích cho mình. Do vậy, giải trí về mặt văn hoá, xét đến cùng, gắn bó chặt chẽ với chức năng giáo dục, thẩm mỹ, nhận thức, v.v. Vì vậy trong cuộc sống, chúng ta lại có cách gọi: “giải trí lành mạnh”, tức là để phân biệt với “giải trí không lành mạnh”, nói đúng hơn là để phân biệt với các giá trị phản văn hoá mà hiện nay tồn tại không ít ở trên thế giới. Chẳng hạn, theo cách gọi của không ít người về cái gọi là “văn hoá đồi trụy”, “viđêô đen”, khiêu dâm, kích động bạo lực, v.v. thì đây là sự giải trí không lành mạnh, là những giá trị phản văn hoá. Do đó, khi nói đến vai trò, chức năng giải trí của văn hoá, chúng ta nên hiểu nó trong phạm vi của cái đẹp, cái lành mạnh.

Con người là chủ thể sáng tạo. Không thể nói tới sự sáng tạo lớn lao của người nào đó khi thân thể hoặc trí tuệ, nhất là rí tuệ (hay cả hai) không phát triển bình thường hoặc bị tổn thương. Giải trí về văn hoá chính là một quá trình nạp năng lượng cho con người, làm cho con người tráng kiện về thể xác, sáng suốt về trí tuệ. Chính văn hoá là một dòng sữa cực kỳ bổ dưỡng làm cho con người lớn lên về mọi mặt.

Ngoài ra, trong xã hội hiện đại, người ta còn đề cập vai trò, chức năng dự báo của văn hoá. Chính con người luôn luôn tìm hiểu những quy luật của tự nhiên và xã hội, phát hiện những quy luật và hành động theo quy luật. Khoa học sinh ra là vì cái đó, nó luôn tìm quy luật, dựa vào đó để hoạt động sáng tạo có hiệu quả. Mù quáng, không hiểu gì về quy luật của tự nhiên và xã hội, hoặc làm trái quy luật thì tất yếu sẽ bị quy luật trừng phạt. Chức năng dự báo của văn hoá cũng là để cho hoạt động của con người có hiệu quả. Con người luôn luôn tác động vào tự nhiên và xã hội. Trong thời kỳ hiện nay, con người đã tiến những bước dài do sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, nhưng con người cũng tạo ra những vũ khí giết mình, tức là xâm hại đến môi trường, sinh thái. Đó chính là sự vi phạm quy luật và bị quy luật trừng phạt.

Người ta dự báo những bước thần kỳ về sự chinh phục của con người đối với tự nhiên ở thế kỷ XXI. Đó là thành tựu của khoa học, dựa trên những căn cứ khoa học. Văn hoá, theo nghĩa rộng, chinh phục cả không gian và thời gian, cho nên nó là hành trang của con người, dự báo cho con người, hướng dẫn tư duy và hành động cho con người.

Chức năng dự báo của văn hoá nằm trong chức năng của khoa học như trên đã trình bày. Đồng thời, trong các lĩnh vực khác của văn hoá cũng có chức năng dự báo, bởi vì văn hoá sinh thành, tồn tại và phát triển theo quy luật, trái quy luật thì không còn là giá trị văn hoá nữa.

Điều đó cắt nghĩa vì sao những danh nhân văn hoá thế giới đều là những bậc vĩ nhân “đi trước thời đại”, có tầm nhìn xa trông rộng, thậm chí trong số họ có tầm nhìn xuyên thế kỷ, mà những người bình thường không thể có được.

Giống như người chơi cờ vua hoặc cờ tướng, người cao cờ thường khi đi một nước, đã nghĩ tới rất nhiều nước cờ tiếp theo chứ không phải chỉ nghĩ được 2 – 3 nước đi. Đại kiện tướng cờ vua Gary Caxparốp (người Nga) có thể thắng được người máy chơi cờ Blue lập trình mấy tỷ nước đi trong một giây.

Người ta đã chứng kiến C. Mác, Ph. ăngghen dự báo về chiều hướng phát triển của xã hội loài người. C. Mác nghiên cứu, “mổ xẻ” xã hội tư bản từ các “tế bào” của nó (hàng hoá – tiền tệ – sức lao động…) để phát hiện ra sự sụp đổ tất yếu của chủ nghĩa tư bản, phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản và là người làm chủ xây dựng xã hội mới: xã hội cộng sản chủ nghĩa.

V.I. Lênin nghiên cứu chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn mới, giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, rồi tư đó chỉ ra rằng cách mạng vô sản có thể nổ ra và giành thắng lợi ở một nước (một mắt xích yếu trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa tư bản), thậm chí ở một nước mà chủ nghĩa tư bản phát triển mới đạt ở trình độ trung bình; rằng một nước tiểu nông, kinh tế lạc hậu có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được mà không cần trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa, v.v.

Nhà văn hoá Hồ Chí Minh, trong cuộc đời của mình, đã đưa ra những dự báo rất chính xác và trong những thời điểm bước ngoặt của lịch sử, đã đưa ra những quyết định mà nhiều người chung quanh không thể ngờ tới vì Hồ Chí Minh có tầm nhìn xa, có trình độ văn hoá chính trị cao, trong đó có cả trình độ dự báo vượt trội lên trên rất nhiều người trong cuộc.

Các chức năng cơ bản trên đây của văn hoá có liên quan chặt chẽ với nhau và làm thành thể thống nhất. Sự “cắt lát” ra các chức năng đó chỉ là tương đối. Chức năng này có thể làm tiền đề hoặc nó có trong chức năng kia.

Chức năng giáo dục, xét đến cùng là chức năng thẩm mỹ và ngược lại. Chức năng giải trí cũng mang một phần của thẩm mỹ và giáo dục. “Chơi mà học, học mà chơi” là vì vậy. Nhiều khi người ta thông qua giải trí văn hoá lành mạnh để giáo dục con người, trong đó có định hướng và giáo dục thẩm mỹ và có khi người ta nhận ra tính hiệu quả cao khi khai thác chức năng này của văn hoá.

Với cách trình bày trên đây, chúng ta thấy rõ hơn vai trò cực kỳ quan trọng của văn hoá trong thời đại hiện nay. Lĩnh vực kinh tế là lĩnh vực “động” nhất trong tiến trình đi lên của mỗi quốc gia. Nhưng chính lĩnh vực này đang cần sự thúc đẩy của văn hoá. Chẳng hạn, kinh tế du lịch, một ngành “công nghiệp không có ống khói”, theo tôi, rõ nhất là văn hoá có trong đó. Trong thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp theo, chắc chắn các quốc gia càng phải tính đến văn hoá trong sự phát triển. Mỗi một quốc gia, dân tộc muốn tiến nhanh và vững chắc không thể không chú ý tới văn hoá.

Thế giới vận động không ngừng. Thế kỷ XX chứng kiến sự vận động của văn hoá, chứng kiến sự đấu tranh giữa văn hoá và phản văn hoá. Loài người đã vượt qua được hai cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc. Loài người đã làm chủ được mình khi gọi thế kỷ XX là thế kỷ phi thực dân hoá. Loài người đã chứng kiến những thành quả khoa học và công nghệ phi thường mà có lẽ chỉ ở thế kỷ trước đó thôi, thế kỷ XIX, chỉ thấy trong giấc mơ.

Nhưng thế kỷ XX cũng đã chứng kiến những mặt trái của sự phát triển, tức là những yếu tố phản văn hoá: gây ra các cuộc chiến tranh tàn khốc giết hại nhau cũng là do con người. Con người gây ra những xâm hại môi trường thiên nhiên và xã hội, sự trỗi dậy của các thế lực phản động quốc tế, kể cả các lực lượng khủng bố, sự bất bình đẳng, sự hận thù giữa các dân tộc và giữa con người với con người, v.v.

Do vậy, sự thực thi các chức năng của văn hoá là quá trình không phải lúc nào và ở đâu trên trái đất này cũng thuận chèo mát mái. Cuộc hành trình của văn hoá, do đó, là một cuộc đấu tranh không ngừng cho sự phát triển. Còn đó, những vấn đề ngổn ngang của thế kỷ XX chuyển giao cho thế kỷ XXI. Ngay trong những thập niên đầu thế kỷ XXI này, loài người của thế kỷ mới và thiên niên kỷ mới đã và đang sẵn sàng đón nhận những gì của thế kỷ cũ để lại và tiếp tục gồng sức cho hành trình mới. Và chúng ta có thể gọi thế kỷ XXI là thế kỷ phát triển tiếp sức của văn hoá.

Dân tộc Việt Nam với vị lãnh tụ, nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh đã là một yếu tố thúc đẩy cho sự phát triển văn hoá thế giới. Chắc chắn trong thế kỷ XXI này, Việt Nam vẫn là một điểm nhấn quan trọng trong cuộc hành trình chung của các dân tộc trên thế giới trên con đường phát triển.

Những quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hoá trở thành những di huấn quan trọng để dân tộc Việt Nam hành động. Cách tốt nhất để chúng ta tỏ lòng trân trọng đối với những di huấn đó là thấm nhuần, vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh vào cuộc sống trên bước đường đổi mới vì những mục tiêu cho một xã hội tốt đẹp.

QUAN NIỆM CỦA HỒ CHÍ MINH

Trong tập Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù), Hồ Chí Minh không chỉ làm thơ chữ Hán, mà ông còn viết Mục đọc sáchMục đọc báo kèm vào những trang cuối cùng của cuốn sổ, bắt đầu từ sau bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”). Hẳn là trong tù, dù rất bị hạn chế, nhưng Hồ Chí Minh cũng đã đọc được một số sách báo và ông ghi chép, suy tưởng trên những trang sách báo ấy.

Trong những trang ghi chép đó, Hồ Chí Minh nêu lên khái niệm văn hoá như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi sự sinh tồn.

Năm điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc.

  1. Xây dựng tâm lý: lý cách, tinh thần độc lập tự cường.
  2. Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng.

3.  Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội.

  1. Xây dựng chính trị: dân quyền.
  2. Xây dựng kinh tế ”[4].

Từ quan niệm trên đây của Hồ Chí Minh, tôi nêu lên bốn nhận xét:

Một là, tuy Hồ Chí Minh không tự cho đó là khái niệm văn hoá nhưng thực sự đó là một khái niệm, mà đó là khái niệm Hồ Chí Minh nêu ra một cách chỉnh thể và khá sớm: năm 1943. Đây là khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, rất rộng. Ông coi cả việc xây dựng chính trị (dân quyền) và xây dựng kinh tế nằm trong việc xây dựng nền văn hoá của dân tộc. Do đó, càng thấy rõ hơn quan điểm của Hồ Chí Minh cho rằng văn hoá ở trong chính trị và kinh tế; hoặc chính trị và kinh tế ở trong văn hoá.

Hai là, một điều đặc biệt là khái niệm trên đây của Hồ Chí Minh viết kèm vào những trang cuối cùng trong cuốn sổ chép những bài thơ Nhật ký trong tù. Trong cuốn sổ đó, Hồ Chí Minh có ghi lại trên một số trang không nhiều những tri thức về quân sự, những tin tức của thế giới và của Việt Nam, phần nhiều ông đọc từ những sách báo tiếng Trung Hoa.

Một sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kỳ lạ là cũng năm đó, năm 1943, tại Việt Bắc, Đảng Cộng sản Đông Dương có bản Đề cương văn hoá Việt Nam do Tổng Bí thư Trường-Chinh soạn thảo, có tác dụng soi đường cho cách mạng Việt Nam[5].

Một ngày ở tù, nói như Hồ Chí Minh, bao giờ cũng dài và chúng ta thấy ông còn bị đói khát, nhất là đói thông tin. Đã có người hỏi rằng, ở trong tù sao Hồ Chí Minh lại có những tri thức chặt chẽ, sâu sắc đến như vậy về văn hoá? Cũng như vậy, có người đã hỏi rằng, trong bộn bề công việc và thiếu thốn thông tin, Hồ Chí Minh làm sao mà dẫn được cả “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của Mỹ và “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền” của Cách mạng Pháp năm 1791 vào trong bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ mà ông đọc tại cuộc mít tinh ở vườn hoa Ba Đình chiều 2-9-1945 ? Ở đời, mọi cái có thể xảy ra, kể cả những cái không thể ngờ tới.

Hồ Chí Minh là con người tự học là chủ yếu. Mà chúng ta biết, những người tự học thành tài thường là có bộ óc trác việt. Họ đọc và nhớ, họ nạp tri thức vào đầu và tôi luyện rồi trú ở đó, ít khi mà rơi vãi. Có người nghe, nhìn, đọc thấy một lần rồi nhớ, nhớ suốt đời. (Tôi đã thấy một số người nhớ số điện thoại của nhiều người khác cứ vanh vách mà không cần tra cứu). Chẳng thế mà Hồ Chí Minh đã gặp ai thì nhớ rất lâu, có khi mấy chục năm sau, qua bao nhiêu cuộc bể dâu, vật đổi sao dời, con người ta đã già đi, nhưng Hồ Chí Minh vẫn nhận ra được. Có thể Hồ Chí Minh đọc ở đâu đó, nghiên cứu tổng hợp từ nhiều nguồn thông tin đâu đó để có thể phát tiết ra bằng chữ viết vào năm 1943 mà ghi lại sau bài thơ cực hay bằng chữ Hán quan niệm về thơ – vốn là một biểu cảm tinh tế của con tim, của văn hoá:

Khán “Thiên gia thi” hữu cảm

Cố thi thiên ái thiên niên mỹ,

Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong

Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,

Thi gia dã yếu hội xung phong.

Nam Trân dịch:

Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”

Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp

Mây, gió, trăng hoa, tuyết, núi, sông;

Nay ở trong thơ nên có thép,

Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

Và thế đấy, thơ – văn hoá nên có chất thép. Đó là quan niệm cách mạng, hiện đại mà các nhà nghiên cứu văn hoá không thể không đề cập.

Ba là, khái niệm văn hoá trên đây là khái niệm rộng, cũng là quan niệm những cái gì do con người và vì con người, tức là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt và những biểu hiện của nó để phục vụ cho con người. Văn hoá ở đây được hiểu không chỉ là các sản phẩm tinh thần mà còn có cả những sản phẩm vật chất. Do đó, từ trước tới nay, chúng ta mới có cách phân loại tương đối: văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, gần đây người ta hay gọi là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Có người lại phản đối cách phân chia này, bởi vì họ cho rằng, trên thực tế không thể nào phân chia như thế được.

Phân loại tương đối là bởi vì có những sản phẩm thật khó mà phân biệt cái đó là văn hoá vật thể hay là văn hoá phi vật thể. Một ngôi đền, ngôi chùa chẳng hạn, đó là nơi để cho con người ta sinh hoạt tâm linh, tín ngưỡng hoặc sinh hoạt văn hoá dân gian. Sự sinh hoạt đó là nhằm đáp ứng, thoả mãn một nhu cầu của con người. Và, như thế, chính đó là lĩnh vực văn hoá phi vật thể. Nhưng, bản thân sự hiện hữu của ngôi đền, ngôi chùa, những kiến trúc, tượng…lại là văn hoá vật thể nhưng đồng thời lại là sự thể hiện và kết tinh văn hoá phi vật thể. Như thế, tổng hợp cả ngôi đền, chùa và các sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo tạo ra văn hoá vật thể và phi vật thể kết hợp nhuần nhuyễn với nhau.

Văn hoá phi vật thể cồng chiêng Tây Nguyên mà UNESCO công nhận cho Việt Nam thành di sản thế giới, theo tôi, không riêng gì xếp vào văn hoá phi vật thể. Đúng là không có nhu cầu và sự thể hiện văn hoá dân gian folklore trong cộng đồng dân cư Tây Nguyên thì không thể nào có văn hoá cồng chiêng. Nhưng, hỏi rằng, không có những chiếc cồng và những chiếc chiêng thì lấy gì mà gõ, lấy gì để mà con người thổi hồn vào những làn điệu cồng chiêng?

Vì những lẽ đó, tôi cho rằng, không nên tuyệt đối hoá cách gọi văn hoá vật chất và văn hoá tình thần hay là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể.

Như vậy, khái niệm văn hoá mà Hồ Chí Minh nêu ra bao gồm tất cả những gì do con người sáng tạo ra để phục vụ cho cuộc sống tốt đẹp của con người. Chính vì thế, trong khi đề cập những điểm lớn xây dựng nền văn hoá dân tộc, Hồ Chí Minh đã nêu lên cả việc “xây dựng kinh tế” – một lĩnh vực mà không phải ai cũng hiểu là một bộ phận của văn hoá, kể cả trong cơ chế thị trường hiện nay khi người ta xây dựng kinh tế, triển khai những hợp đồng mờ ám, trái luật, “béo bở”, thu được nhiều tiền, nhưng lại giết chết những giá trị văn hoá. Đó là một sai lầm lớn làm cho việc xây dựng kinh tế trong một môi trường văn hoá đã bị biến mất.

Nếu chia thành “mặt trận” thì có thể chia thành ba như cách chia của Đề cương văn hoá Việt Nam năm 1943: Mặt trận chính trị; mặt trận kinh tế; mặt trận văn hoá. Nhưng, xét theo nghĩa rộng nhất nội hàm khái niệm văn hoá thì chính trị, kinh tế lại nằm trong văn hoá. Văn hoá ở bên trong của chính trị và kinh tế, hoặc chính trị, kinh tế ở bên trong của văn hoá.

Bốn là, với khái niệm văn hoá như vậy của Hồ Chí Minh, tôi cần thiết có một đôi lời nói lại cho đúng vì hiện nay chúng ta vẫn dùng sai khái niệm. Đó là việc không nên đồng nhất “văn hoá” với “học vấn” tuy rằng hai khái niệm đó có liên quan chặt chẽ với nhau, và thậm chí trong một số trường hợp, “học vấn” lại là cái nền của “văn hoá”. Nhưng trong thực tế, một người có trình độ học vấn cao chưa chắc đã là người có trình độ văn hoá cao.

Đúng thế, có thể có trường hợp một người có trình độ học vấn cao lại thua một người nông dân có trình độ học vấn thấp, thậm chí mù chữ, về cách ứng xử tình làng, nghĩa xóm về nhận thức tình thương con người. Trong rất nhiều bản lý lịch theo mẫu bắt buộc người ta kê khai để làm một việc gì đó, hiện nay vẫn còn mục khai “Trình độ văn hoá” mà thực ra nên sửa lại là “Trình độ học vấn”. Cũng như vậy, đã gọi là “văn hoá” thì chỉ có nghĩa và đồng nghĩa với những giá trị tốt, đẹp.

Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò và chức năng của văn hoá. Ngoài những quan niệm chung có tính chất phổ biến của thế giới, Hồ Chí Minh có những quan niệm liên quan trực tiếp đến quá trình phát triển của dân tộc Việt Nam.

Hồ Chí Minh coi văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của tiến trình xã hội Việt Nam.

Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng bởi vì nó mang tính nhân văn, hướng tới những giá trị tốt đẹp của con người trong hành trình vô tận vươn tới chân, thiện, mỹ. Văn hoá đồng nghĩa với cái tốt đẹp, mọi giá trị ngược hoặc trái với nó là những giá trị phản văn hoá. Hồ Chí Minh coi trọng cái chân, thiện, mỹ và khích lệ mọi người vươn tới nó, khuyên con người ta đấu tranh loại bỏ những điều phản văn hoá. Theo đó, xin đính chính một điều rằng, hiện nay, trong cách dùng từ, dùng khái niệm, một số người hay gọi “văn hoá đen”, “văn hoá đồi trụy”, v.v. Đây là cách gọi không chính xác. Đã là văn hoá thì chỉ có nghĩa tốt, nghĩa đẹp, không có và không thể có “đen”, “đồi trụy”, v.v. Văn hoá, bản thân nó là cái đẹp, cái tốt, còn những cái gì khác nó tức là phản văn hoá.

Mỗi người có thể quan niệm vai trò, chức năng của văn hoá khác nhau nhưng cách quan niệm của Hồ Chí Minh là đi thẳng vào cái cốt lõi, cái bản chất của văn hoá là chủ nghĩa nhân văn. Cốt lõi của nhân văn là thái độ đối với con người. Con người hiện lên với biết bao nhiêu tính cách, tư tưởng, hành động, suy tư, số phận trong cuộc đời… không ai giống ai.

Văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội Việt Nam bởi vì nó luôn luôn hướng tới giải phóng con người. Nhiều người đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh, tìm ra cái cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh và cho rằng: tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội-giai cấp, giải phóng con người.

Mọi con sông rồi cũng phải đổ về biển. Mọi nẻo đường rồi cũng đi đến thành Rôma. Để cái vế “giải phóng con người” sau rốt không phải là xếp thứ tự ưu tiên của tầm quan trọng mà là biểu thị cái lôgíc tất yếu của nó: mọi sự giải phóng rồi cuối cùng đi đến giải phóng con người mà thôi.

Con người hiện chưa vươn tới được tự do, có chăng mới chỉ là một phần của tự do. Vẫn còn đó bao nhiêu áp chế của xã hội và của tự nhiên. Con người đó là con người cá nhân, cá nhân càng đậm nét bao nhiêu thì con người xã hội càng nổi rõ bấy nhiêu. Chính vì vậy mà Hồ Chí Minh luôn luôn coi trọng cá nhân đồng thời luôn luôn coi trọng cộng đồng, cả hai đều được chú ý coi trọng như nhau. Chúng như là nhiều của một, của sự đúc liền một khối.

Tư tưởng Hồ Chí Minh lấy con người làm trung tâm, mọi công việc nhằm đi đến giải phóng con người đều là công việc của văn hoá. Trong văn hoá, một vấn đề cực kỳ quan trọng là vấn đề quyền con người như ở bên trên tôi đã nêu.

Con người, theo Hồ Chí Minh, không chung chung mà con người là một thành viên của xã hội, của dân tộc. Xã hội như thế nào thì sẽ chế định quyền con người như thế ấy.

Ấy thế mà một số người cứ cố tình quên đi cái mối quan hệ ấy, cái lôgíc tất yếu đó, họ muốn đổi trắng thay đen về vấn đề nhân quyền. Tự do là gì? Tự do là sự nhận thức và hành động theo cái tất yếu. Bao giờ con người ta, dù là con người cá nhân, chưa phải con người xã hội (nhưng vẫn bị chế định của vũ trụ), chưa nhận ra cái tất yếu của những điều chung quanh, và do đó chưa thể nào hành động được theo cái tất yếu đó, thì con người chưa có được tự do. Huống hồ chúng ta hiện đang là con người xã hội, mà ở trong môi trường xã hội, có cơ man nào là cái tất yếu.

Một dân tộc nào đó không thể nào có tự do nếu dân tộc đó ăn hiếp một dân tộc khác. Cái sức mạnh của dân tộc đi ăn hiếp đó cuối cùng lại chống lại tự do của chính dân tộc mình. Trong Tuyên ngôn Nhân quyền của Đại Cách mạng Pháp (20 – 26-8-1789), tôi đọc thấy có Điều 4 rất hay về vấn đề Tự do: “Tự do có nghĩa là có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác. Như vậy việc thực hành các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ bị giới hạn trong sự bảo đảm các thành viên khác của xã hội được hưởng các quyền đó”[6].

Đi ra đường, chẳng hạn, nước Anh (và một số ít nước khác) đi bên trái, còn nước Mỹ (và rất nhiều nước khác) đi bên phải. Còn Việt Nam? Nhiều người nhận xét chua chát rằng, Việt Nam chẳng đi bên phải và cũng chẳng đi bên trái mà chỗ nào đi được thì cứ đi theo cái kiểu tự do “đường ta ta cứ đi”. Đi cũng phải có luật “đi” của nó. Đó là cái tất yếu. Nếu cứ tự do đi không theo luật, không theo “cái tất yếu” thì sẽ làm mất tự do của người khác, hoặc tự mình làm mất tự do của chính bản thân mình, thậm chí bị tai nạn giao thông.

Việt Nam hiện là một nước có số lượng người bị tai nạn giao thông cao nhất thế giới, số người chết (số thống kê được) lên đến 12000 người/năm (như vậy, mỗi tháng có khoảng 1000 người chết bởi tai nạn giao thông), số người bị thương gấp đôi số người bị chết, còn tài sản bị hủy hoại thì cũng quá lớn đối với một quốc gia còn nghèo. Thật đáng kinh ngạc vì các con số ấy có khi lớn hơn cả một cuộc chiến tranh. Trong chương trình “Chuyện lạ Việt Nam” mà Đài Truyền hình Việt Nam VTV3 chủ nhật hằng tuần năm 2006-2007, có lẽ nên nêu “chuyện lạ” này. Nó là chuyện lạ của Việt Nam đồng thời là chuyện lạ của thế giới. Tìm nguyên nhân của tình hình đó, có cả nguyên nhân từ sự nhận thức cái tất yếu của mỗi người, nghĩa là từ cả nguyên nhân văn hoá, văn hoá tuân theo pháp luật, văn hoá tôn trọng sự tự do đích thực, chân chính của con người, chứ không phải thứ tự do hoang dã.

Sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam là sự nghiệp đấu tranh cho tự do, tự do cho mỗi người và tự do cho cả một dân tộc, tức là cho cái tất yếu. Và, đó là sự nghiệp của văn hoá. Vì vậy, trong Phiên họp lần thứ 24 (từ ngày 20 tháng 10 đến ngày 20 tháng 11 năm 1987 tại Pari), Tổ chức UNESCO đã “nhắc lại Quyết định số 18C/4351 về việc tổ chức kỷ niệm những vĩ nhân và những sự kiện đã để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại” và ra Nghị quyết kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Hồ Chí Minh, coi Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam.

Trong Nghị quyết đó, có hai đoạn Tổ chức UNESCO đánh giá Hồ Chí Minh liên quan đến vị thế anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hoá kiệt xuất của ông:

“Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

“Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và nghệ thuật, là kết tinh của truyền thống văn hoá hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.

Như vậy là Hồ Chí Minh vừa là anh hùng giải phóng dân tộc vừa là nhà văn hoá kiệt xuất. Không nên và không thể tách bạch hai vị thế đó trong con người Hồ Chí Minh. Sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh là sự nghiệp lớn của văn hoá. Đánh giặc giữ nước, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người chính là sự nghiệp lớn nhất của văn hoá. Hơn thế, ở Hồ Chí Minh còn có tư chất của nhà văn hoá theo nghĩa hẹp: ông là nhà thơ, nhà văn, nhà báo, nhà giáo dục, v.v. Ông có những bài thơ quốc ngữ nôm na, diễn ca, cốt để tuyên truyền, cổ động quần chúng nhân dân trong phong trào thi đua yêu nước. Đặc biệt là ông thường có thơ chúc mọi người khi tết đến xuân về (Thơ chúc tết). Đó là thơ, theo tôi, là loại thơ đặc biệt, vì nó có tính tổng kết, khái quát kết quả đạt được của năm cũ, nêu lên những nhiệm vụ của năm mới. Chỉ có mấy câu thơ thôi, nhưng có khi Hồ Chí Minh khái quát được cả một chiến lược.

Chẳng hạn, ở cuối Thư chúc mừng năm mới, năm 1969, Hồ Chí Minh viết:

Năm qua thắng lợi vẻ vang,

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.

Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,

Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!

“Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” –  không ai là không nhận rõ đó là chiến lược của cách mạng ở miền Nam Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Và, nhân dân Việt Nam đã thực hiện chiến lược đó, thành công ở chiến lược đó: năm 1973 Mỹ đã “cút” khỏi miền Nam Việt Nam theo Hiệp định Pari (ký bốn bên ngày 27-1-1973: Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, Chính phủ Việt Nam Cộng hoà); năm 1975 “ngụy” đã “nhào” với thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975.

Khi Hồ Chí Minh đã qua đời mấy năm, có một thời, ông Trường-Chinh (là nhà thơ bút danh Sóng Hồng) làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước (đứng đầu tập thể nguyên thủ quốc gia). Nhiều người đề nghị Trường-Chinh học theo Hồ Chí Minh là trong Thư chúc tết hằng năm gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước, nên có mấy câu thơ. Trường-Chinh nói rằng, mình không thể làm được như thế; rằng, chỉ riêng Hồ Chí Minh mới có được cái tầm và cái phong cách độc đáo tuyệt vời ấy.

Đặc biệt, Hồ Chí Minh làm thơ chữ Hán mà ngay cả những nhà thơ Trung Quốc, và những người nghiên cứu văn học nói chung ở Việt Nam và trên thế giới đều tâm phục khẩu phục bởi tầm tư tưởng và tính nghệ thuật trong những bài thơ chứ Hán của ông[7].

Hồ Chí Minh là người viết truyện và ký, viết kịch bản văn học (Tác phẩm Con rồng tre mà Câu lạc bộ ngoại ô ở Pari đầu những năm 20 thế kỷ XX đem dựng kịch, đem công diễn được nhiều người khen hay).

Hồ Chí Minh là nhà báo khi để lại cho đời hơn một ngàn rưởi bài báo. Ông là người sáng lập nền Báo chí cách mạng Việt Nam với việc ra báo Thanh niên (của Tổ chức Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên), số ra đầu tiên vào ngày 21-6-1925 và ngày này về sau được lấy làm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.

Bài báo đầu tiên của Hồ Chí Minh có thể kể đến là đứng chung với Nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp là “Yêu sách của nhân dân An Nam” ký tên Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo L’Humanité (Nhân đạo) ngày 18-6-1919. Bài báo cuối cùng của Hồ Chí Minh là “Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng” đăng trên báo Nhân Dân, số 5226, ngày 1-6-1969. Tổng số bài báo của Hồ Chí Minh từ năm 1919 đến năm 1969 (50 năm) theo thống kê chưa đầy đủ, là 1535 bài. Số bút danh khác nhau của Hồ Chí Minh đề ở các bài báo, không kể bút danh viết sách, theo thống kê chưa đầy đủ, là 53[8].

Hồ Chí Minh là diễn viên kịch không chuyên trong các buổi sinh hoạt của các đoàn thể cả thời kỳ hoạt động bí mật và cả thời kỳ kháng chiến ở Việt Bắc.

Hồ Chí Minh là người vẽ tranh trong nhiều báo. Ông có thời làm người sửa ảnh và vẽ hoa văn lên đồ gốm cho một gia đình người Trung Hoa ở Pari những năm sống ở Pháp.

Có lúc, ông cầm đũa chỉ huy dàn nhạc (bài Kết đoàn. Tôi viết thêm: không hiểu tại sao hiện nay, người ta không còn nhắc đến, chứ chưa nói là hát bài này) trong một buổi hoà nhạc ở thủ đô Hà Nội chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III Đảng Lao động Việt Nam, tháng 9 năm 1960.

Hồ Chí Minh là nhà giáo dục không những vì ông là giáo viên của Trường Dục Thanh (Phan Thiết, Bình Thuận) dù chỉ là mấy tháng của thập niên đầu thế kỷ XX. Ông là giảng viên của các lớp huấn luyện thanh niên Việt Nam yêu nước trong tổ chức Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên những năm 1925-1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc). Hồ Chí Minh thực hành giáo dục theo phương pháp tiên tiến, phương pháp tích cực ngay những năm đầu thế kỷ XX (tôi không dùng cụm từ “phương pháp giáo dục hiện đại”, vì có những cái hiện đại nhưng chưa chắc đã là tiên tiến).

Lối giáo dục mà ông áp dụng là dạy và học gắn liền với thực tế, lý thuyết gắn với thảo luận, thực hành. Tại trường Dục Thanh, ông thường dẫn học sinh tham quan thực tế, giảng bài cho học sinh gắn liền với tình yêu quê hương, đất nước. Tại các lớp huấn luyện Quảng Châu, ông cho các học viên thảo luận, tranh luận, cho thực hành diễn thuyết trong những tình huống giả định hoặc trao đổi xử lý tình huống để học viên tự góp ý cho nhau. Đây là cách giáo dục tiên tiến mà các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới thường dùng hàng trăm năm nay. Ngôn ngữ ông dùng trong giảng dạy, huấn luyện là ngôn ngữ bình dân, đúng, gọn, đủ, nhưng giàu hình ảnh, nhiều thông tin, hấp dẫn.

Nhưng, không chỉ có thế và chủ yếu không phải thế. Cái chủ yếu nhất là: Hồ Chí Minh là nhà giáo dục, vì đặc biệt và chủ yếu là bởi ông có một chiến lược “trồng người” phù hợp với yêu cầu phát triển và hoàn cảnh của đất nước Việt Nam cũng như hoàn cảnh của thế giới. Như vậy, ở Hồ Chí Minh vừa có cả tư chất của một nhà sư phạm theo nghĩa đen, nghĩa hẹp, vừa hội đủ tư chất của một chiến lược gia của nền giáo dục Việt Nam mới.

Khi Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, tổ chức lực lượng đấu tranh giành độc lập, tự do – đó là giá trị lớn của văn hoá – thì đó là động lực vô cùng mạnh mẽ và đồng thời đó là mục tiêu hướng toàn dân đi theo.

Văn hoá đi đến mục tiêu giải phóng con người, giải phóng con người ở đây là giải phóng khỏi mọi sự áp bức, bất công, mọi sự đè nén, ức chế của tự nhiên, xã hội, đi đến vương quốc của tự do – điều đó tạo ra sự thôi thúc mãnh liệt cho mọi người hợp lực lại, đoàn kết lại để đạt được mục tiêu đó. Sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta cũng chính là sự nghiệp của văn hoá. Chính vì vậy, văn hoá có vai trò, chức năng dẫn đường cho cách mạng Việt Nam.

Và, năm 1946, như Hồ Chí Minh đưa ra một quan điểm tổng quát nhất về vai trò của văn hoá là: “Văn hoá soi đường cho quốc dân đi”.

Nhìn nhận ở vai trò tổng quát này, tôi đề cập mấy vấn đề sau đây:

Trước hết, văn hoá định hướng phát triển cho cả một dân tộc. Chính văn hoá được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội, văn hoá thể hiện bản sắc/cốt cách dân tộc…là nói lên tính định hướng của văn hoá.

Bản thân Hồ Chí Minh đã khởi đầu xây dựng một nền văn hoá mới cho dân tộc theo hướng dân tộc, khoa học và đại chúng. Việc chọn hướng đi cho cả một dân tộc là một công việc rất hệ trọng. Hồ Chí Minh đã chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó cũng là sự lựa chọn của văn hoá. Sự định hướng đúng đắn ấy đã có tác dụng huy động toàn bộ sức mạnh của dân tộc – cả quá khứ và hiện tại – kết hợp với sức mạnh của thời đại, vào việc phát triển theo con đường đó. Do vậy, mọi biểu hiện đi chệch con đường đó cần khắc phục. Bằng cách đó, Hồ Chí Minh luôn luôn có ý thức quy tụ mọi người vào sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Hồ Chí Minh đã cảm hoá, lôi kéo nhiều người lầm đường, lạc lối đi vào định hướng phát triển của dân tộc. Ánh sáng văn hoá đó, tôi có thể gọi đó là ánh sáng văn hoá Hồ Chí Minh.

Hai là, trong sự phát triển của dân tộc, văn hoá – theo nghĩa rộng – điều chỉnh sự hoạch định cương lĩnh, đường lối, chính sách của hệ thống chính trị. Tính đúng đắn của cương lĩnh, đường lối, chính sách, chủ trương của hệ thống chính trị thường là tỷ lệ thuận với trình độ văn hoá của dân tộc. Đồng thời, hành vi văn hoá của tổ chức chính trị, của con người cũng phản ánh trình độ văn hoá chính trị của tổ chức, hoặc con người đó. Trong lĩnh vực chính trị, nếu không chú ý đến lĩnh vực văn hoá chính trị thì tư cách của người hoạt động chính trị sẽ bị vi phạm. Hồ Chí Minh là người đạt đến trình độ cao của văn hoá chính trị cho nên hành vi của ông đều thể hiện tư cách của một nhà văn hoá kiệt xuất.

Ba là, văn hoá chính là thước đo của sự phát triển xã hội. Một chỉ số phát triển chung hay bất kỳ chỉ số phát triển cụ thể trên bất kỳ một lĩnh vực nào đó của xã hội trong một dân tộc đều phải được coi là chỉ số phát triển của văn hoá. Với ý nghĩa như vậy, không thể đơn thuần lấy chỉ số phát triển của một lĩnh vực đơn lẻ, chẳng hạn không thể đơn thuần lấy chỉ số phát triển kinh tế, để đo sự phát triển chung của một dân tộc, tuy rằng chỉ số ấy rất quan trọng.

Nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ nhất vai trò của văn hoá. Người đã đem toàn bộ sức mạnh văn hoá Việt Nam vào cuộc cách mạng của đất nước nhằm đi tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới quan điểm văn hoá khẳng định cốt cách hay đặc tính (bản sắc) của dân tộc, của cộng đồng dân cư.

Mỗi một dân tộc, quốc gia, mỗi một cộng đồng dân cư…trong quá trình hình thành và phát triển đều hình thành nên một cốt cách, đặc tính (hay bản sắc văn hoá) riêng biệt. Không có dân tộc, quốc gia, cộng đồng dân cư nào là lại không có một nền văn hoá sở thuộc, và ngược lại, không có văn hoá cụ thể nào nằm ngoài dân tộc, quốc gia, cộng đồng dân cư.

Văn hoá như một cái hộ chiếu, như cái chứng minh thư, như giấy thông hành để nói lên rằng tôi là tôi chứ không phải ai khác. Một thanh niên người Trung Quốc đứng bên cạnh thanh niên người Việt Nam chẳng hạn, cũng “máu đỏ da vàng” nhưng cái để phân biệt anh thanh niên đó là người Trung Quốc, anh thanh niên kia là người Việt Nam là bởi sự riêng biệt về văn hoá: có thể là ở tổng hòa các tiêu chí ngôn ngữ, cách ăn, mặc, phong cách, tâm lý và một loạt sự biểu hiện khác.

Với ý nghĩa như vậy, nếu đánh mất đi cái cốt cách- bản sắc-đặc tính văn hoá thì coi như đánh mất đi chính mình và cộng đồng dân cư, dân tộc, quốc gia, với tư cách là đơn vị văn hoá, sẽ bị đồng hoá và bị biến mất.

Việt Nam là một dân tộc-quốc gia đặc biệt. Việt Nam đã bao lần bị xâm lược, đã mất độc lập khá nhiều năm, có lần đến hơn nghìn năm, tính từ năm 179 trước công nguyên khi nước Âu Lạc rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu phong kiến phương Bắc đến năm 905 sau công nguyên với thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ lập nên một chính quyền tự chủ, đặt cơ sở cho nền độc lập lâu bền của dân tộc từ Ngô Quyền, nhưng lại không bị đồng hoá.

Từ ngàn xưa đến nay và cả sau này nữa, các cộng đồng dân cư, các dân tộc, quốc gia luôn luôn có sự giao lưu về văn hoá, đương nhiên đậm nhạt mỗi thời kỳ khác nhau. Đây là một quy luật, không ai và không một cộng đồng dân cư, một dân tộc nào có thể cưỡng lại được cái tất yếu này.

Có thể có đóng cửa về ý muốn nhưng thực tế cho dù không muốn thì giao lưu vẫn cứ xảy ra. Vì vậy, không thể có thuần khiết 100%, kể cả về giống nòi và kể cả về mặt văn hoá. Nhưng không nên tuyệt đối hoá điều này. Dù có giao lưu như thế nào đi chăng nữa thì nhìn chung, cái “gen” văn hoá vẫn cứ thẩm thấu một cách tự nhiên cho các thế hệ tiếp theo. Cộng đồng dân cư nào, dân tộc, quốc gia nào còn giữ được nhiều cốt cách – bản sắc của mình thì càng chứng tỏ rõ sức sống của mình hơn.

Đồng thời, quá trình đó còn là quá trình nhận những yếu tố văn hoá ngoại lai, nhào nặn, chắt lọc để làm giàu văn hoá cho mình nhưng cái gốc vẫn là những yếu tố văn hoá bản địa. Xử lý vấn đề này phụ thuộc vào truyền thống và phụ thuộc vào ý thức của mỗi cộng đồng dân cư, dân tộc, quốc gia.

Văn hoá bản địa, hay nói cách khác là bản sắc-cốt cách-đặc tính văn hoá dân tộc là cái nền để trên đó xử lý toàn bộ quá trình giao lưu văn hoá. Do vậy, văn hoá của mỗi quốc gia-dân tộc là yếu tố nội sinh có vai trò cực kỳ quan trọng để bảo tồn và phát triển dân tộc mình. Đó là chỗ đứng vững chắc để vừa không bài ngoại, vừa không bị lai căng.

Hồ Chí Minh là một người tiêu biểu cho cốt cách văn hoá dân tộc Việt Nam. Cho nên, một phóng viên đã viết trên tờ báo Diễn đàn (Mỹ) rằng: “Cụ Hồ không phải là người dân tộc chủ nghĩa hẹp hòi mà Cụ là người yêu mến văn hoá Pháp trong khi chống thực dân Pháp, một con người biết coi trọng những truyền thống cách mạng Mỹ trong khi Mỹ phá hoại đất nước của Cụ”[9]. Điều này thì ít nhất Hồ Chí Minh tiếp nhận từ truyền thống gia đình.

Chính vì thấy rõ vai trò của văn hoá dân tộc cho nên Hồ Chí Minh đã lưu ý mọi người khi tiếp nhận văn hoá bên ngoài. Đó là việc phải chủ động giao lưu, không nên đóng cửa, không bài ngoại mà phải hội nhập. Đó là việc phải tiếp thu những cái tốt, không được lai căng. Hồ Chí Minh cho rằng: phải mở rộng tri thức của mình về văn hoá thế giới; đồng thời phải tránh nguy cơ chúng ta trở thành những kẻ bắt chước; văn hoá của các dân tộc khác cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, chỉ có như thế mới có thể thu lại được nhiều hơn cho văn hoá của chính mình.

Văn hoá dân tộc có vai trò biểu đạt sự tồn tại của chính bản thân dân tộc mình, nhưng điều đó chỉ thể hiện khi nó được nhìn trong thế so sánh với văn hoá của dân tộc khác. Nó thể hiện là nó một cách rõ ràng, đậm nét, đầy tính cốt cách-bản sắc khi đứng bên một thực thể khác. Vì thế, Hồ Chí Minh mới lưu ý rằng: mỗi một dân tộc cần chăm lo đến đặc tính của dân tộc mình trong văn học, nghệ thuật.

Trong vai trò này của văn hoá, nổi rõ nhất văn hoá của dân tộc-quốc gia (Nation), hay nói một cách khác, quốc gia là “đơn vị văn hoá” đáng lưu ý nhất. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc-dân tộc theo nghĩa tiếng Anh là tộc người Ethnic ( hơn 50 dân tộc), nó là sự tổng hợp nền văn hoá của từng cộng đồng, dân tộc tạo ra một giá trị văn hoá chung. Biểu hiện văn hoá của dân tộc-quốc gia Việt Nam có nhiều, nhưng giá trị tinh tuý nhất, cơ bản nhất là chủ nghĩa yêu nước. Do vậy, các dân tộc trong lãnh thổ quốc gia Việt Nam đều phải có ý thức vun đắp cho yếu tố cơ bản đó. Mọi sự vi phạm nó đều là những giá trị phản văn hoá.

Văn hoá của dân tộc Việt Nam đã tạo dựng nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh của dân tộc, làm rạng rỡ, vẻ vang cho dân tộc. Nó là thành quả của hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của các cộng đồng sống trên lãnh thổ quốc gia và cũng là kết quả của quá trình giao lưu văn hoá với các dân tộc khác trên thế giới để luôn luôn hoàn thiện mình.

Chính vì thế mà các thế lực xâm lược đến Việt Nam bị thất bại, không chỉ thất bại về mặt quân sự mà chủ yếu đó là sự thất bại về văn hoá. Nhiều nhà quân sự, nhiều chính khách liên quan đến các cuộc chiến tranh Việt Nam ở châu Âu, châu Mỹ – sau này trầm tĩnh suy nghĩ lại – thừa nhận điều đó. Chẳng hạn, trong số đó là Mắc Namara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, người đã tham gia trong Chính phủ của Tổng thống Kennơđi và Tổng thống Giônxơn. Dù “định không bao giờ viết ra”[10] nhưng rồi cuối cùng tháng 4 năm 1995, sau gần 30 năm im hơi lặng tiếng kể từ khi rời bỏ Lầu Năm Góc, Mắc Namara đã viết và cho ra mắt cuốn sách “Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”.

Khi nhìn nhận về những nguyên nhân thất bại của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mắc Namara cho rằng: “Chúng ta cũng đã không điều chỉnh được chiến thuật quân sự của chúng ta cho phù hợp với nhiệm vụ chinh phục trái tim và khối óc của người dân thuộc một nền văn hoá hoàn toàn khác”[11], “Những đánh giá sai lầm của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự thiếu hiểu biết cơ bản của chúng ta về lịch sử văn hoá và chính trị của nhân dân trong vùng”[12], v.v. Và Mắc Namara cho rằng, những bài học đó không phải chỉ là của quá khứ mà còn là những bài học có liên quan đến thế kỷ XXI.

Đã từ lâu, Việt Nam đã có nền văn hiến, chính đó đã làm cho Việt Nam đứng vững trước mọi họa ngoại xâm.

Trong Bình Ngô đại cáo thế kỷ XV, Nguyễn Trãi – chiến lược gia của Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo, đã tổng kết:

Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Đến thời kỳ hiện đại mà trong đó Hồ Chí Minh sống, nhân dân Việt Nam còn sáng tạo ra những giá trị văn hoá mới trên cơ sở kế thừa và phát huy văn hoá truyền thống. Những thành tựu hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã làm nên một “hiện tượng văn hoá Việt Nam”.

Ở trên thế giới đã hình thành một khoa học mới về một số dân tộc. Cũng như một số nước trên thế giới, môn Việt Nam học đã ra đời. Điều đó càng khẳng định thêm vai trò quan trọng của văn hoá khi giá trị văn hoá của một quốc gia có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển văn minh tiến bộ của nhân loại. Văn hoá Việt Nam đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của văn hoá thế giới, nhiều vấn đề được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.

Hiện nay ở 27 nước đã có những người chuyên nghiên cứu Việt Nam học. Đã có nhiều cuộc hội nghị quốc tế về Việt Nam học: lần thứ nhất tổ chức ở Đan Mạch năm 1993, lần thứ hai tổ chức ở Pháp năm 1995, lần thứ ba tổ chức ở Hà Lan năm 1997 và lần thứ tư tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam năm 1998. Hội nghị Việt Nam học ở Hà Nội là hội nghị quy mô lớn với thành phần tham gia gồm 294 nhà khoa học của 27 nước trên thế giới và 300 nhà khoa học Việt Nam.

Nền văn hoá của mỗi một dân tộc đều có đóng góp chung vào quá trình phát triển của thế giới. Trên thế giới, có thể có dân tộc lớn, dân tộc nhỏ. Nhưng lớn hay nhỏ ở đây nên quan niệm về diện tích, dân số hoặc các chỉ số phát triển kinh tế, v.v. Quyết không có dân tộc lớn hay nhỏ về văn hoá. Một dân tộc diện tích nhỏ, dân số ít có khi lại có quá trình đóng góp rất lớn về mặt văn hoá đối với thế giới. Điều này lại hoàn toàn trái ngược với sự phân biệt chủng tộc. Không có một dân tộc nào là dân tộc thượng đẳng và dân tộc nào là dân tộc hạ đẳng. Quan niệm của phátxít Hítle về vấn đề này là quan niệm phản văn hoá và đã bị cả loài người chống đối. Hiện nay, những tàn dư này không phải là đã hết. Thế giới còn phải cảnh giác trước các thế lực phản động, trong đó có bọn phátxít mới.

Tôi nghĩ đến người anh hùng Laixích Gêoócghi Đimitơrốp (1882-1949), một người con của nhân dân Bungari, một chiến sĩ lỗi lạc của Quốc tế Cộng sản, người mà ở Đại hội VII Quốc tế Cộng sản năm 1935 tại Mátxcơva (Liên Xô) trình bày bản Báo cáo nổi tiếng về lập Mặt trận toàn thế giới đấu tranh chống chủ nghĩa phátxít, đòi tự do, dân chủ, hoà bình, và cũng tại Đại hội này, được bầu làm Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản. Năm 1933, G. Đimitơrốp với trách nhiệm là một Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đang hoạt động tại Đức, ông bị lực lượng phátxít bắt vị bị vu cho là tham gia đốt nhà Quốc hội Đức và bị đưa ra tòa án phátxít xét xử ở Laixích. G. Đimitơrốp tự bào chữa, và trước những lý lẽ của ông, Toà án Laixích buộc phải tuyên trắng án cho ông. Vì thế, mọi người gọi G. Đimitơrốp là “Anh hùng Laixích”.

Tại phiên toà Laixích, bọn quan toà có ý miệt thị G. Đimitơrốp là người Bungari, mà theo ý của bọn phátxít Đức, thì Bungari một dân tộc hạ đẳng, dã man, mọi rợ, lạc hậu của Đông Âu và của cả châu Âu.

Có đúng thế không? Bungari là một đất nước nhỏ nằm trong bán đảo Băncăng, ở Đông Nam châu Âu, có diện tích bằng khoảng 1/3 Việt Nam (110 990 kilômét vuông), dân số năm 1933 có khoảng gần 8 000 000 người. Đây là một trong những nước nghèo và lạc hậu nhất ở châu Âu, bị Thổ Nhĩ Kỳ xâm lược và thống trị nhiều năm.

Nhưng, về mặt văn hoá, thì Bungari lại là một dân tộc có sự đóng góp rất lớn vào việc xây dựng nền văn hoá bản địa cả vùng Bancăng. Hai anh em giáo viên Kirin và Méttôđi thế kỷ IX đã sáng tạo ra chữ viết Xlavơ và truyền bá ở châu Âu. Tiếng Nga và nhiều thứ tiếng của các nước khác ở châu Âu theo chữ Xlavơ là có từ gốc ở Bungari, chứ không phải như tôi tưởng lúc đầu là tiếng Bungari có gốc từ tiếng Nga. Và hằng năm, ngày 24-5 đã trở thành ngày quốc lễ của Bungari, được gọi là Ngày văn hoá và chữ viết Xlavơ.

Khi bị miệt thị dân tộc mình, dân tộc Bungari bị coi là dân tộc hạ đẳng, dã man, mọi rợ như thế tại toà, G. Đimitơrốp dõng dạc nói: “Một dân tộc bị 500 năm sống dưới ách thống trị nặng nề của quân xâm lược ngoại bang mà không bị đồng hoá, vẫn giữ được ngôn ngữ và bản sắc dân tộc mình, dân tộc đó nhất quyết không phải là dân tộc dã man, mọi rợ. Ở Bungari, chỉ là bọn phátxít (phátxít Bungari – MQT) là bọn dã man và bọn mọi rợ mà thôi. Từ rất sớm, lúc Hoàng đế Đức Karl Đệ ngũ nói rằng, ông ta nói tiếng Đức là chỉ để cho con ngựa của mình nghe; rằng, các quý tộc Đức viết bằng chữ latinh và cảm thấy xấu hổ bởi tiếng Đức, thì ở đất nước “mọi rợ” Bungari, Kirin và Méttôđi đã tạo ra và truyền bá ngôn ngữ, chữ viết Xlavơ. Nhân dân Bungari, bằng tất cả sức lực và tính kiên trì của mình, anh dũng đấu tranh chống ách ngoại bang. Tôi luôn luôn tự hào là người Bungari, người con của giai cấp công nhân Bungari”[13].

Bản sắc-cốt cách, đặc tính văn hoá của mỗi dân tộc (kể cả dân tộc-quốc gia Nation và cả dân tộc-tộc người Ethnic) không bao giờ là bất biến, nó là yếu tố động. Nó “động” như vậy nhưng vẫn giữ được đặc tính của một dân tộc, một cộng đồng. Ngay như chất liệu, màu sắc, kích cỡ khởi thủy của chiếc áo cà sa mà Phật tổ Thích Ca Mầu Ni dùng cũng đã biến đổi nhiều, biến đổi dữ dội qua năm tháng, qua từng địa bàn, qua từng cộng đồng dân cư, qua từng dân tộc.

Chiếc áo cà sa của Phật Thích Ca Mầu Ni vốn là từ hàng chục, hàng trăm mảnh giẻ khâu nối, ghép lại do Phật tổ nhặt được trên đường đi, thậm chí cả những mảnh giẻ từ xác người chết. Cho đến giờ đây, trên thế giới, chiếc áo cà sa huyền bí đó được biến đổi nhiều, được cải biên nhiều. Có nơi, chiếc áo cà sa là màu nâu sồng, là màu gụ, là màu vàng, là màu tía, là màu đỏ, là màu lòng tôm…, là liền mảnh, là nhiều mảnh ghép vào, là quàng hờ qua thân vai, là thành ra áo mặc lẳn vào người, là dài trùm gót, là lưng lửng, v.v. Nó muôn hình vạn dạng, nhiều sắc màu, nó biến thiên tùy thời, tùy từng nơi, tùy từng cộng đồng dân cư theo đạo Phật. Mà biến thiên như vậy mới là phản ánh đúng thực tại, là lẽ thường của muôn vàn cái biến thiên trong cuộc sống.

Nhưng, dù có biến thế nào thì biến, bên trong làn áo cà sa tuy có khác nhau đó, muôn hình, muôn màu đó thì vẫn là sự bất biến muôn năm cũ, vẫn là “áo nhà Phật”, vẫn là cái tâm lành của Phật, vẫn là cái “cốt cách” của nhà Phật từ bi hỷ xả.

Vấn đề là ở chỗ, bản sắc-cốt cách ấy phải được phát triển trên cơ sở kế thừa và phát huy bản sắc-cốt cách vốn có. Quan điểm của Hồ Chí Minh là mỗi dân tộc đều phải có trách nhiệm chăm lo đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá/cốt cách dân tộc của mình và không để chịu một sức ép nô dịch về văn hoá.

Một dân tộc này không thể đem những giá trị văn hoá của dân tộc mình áp đặt cho dân tộc khác phải theo. Và như vậy, chính bản sắc-cốt cách văn hoá là yếu tố bảo đảm cho các quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.

II.  Hồ Chí Minh – sự tiếp biến văn hoá, vượt qua cú sốc văn hoá

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những yếu tố tinh thần của thực dân Pháp tràn vào Việt Nam theo gót chân của những kẻ đi xâm lược đội lốt chiêu bài với những từ ngữ mỹ miều là “sự khai hoá văn minh”. Nền văn hoá Việt Nam, bên cạnh những giá trị tốt đẹp, đã bộc lộ những hạn chế. Cái linh đơn văn hoá Việt Nam vẫn còn, nhưng có nguy cơ dần mất đi cái vẻ huyền diệu đắc dụng của nó và có nguy cơ bị mai một, bị lai căng.

Thế kỷ XIX vừa khép lại trong đau thương của dân tộc bị mất nước thì Việt Nam lại bắt đầu bước vào thế kỷ XX với nền duy tân. Có lẽ đầu thế kỷ XX, cái mốc đẹp của sự cải cách/cách tân văn hoá với những cuộc chiến đấu can trường không súng gươm, bom đạn của phong trào Duy Tân với biết bao bầu nhiệt huyết vô biên ngời sáng đại nghĩa từ các nghĩa sĩ văn hoá, mà ở đó họ dũng cảm tiếp biến những giá trị văn hoá truyền thống, nhân lên cái đẹp để dân tộc Việt Nam hoà vào nhịp tiến chung của nhân loại.

Nền văn hoá Pháp cũng chuyển tải và có lấn vào văn hoá Việt Nam xa xôi nhưng là lấn vào một cách xô bồ, có tốt và gây ra cũng không ít điều xấu. Điều tốt thì đó là những công trình mà Pháp dựng nên trên đất Việt Nam để phục vụ cho sự cai trị. Đó là những nhà cửa, đường sá, cầu cống, là kỹ nghệ…Đó là những trường học, tuy còn ít ỏi, nhưng là trường tây, theo văn hoá tây. Đó là nhiều sắc thái mới về lối sống, tâm lý… của phương Tây. Đó là cuộc sống có phần văn minh của phương Tây mà đến đầu thế kỷ XX, các nhà trí thức khai sáng của Việt Nam trong đó có Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, v.v. bắt đầu áp dụng và mở cuộc vận động duy tân khá lớn và thành công không nhỏ.

Chữ Hán được thay bằng quốc ngữ bởi Alếcxăngđrơ Đơ Rốt (Alexandre De Rhodes), người mà trong khi truyền đạo Thiên Chúa đã dùng ngữ latinh để ghi âm ngữ Việt Nam do vậy tạo nên quốc ngữ Việt Nam. Những cái đầu quấn tóc búi tó, những quần ống sớ, guốc mộc, áo dài khăn đóng…đã nhường chỗ khá nhiều cho tóc ngắn, cho bộ đồ Âu complê thắt caravát, cho giầy đen, cho nhảy đầm, uống cà phê, hút thuốc lá thơm, cho lối sống văn minh bài trừ mê tín dị đoan, v.v. Một văn hoá ngoại lai cuốn vào chốn thuộc địa mà thuộc địa này vẫn đậm cốt cách phong kiến trong từng hang cùng ngõ hẻm, tuy rằng chế độ phong kiến Việt Nam suy tàn đã lâu. Và đương nhiên, nó cũng sinh ra nhiều cái xấu, bởi không thể khác được, nó là cái tất yếu phải thế, do nó đi sau gót thực dân, mang theo cả những cặn bã ở “chính quốc” sang Việt Nam. Chẳng những thế, nó còn khuyếch đại, nhân lên, bành trướng, phổ vào và quyện vào những cái cổ hủ xưa mèm của phong kiến Việt Nam.

Tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây đã vào Việt Nam sớm nhất là cuối thế kỷ XIX và rộ lên vào đầu thế kỷ XX. Nó chủ yếu vào bằng ba con đường:

1. Con đường qua sách báo của Trung Quốc;

2. Con đường qua các phong trào yêu nước tư sản và tiểu tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX;

3. Con đường qua quá trình “khai hoá” của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam.

Hồ Chí Minh là một trong những người nhạy cảm tiếp nhận những cái mới về văn hoá. Bắt đầu từ nhận, sau đó là chuyển tải và nâng cao. Đó chính là quá trình tiếp biến về văn hoá của ông cho dân tộc Việt Nam. Ông làm điều đó một cách tự nhiên, bền bỉ, và có thể nói rằng, ông coi đấy là một trách nhiệm của một người dân Việt Nam cứu nước, đưa đất nước tiến theo con đường phát triển văn minh, tiến bộ.

Hồ Chí Minh vực nền văn hoá Việt Nam dậy từ sự đứt gãy, rồi tiếp sức cho nền văn hoá đó, làm cho nó phong phú, thăng hoa, trở thành một nền văn hoá riêng cõi Việt Nam nhưng đầy chất hội nhập được vào một thế giới đa sắc màu văn hoá. Trong con người Hồ Chí Minh, trong cốt cách văn hoá, trong ứng xử của ông, biểu đạt sự quyện chặt của các nền văn minh thế giới. Chí ít thì Hồ Chí Minh cũng đưa được phần nào cái duy lý của phương Tây kết hợp được với phần nào cái duy cảm của phương Đông. Đó là điều tưởng  không thể làm được, như là đưa lửa hợp với nước. Nhưng Hồ Chí Minh đã kết hợp được “vừa có lý, vừa có tình”, không tuyệt đối hoá mặt nào cả, không nghiêng hẳn về duy lý mà cũng không nghiêng hẳn về duy cảm, mà hai cái này đã chung đúc thành một (hai trong một).

Từ tuổi thiếu niên cho đến trước khi ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, Hồ Chí Minh, một cách tự nhiên, tắm mình trong nền văn hoá giao thoa giữa cái cũ và cái mới. Hồ Chí Minh là con quan, con nhà trí thức phong kiến mà cha ông đỗ học vị cao (Phó bảng). Thời thanh thiếu niên của Hồ Chí Minh là cái thời chế định bản thân ông vừa ở vào điểm cuối của thời kỳ văn hoá này và đồng thời vừa là điểm đầu của thời kỳ văn hoá kia. Đó là cái thời kỳ mà người ta vừa đội khăn xếp, ăn trầu và vừa đeo đồng hồ, hút thuốc lá thơm, uống sâm banh (Có người gọi là “Đầu Annamít, đít Phơrăngxe”). Trong cái thời ấy, Hồ Chí Minh tiếp thu cả Nho học và Tây học.

Phong trào Duy Tân đầu thế kỷ XX là một điểm nhấn trong hành trình của sự tiếp biến văn hoá dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh thừa hưởng gia tài duy tân đó và ông góp sức làm giàu gia tài đó lên. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là cái khung thời gian không những chỉ rõ cho chúng ta thấy sự chuyển giao của hai thế kỷ mà còn là thời kỳ đặc biệt đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam. Trong buổi giao thời này, Việt Nam đứng trước hai yêu cầu cực lớn: độc lập, chủ quyền dân tộc và tiến bộ xã hội.

Để đáp ứng cho hai yêu cầu đó, trong xã hội Việt Nam sản sinh ra các phong trào đấu tranh. Có phong trào này nặng về đấu tranh giành độc lập, chủ quyền cho dân tộc, có phong trào nặng về đấu tranh cho tiến bộ xã hội, cải cách, duy tân. Đó là phân chia một cách tương đối. Còn thật ra trong mỗi phong trào đều có cả hai yếu tố.

Con đường duy tân mà đại biểu Phan Châu Trinh là sáng giá nhất đã làm khởi động mạnh hơn tiến trình văn hoá Việt Nam bước theo canh tân, tiến bộ. Những tân thư, những luồng sách báo từ Trung Quốc, từ các nước phương Tây qua các nẻo đường khác nhau đã vào Việt Nam, chủ yếu qua Trung Quốc và qua sách dịch từ Trung Quốc. Đó là những luồng gió mới, trong lành, mát mẻ thổi vào mảnh đất Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Hồ Chí Minh tiếp nhận các sinh khí từ Duy Tân, là người trân trọng và có ý thức gạn đục khơi trong từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, từ Việt Nam Quang phục hội, Đông Kinh Nghĩa Thục, từ Đông Du…Cái hằng số văn hoá đó đầu thế kỷ là hành trang mà Hồ Chí Minh tiếp nhận được rồi trong quá trình hoạt động nâng nó lên, chúng ta gọi là tiếp biến văn hoá. Những chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc, tinh thần quốc tế, những ánh sáng văn hoá, những tư tưởng dân chủ phương Tây, những ý tưởng và hành động nâng bước con người Việt Nam tiến vào thế kỷ mới, thế kỷ XX, với bao biến chuyển để gột rửa cái tăm tối phong kiến, cổ hủ, bước cùng thế giới vào thế kỷ văn minh hơn. Biến nhưng vẫn giữ được đặc tính, cốt cách hay bản sắc, đó là cái biến của Việt Nam đã diễn ra một thiên niên kỷ thời bị phương Bắc đô hộ. Nhưng cái biến lần này mạnh hơn nhiều và cái cốt cách văn hoá dân tộc bị thử thách mạnh và nghiệt ngã hơn nhiều.

Chính trong hoàn cảnh đó, những điều người khác không làm được, những phong trào yêu nước khác không làm được thì Hồ Chí Minh làm được: kết hợp được chủ nghĩa dân tộc với những yếu tố tích cực của dân chủ phương Tây cộng hưởng và phát tiến được cùng với tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản. Đó tuyệt nhiên không phải là một con số cộng đơn thuần, mà qua sự đúc kết và thao tác tuyệt vời của Hồ Chí Minh.

Tôi cho rằng, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Việt Nam cũng vượt qua cú sốc về văn hoá, đó là cú sốc của sự chuyển mình từ sự tiếp nhận để vươn lên một ánh sáng văn hoá mới. Lửa thì có nhiều người thắp để đi vào tăm tối rọi ánh sáng chuyển mình cho dân tộc. Nhưng Hồ Chí Minh là người thắp ngọn lửa sáng nhất, lâu bền nhất và đã thành công trong việc đưa ánh sáng văn hoá mới của thời đại đến cho dân tộc Việt Nam.

Vấn đề này hiện nay cũng đang tiếp diễn với tốc độ chóng mặt của “kỷ nguyên” toàn cầu hoá 3.0 – theo cách gọi của Thomas L. Friedman trong cuốn sách The Worldis Flal, abrief history of the twenty-first century (Thế giới phẳng, Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI).

Có thể gọi đây cũng là một cú sốc lớn về văn hoá Việt Nam trong thời buổi toàn cầu hoá. Nhiều người đang bàn: trong toàn cầu hoá, có toàn cầu hoá văn hoá không? Việt Nam đang hội nhập mạnh với thế giới. Liệu có hội nhập về văn hoá không hay chỉ là hội nhập kinh tế quốc tế? Liệu có sự xâm lăng văn hoá và nô dịch văn hoá không? Người bảo có, người bảo không.

Có người bảo rằng, đây là thời cơ lớn cho Việt Nam phát triển, thời cơ của toàn cầu hoá, tuy có rất nhiều thách thức; là thời kỳ hội nhập cả văn hoá, có điều là đừng để hoà tan. Tôi cho rằng, văn hoá cũng là một thực thể hiện hữu trong đời sống Việt Nam hiện đại cũng như các lĩnh vực khác, mà Việt Nam là bộ phận của thế giới. Vì thế, Việt Nam cũng có cả toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập cả văn hoá. Còn có “tan” hay không trong cú sốc này thì hoàn toàn phụ thuộc vào bản thân của chính con người Việt Nam, của chính xã hội Việt Nam. Đây là vấn đề rất nhạy cảm mà bản thân Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công ở thời kỳ của ông sống trong cú sốc văn hoá của thời ông.

Trong cuộc sống số, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin-viễn thông (ITC), vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cho sự tiếp biến văn hoá của Việt Nam, trong đó có việc giữ gìn và phát huy bản sắc/cốt cách, đặc tính dân tộc. Với sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, với cơn suy thoái của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế hiện nay, liệu những giá trị của chủ nghĩa cộng sản có còn có ý nghĩa như là giá trị văn hoá trường tồn của nhân loại?

Một buổi sáng mùa Thu năm cách đây gần 30 năm, năm 1982, tôi vào Lăng viếng G. Đimitơrốp ở Xôphia, thủ đô của đất nước hoa hồng Bungari tươi đẹp. Trên thế giới, đã có Lăng V.I.Lênin, có Lăng G. Đimitơrốp rồi đến Lăng Hồ Chí Minh. Trong chuyến quá cảnh Mùa Thu ấy từ Hà Nội sang Xôphia, tôi đã dừng ở Mátxcơva ba ngày. Và, trong cái chớm rét cuối Thu đầu Đông khắc nghiệt đó ở phương bắc nước Nga, tôi cũng đã tranh thủ vào Lăng viếng V.I.Lênin.

Một số người tỏ ý không hài lòng về vấn đề việc lăng tẩm của các vị ấy. Nay thì sau những cơn cuồng phong chính trị ở Liên Xô và Đông Âu cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ trước, người ta đã đem thi hài G.Đimitơrốp đi chôn. Còn đối với thi hài của V.I.Lênin thì người ta cũng đã doạ mấy lần đem đi chôn như G.Đimitơrốp. Cũng đã có một số người nước ngoài gốc Việt đã lên tiếng đòi đưa thi hài Hồ Chí Minh ra khỏi Lăng và đem chôn, hoặc để thực hiện đúng những gì mà Hồ Chí Minh “trối” lại trong tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (sau này gọi là Di chúc).

Lăng G. Đimitơrốp làm bằng cẩm thạch trắng thật đẹp, đằng trước là quảng trường, đằng sau là một công viên đầy cây và các loài hoa, nhất là hoa hồng. Sáng Mùa Thu Xôphia phương nam Bancăng nắng nhạt, gió nhẹ, mát mẻ. Trên những hàng cây, lác đác đã có lá vàng, lá đỏ của sắc Thu. Hoa hồng vẫn còn khoe sắc, những hoa hồng đoá to, sắc thắm, ken dày. Chả thế mà người ta gọi Bungari là xứ sở của hoa hồng. Chỉ ít nữa thôi, cây cỏ, các loài hoa sẽ ngủ đông để bật chồi, nẩy nụ vào mùa Xuân sang năm. Chim sẻ và bồ câu nhiều vô kể. Chúng dạn người. Có một số chim chuyền cành líu ríu trong công viên mà tôi không biết tên. Chúng giống như chim chào mào và như chim bìm bịp ở Việt Nam vậy.

Một đất nước Bungari đi theo con đường xã hội chủ nghĩa đã vươn mình lên trở thành một “hiện tượng” thoát nghèo một cách ngoạn mục, tốc độ phát triển cao, đời sống dân chúng khấm khá lên nhiều, tuy chưa bằng anh bằng em nhưng có thể nói là có những bước tiến thần kỳ, bởi Bungari vốn là một nước vào loại nghèo nhất châu Âu, có điểm xuất phát rất thấp.

Vào Mùa Thu năm 1982 ấy. Ngày chủ nhật.

Sau khi viếng G. Đimitơrốp và chiêm ngưỡng kiến trúc Lăng, tôi dạo công viên. Người trong công viên không nhiều, chủ yếu là người già. Họ bình thản, lặng lẽ. Có hai ông cháu. Người ông khoảng hơn 70 tuổi, mặt phúc hậu, cơ thể còn vạm vỡ, da hồng, tuy đã có nhiều nếp nhăn trên mặt. Có khi đấy là một cựu du kích vùng núi Bancăng chống phátxít cũng nên. Đứa cháu gái khoảng 5 tuổi tinh nghịch và nhí nhảnh, không chịu để ông cầm tay mà cứ nhạy. Và vấp ngã. Tôi vội bước đến toan đỡ cháu bé dậy thì ông lão nói: Đừng, xin đừng, cứ để cháu tự đứng dậy. Điều này thì bất ngờ đối với tâm lý tư duy người Việt của tôi. Người ta đã ngã thì phải giúp người ta đứng dậy chứ! Sao lại vô cảm, dửng dưng như thế! Thì ra, đấy là một triết lý sống của người Bungari hay là của nhiều người nước ngoài. Điều này thì đáng để cho người Việt Nam chúng ta suy nghĩ.

Gió cứ miên man vờn những rặng cây. Gió cứ nhè nhẹ tạo sóng cho vườn hoa. Gió lùa vào mái tóc óng, lơ thơ của cháu bé. Quả đúng thế, đúng như ông lão nói. Chắc là đã nhiều lần như thế rồi đã thành quen chăng? Cháu bé lồm ngồm bò dậy. Đã không khóc mà lại còn nhoẻn miệng cười. Biết tôi là người Việt Nam, ông cụ bắt chuyện rất vui. Đúng là cựu du kích Bancăng thật. Ông nựng cháu và nói với tôi: Đây là thế hệ của chủ nghĩa cộng sản ở Bungari!

Không ai nắm tay được từ sáng đến tối. Ai mà biết được! Vật đổi sao dời. Một đời dâu bể khôn lường. Nay thì Bungari đã rẽ sang một hướng khác. Cái “tương lai gần” là chủ nghĩa cộng sản mà ông cụ người Bungari nói với tôi ở công viên sáng Mùa Thu sau Lăng G. Đimitơrốp năm 1982 ấy đã trở thành một kỷ niệm buồn.

Đã từng ấy năm tôi chưa có dịp trở lại Bungari, đất nước yêu quý, đầy kiêu hãnh vì nền văn hoá Xlavơ rực rỡ. Tôi ngậm ngùi nghe một số thông tin từ những người Việt Nam trở về từ Bungari sau những chuyến viếng thăm ngắn ngủi gần đây. Người ta nói về cái sa sút kinh tế. Cái mạnh của đất nước nông nghiệp còn không? Còn đâu những Liên hợp kinh tế nông-công nghiệp (???), Liên hợp công-nông nghiệp (???)?

Nói thế nào đây về chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội? Cái xã hội mà Hồ Chí Minh định xây dựng ở Việt Nam là xã hội như thế nào đây? Liệu có thể tiếp bước Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng một xã hội như thế mà ông còn dang dở được không? Hồ Chí Minh trên hết và trước hết là một nhà văn hoá, nhà văn hoá của thời đại và gắn liền với sự nghiệp xây dựng một xã hội mới ở Việt Nam – xã hội xã hội chủ nghĩa. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Bungari cũng như ở nhiều nước Đông Âu bị đổ vỡ, nhưng giá trị văn hoá đó vẫn còn. Việt Nam với nhà văn hoá Hồ Chí Minh vẫn còn tiếp nối những giá trị đó.

Hồ Chí Minh sống trong cái khung thời gian mà sự biến thiên về văn hoá của Việt Nam ở vào đoạn dữ dội nhất. Hồ Chí Minh đóng góp phần lớn vào sự chuyển biến tích cực cho sự biến thiên đó của văn hoá Việt Nam. Nếu đứng về địa lý mà xét thì Việt Nam là một quốc gia – dân tộc nằm trong luồng giao lưu tự nhiên, ồ ạt về văn hoá của thế giới, văn hoá hiểu theo nghĩa rộng.

Nhưng Việt Nam lại là một quốc gia có đồng thời cả hai chiều thuận – nghịch trong quá trình biến đổi về văn hoá.

Chiều thứ nhất, chiều thuận, biểu hiện ở chỗ, Việt Nam là một quốc gia-dân tộc có nhiều sự biến đổi khá nhanh chóng. Chẳng hạn, đó là quá trình thích ứng, tiếp thu tương đối nhanh những mặt tốt của các luồng tư tưởng thế giới, đặc biệt là của phương Đông.

Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo vào Việt Nam khá sớm. Khi vào Việt Nam, chúng được sàng lọc một cách tự nhiên qua lăng kính của giới cầm quyền và của nhân dân. Chúng được biến thiên qua cách nhìn của quan lại, của nhân dân trong cuộc sống. Điển hình là Tống Nho vào Việt Nam thích ứng với nhà nước quân chủ trung ương tập quyền mạnh của triều Lý, Trần, Lê. Dưới tác động của Tống Nho, ở Việt Nam đã sản sinh ra các nhà nho tiến bộ hẳn so với chính thống. Đạo Phật khi vào Việt Nam cũng đã đằm qua cái tâm của cư dân người Việt, vùng văn minh lúa nước, nó phát triển cực thịnh vào thời Lý, Trần. Lão giáo thì xuyên qua và tẩm ướp vào đời sống tâm linh bản địa Việt Nam, quyện cùng Phật giáo lẫn Nho giáo để nhiều lúc thành “Tam giáo đồng nguyên”. Cái cốt cách của Lão giáo, chúng ta tìm thấy ở sự hoà đồng, hoà mục với xã hội, với thiên nhên, là tự chủ với chính bản thân mình qua biến thiên, qua muôn nỗi thăng trầm của đời sống con người.

Một quốc gia Đại Việt (tôi xin được gọi chung cho các triều đại phong kiến Việt Nam) luôn có xu hướng mở mang bờ cõi xuống phía nam, cương vực của nó đến cuối thế kỷ XVIII về cơ bản được như hiện nay. Xin đừng mặc cảm về điều này. Có chế độ phong kiến nào trên thế giới lại không muốn/và không có chính sách đi chinh phục miền đất mới chưa ai khai phá hoặc đất của nước khác đâu. Các chúa Nguyễn và Triều Nguyễn đã ghi công lớn trong lịch sử dân tộc Việt Nam bằng cách mở rộng và định hình nó bằng thiết chế hành chính cương vực. Nhà Nguyễn đã hoàn thành được sự nghiệp thống nhất đất nước mà triều đại trước đó còn dở dang, vươn cánh tay quản lý cương vực từ đất liền ra cả những hải đảo, thiết lập được một nền hành chính với cương vực như hiện giờ nước ta có.

Cái điều “mạnh sống, yếu chết” trở thành nguyên tắc ứng xử đối ngoại của các nhà nước phong kiến trên thế giới. Cương vực phải được mở rộng sau chinh chiến, sau lưỡi gươm tuốt ra và nó chỉ được cho vào vỏ khi công việc sát phạt để mở rộng bờ cõi đã hoàn thành. Do đó, chúng ta mới thấy những quốc gia bị diệt vong trước lưỡi gươm chinh phục của nước láng giềng, chỉ còn hoài niệm trong cư dân của họ còn lại ở một quốc gia mới.

Những cư dân đó còn giữ được bản sắc-cốt cách, đặc tính của dân tộc mình nhưng văn hoá quốc gia-dân tộc đã không còn. Vấn đề là ở chỗ thực lực của mình đến đâu mà thôi. Và văn hoá, theo chiều rộng của cương vực, cũng do đấy mà được phong phú thêm, đa dạng thêm. Một đất nước Việt Nam chuyển dịch ý thức hệ trong những năm 20 – 30 của thế kỷ XX mà xu thế nổi rõ hơn cả là lý luận Mác – Lênin. Tôi muốn nhấn mạnh điều này là ở chỗ, Việt Nam là nước thuộc địa, phong kiến, cho nên sự chuyển dịch này không dễ dàng, nó đòi hỏi chuyển cả thế hệ con người, khi các giai cấp, tầng lớp trong xã hội phân hoá một cách chưa thực sự mạnh và khi nhà cầm quyền tìm mọi cách ngăn cản.

Chiều thứ hai, chiều nghịch, biểu hiện ở chỗ, Việt Nam là một quốc gia-dân tộc trong lịch sử trung đại và cận-hiện đại ít có biến đổi hoặc có biến đổi nhưng biến đổi chậm so với luồng chảy chung của trên thế giới. Chế độ phong kiến ngự trị hàng nghìn năm (từ thế kỷ thứ VIII, thứ VII trước công nguyên đến năm 1945). Nó như giấc ngủ dài trong sự đi lên của một quốc gia-dân tộc. Phong kiến Trung Hoa đã ngủ quên lâu, nhưng phong kiến Việt Nam còn ngủ kỹ hơn, mặc cho sự biến chuyển trên thế giới đã mạnh mẽ lắm rồi bắt đầu từ kỷ XVI. Một so sánh lịch đại đơn giản trong trong sử học: khi nước Pháp làm cuộc Đại Cách mạng tư sản nổi tiếng vào năm 1789 phá ngục Bastille, tiến công vào dinh luỹ của chế độ phong kiến để mở đường phát triển thì ở Việt Nam, Quang Trung Nguyễn Huệ của đất Tây Sơn mới đánh đổ quân xâm lược Thanh để xây đại nghiệp. Mà đại nghiệp của quân Tây Sơn lại là vẫn tiếp nối một triều đại phong kiến mới, chứ không phải là chế độ mới, một phương thức sản xuất mới. Đến đây thì bước tiến trong sự phát triển của xã hội Việt Nam so với xã hội phương Tây tư bản đã chênh nhau hàng thế kỷ.

Mãi đến lúc này, triều Tây Sơn, Việt Nam vẫn chưa chủ động hoặc chưa đủ điều kiện mở cánh cửa ọp ẹp để đi ra thế giới hoặc là để thế giới đi vào Việt Nam. Đấy là chưa kể quân Tây Sơn sau khi thống nhất Đàng Trong – Đàng Ngoài (lãnh thổ đất liền) thì lại gây ra một bi kịch chia cắt lãnh địa giữa ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ. Họ là một thiên tài quân sự nhưng họ lại là một trong những lực lượng trì trệ nhất xét theo cái lôgíc của quá trình phát triển của dân tộc, tức là thống nhất rồi lại tự mình gây ra chia cắt, đánh phong kiến này rồi lại trở lại ngôi phong kiến kia.

Cho đến hiện nay, thập niên đầu của thế kỷ XXI (ít ra thì đến năm 2010), Việt Nam vẫn ở trong tình trạng chậm phát triển, để rồi phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tình trạng chậm phát triển của Việt Nam có phần là do chiến tranh,  nhưng cũng còn do hoàn cảnh, do cả cái tầm nhìn. Trong lúc Việt Nam đang guồng chân để tiến nhanh hơn thì thế giới đã bỏ khá xa chúng ta. Nguy cơ Việt Nam bị tụt hậu xa hơn về phát triển kinh tế so với nhiều nước trên thế giới và khu vực, nếu xét nguy cơ là cái điều có khả năng đến, thì nó không còn là nguy cơ nữa mà là sự thực rồi.

Khoa học và công nghệ thường là kỵ với nền nông nghiệp phong kiến cổ truyền. Nông dân – nông nghiệp – nông thôn, phương thức sản xuất châu Á…vẫn là nơi ít nhúc nhích nhất ở Việt Nam, nơi làm ra cái ăn nhưng bi kịch chính là ở đó: xã hội phải dành cho nó lực lượng lao động nhiều nhất nhưng có lúc vẫn cứ bị đói. Thế giới đi vào công nghệ, đã tiến sâu vào cả trong nông nghiệp để có thể chỉ dành ra gần 1% – 2% lao động xã hội cho nông nghiệp thôi nhưng vẫn thừa nuôi toàn xã hội và không những thế, mà còn nông sản để xuất khẩu.

Nhà cầm quyền (Triều Nguyễn) có lúc lại muốn kìm hãm. Ông vua Tự Đức cầm quyền khá lâu ở Triều Nguyễn là ông vua hay chữ, làm thơ, muốn yên phận nhưng nào có được như vậy, bất lực trước oai hùng của chủ nghĩa tư bản Pháp, không tích cực tìm cách gỡ bí trong bang giao, thử thách của cái mới thời cuộc. Những canh tân, những ý tưởng, những tờ sớ nặng lòng đưa đất nước thoát ra khỏi thế bí, tiếp nhận luồng tư tưởng nhập cuộc chơi với thế giới, tiếp nhận khoa học-kỹ thuật… của những trí thức cấp tiến như Nguyễn Tường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ, Bùi Viện, v.v. đều bị chế độ phong kiến chối bỏ. Tất cả mọi tinh lực canh tân bị chìm trong cái biển Nho giáo muôn năm cũ với tư tưởng phong kiến lỗi thời[14].

Trong cả hai cái chiều hướng đó, Việt Nam bị nặng hơn cái chiều thứ hai. Nói thế để thấy, không phải Việt Nam không nhúc nhích, mà vẫn đi lên, nhưng bước đi nặng nề, chậm chạp, đầy do dự, dùng dằng, ngắc ngứ.

Đó là bức tranh giản lược cái thử thách văn hoá của dân tộc Việt Nam mà Hồ Chí Minh sống. Và Hồ Chí Minh đi tìm con đường cứu nước, đưa đất nước Việt Nam phát triển để “sánh vai với các cường quốc năm châu” (chữ mà Hồ Chí Minh hay dùng) cũng là là làm cách mạng, mở đường cho văn hoá Việt Nam mới phát triển, để rồi văn hoá đó soi đường cho quốc dân đi.

Sự tiếp biến văn hoá của Hồ Chí Minh biểu hiện bằng quá trình tiếp nhận tinh hoa văn hoá dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hoá nhân loại; kết hợp văn hoá phương Đông với văn hoá phương Tây để trở về với văn hoá dân tộc. Đó chính là hành trình văn hoá Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh tiếp nhận những gì là tinh túy của văn hoá dân tộc Việt Nam, trong đó tinh túy nhất trong những cái tinh túy là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Một mặt, những giá trị văn hoá Việt Nam tự nhiên truyền chảy, thẩm thấu vào Hồ Chí Minh. Mặt khác, Hồ Chí Minh chủ động, tích cực tiếp nhận nó.

Các nhà nghiên cứu văn hoá Việt Nam thường hay đề cập những giá trị của văn hoá Việt Nam, có những giá trị mà ở nhiều nước trên thế giới cũng có chứ không riêng gì ở Việt Nam. Chẳng hạn, yêu nước. Nhưng đây là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, nó có sắc thái riêng. Chẳng hạn, lòng nhân ái. Nhưng đây là lòng nhân ái mang sắc thái của con người, của cộng đồng người Việt Nam.

Hồ Chí Minh được sinh ra từ nền văn hoá Việt Nam, trong đó có tiếp nhận từ truyền thống văn hoá quê hương, gia đình, có mở rộng tầm nhìn ra các vùng miền khác, đặc biệt là văn hoá kinh đô Huế và Sài Gòn – Gia Định. Ông không bó hẹp trong một địa bàn quốc gia-dân tộc mà còn tự giác dấn thân vào môi trường quốc tế rộng lớn, tự mình bươn trải trong 30 năm sống ở ngoài nước.

Đất Nghệ Tĩnh, sông Lam núi Hồng, địa linh nhân kiệt, có luồng văn hoá đặc sắc mà Hồ Chí Minh đã đằm mình vào đó từ ấu thơ. Ý nghĩa của mảnh đất đó có giá trị lớn tới cơ sở của cái chất văn hoá làm nên nhà văn hoá Hồ Chí Minh. Ở nơi ấy ra đi, tức là nói đến quê hương xứ sở, nơi chôn rau cắt rốn, tôi thấy thật khó lý giải cho cái “bệ phóng” đó của sự thăng tiến trong đời một con người. Với mảnh đất ấy, nguồn nước ấy, hai làng khác nhau, cách nhau chỉ một con mương nhỏ, thì hai cộng đồng người ở hai làng đã có hai âm ngữ rất khác nhau rồi. Lại nữa, tôi thấy ở xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An) chẳng hạn, một làng nổi tiếng trong cả nước về con người học hành, đỗ đạt, có không ít danh nhân, thì hầu như chỉ những người nào sinh ra, có tuổi ấu thơ ở đó rồi ra khỏi cái cống đá đầu làng để đi sinh sống, lập nghiệp nơi khác thì mới có cơ phát triển, thành đạt. Còn không, nếu vẫn ở làng thì khó mà phát, tiến.

Hồ Chí Minh ở vùng Nam Đàn, Nghệ An, sinh ra ở đất “linh”, ở trong một gia đình văn hoá. Một đơn vị văn hoá gia đình của Hồ Chí Minh trong cái vùng văn hoá này đã hun đúc nên văn hoá Hồ Chí Minh. Có lẽ Hồ Chí Minh cũng đã tiếp thu một cách nào đó cái khí khái của cha mình, một nhân vật tôi cho cũng là cái vết tích của ông đồ Nho xứ Nghệ.

Cụ Nguyễn Sinh Sắc thì ở vùng Nghệ Tĩnh chưa thấy ai khen văn thơ của Cụ là hay cả. Cụ không mạnh về mặt đó. Nhưng, Cụ mạnh ở mặt thương người, nhân ái, ở tính khảng khái, ở cái chí lớn, ở cái cách giáo dục cho con cái, ở cái quan niệm thức thời của Cụ trong buổi giao thời văn hoá Đông-Tây, giữa cái cổ và cái kim. Cụ là cái gạch nối của thời cuộc. Rồi Hồ Chí Minh đi tiếp cái gạch nối ấy, lân sang cái hiện đại từ cái nền văn hoá cổ – trung – cận đại đầy biến động.

Hồ Chí Minh tiếp nhận cái tinh túy văn hoá điển hình người phụ nữ Việt Nam chung thủy, đảm đang, hết lòng vì chồng con từ người mẹ thân yêu nhưng xấu số mất sớm. Hồ Chí Minh là một thành viên hoà đồng với chị và anh của mình làm thành cái đơn vị văn hoá gia đình đẹp đẽ của ông.

Từ trong đất nước, Hồ Chí Minh còn tiếp thu nền văn hoá Pháp và phương Tây qua trang sách học đường. Và đã sớm có ý định đằm mình trong đó bằng cách xuất dương với hai bàn tay và khối óc của mình, bằng lao động chân tay để kiếm sống, để học trong đường đời.

Hồ Chí Minh cũng được tiếp thu văn hoá phương Đông qua Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo. Hồ Chí Minh không phải là con số cộng các nền văn hoá dân tộc và thế giới mà là có sự tổng hoà, đúc kết hình thành làm một để kiến tạo nhà văn hoá Hồ Chí Minh. Ông còn tiếp thu cái nhân lõi của lý luận Mác – Lênin là chủ nghĩa nhân đạo, là sự dấn thân cho sự nghiệp cao cả nhất trong đời ông với tư cách là sứ giả văn hoá của nhân loại, là tự nguyện nhận ấn tiên phong của nhân loại cần lao trong cuộc đấu tranh giải phóng con người.

Hồ Chí Minh có quan niệm rằng, nếu hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin mà sống không có tình có nghĩa thì sao hiểu được chủ nghĩa Mác – Lênin. Cho nên, một số người có nhận xét về Hồ Chí Minh rằng, ở trong ông có Việt Nam thì rất Việt Nam, có phương Đông thì rất đậm phương Đông, nhưng đã tây thì lại rất tây.

Sắc thái văn hoá như tôi diễn tả ở trên tuyệt nhiên không phải là một thứ lai căng, không phải thập cẩm, không phải như thứ xalát trộn lẫn. Tôi nhớ mang máng ai đó, hình như là một học giả người Đức, bà Mêlen thì phải, năm 1966 có nhận xét rằng, Hồ Chí Minh là hình ảnh hoàn chỉnh của đạo Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học của C. Mác, tinh thần cách mạng của V. I. Lênin và tình cảm của một người chủ gia tộc, tất cả đều hoà hợp trong một dáng dấp rất tự nhiên. Còn J. Nêru của Ấn Độ thì nói: Được tiếp xúc với Hồ Chí Minh, tôi như được gặp một mảng lịch sử của nhân loại.

Hồ Chí Minh còn là một chủ thể sáng tạo văn hoá, văn hoá theo nghĩa hẹp. Ông là một nghệ sĩ đích thực với tư cách là nhà thơ, viết văn, nhà báo cách mạng bậc thầy, nhà phê bình văn nghệ, v.v. Về điểm này, tôi đồ chừng Hồ Chí Minh có được gen của bà nội mình là Hà Thị Hy, một nghệ sĩ dân gian múa đèn ở làng quê Nghệ – Tĩnh.

Hồ Chí Minh là một nhân tố quan trọng nhất và tác động mạnh mẽ nhất cho quá trình giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và thế giới của thế kỷ XX. Giao lưu văn hoá là điều tất yếu, là quy luật vận động và phát triển của nhân loại. Nó là một quá trình thường xuyên, diễn ra một cách tự nhiên, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của giới cầm quyền. Dù có đóng cửa, dù có bế quan toả cảng như thế nào đi chăng nữa, nhưng quá trình giao lưu văn hoá vẫn cứ diễn ra, vấn đề là ở chỗ nó diễn ra như thế nào mà thôi. Đáng tiếc là, quá trình giao lưu văn hoá quốc tế của Việt Nam để vừa kết hợp tinh hoa văn hoá dân tộc Việt Nam với nền văn hoá Pháp và phương Tây nói chung trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX gặp rất nhiều trắc trở do cả hai phía: phía triều đình phong kiến nhà Nguyễn, phía thực dân Pháp.

Thường là giao lưu văn hoá của Việt Nam với thế giới lúc này, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, được thông qua ba con đường sau đây:

1. Con đường tân văn, tân thư của các trào lưu tư tưởng tư sản trên thế giới qua các tác phẩm của Trung Hoa phản ánh những tư tưởng của Đại Cách mạng Pháp năm 1789, của Cách mạng Nga (1905 – 1907), nhất là âm hưởng hào hùng từ Cách mạng Tân Hợi (năm 1911) do Tôn Trung Sơn lãnh đạo;

2. Qua các phong trào duy tân, yêu nước của các bậc chí sĩ vốn từ các sĩ phu phong kiến chuyển làn sang tư tưởng tư sản, như hai Cụ Phan – Phan Bội Châu nổi tiếng với Phong trào Đông Du, Phan Châu Trinh nổi tiếng với duy tân, cải cách “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”;

3. Văn hoá của tư tưởng dân chủ tư sản còn vào Việt Nam bằng chính con đường “chính ngạch” trực tiếp từ chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, từ quá trình du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào thuộc địa Đông Dương.

Nhiều sĩ phu yêu nước đã bắt gặp được với tư tưởng dân chủ tư sản qua một số sách báo tiếng Pháp, tiếng Trung Hoa, nhưng cái chính nhất là ngọn lửa yêu nước nhiệt thành của họ vẫn cứ  luôn luôn đượm cháy. Sự xuất hiện tư tưởng tư sản ở Việt Nam còn là từ con đường tự nhiên của tất yếu giao lưu văn hoá giữa các dân tộc, bởi Việt Nam là một vùng địa – chính trị nhạy cảm, một đất nước án ngữ trên các ngả đường giao lưu của rất nhiều quốc gia trên thế giới.

Trong khi Việt Nam thất bại sau bao phen đứng lên chống ách đô hộ của thực dân Pháp theo con đường Cần Vương phong kiến thì ở nước láng giềng phương bắc, sau chiến tranh Trung Quốc – Nhật Bản, một trào lưu cải cách tư sản nổi lên mạnh mẽ. Một loạt tác phẩm dân chủ, cách mạng phương Tây được dịch ra tiếng Hán. Một loạt trường học, cơ quan báo chí, xuất bản…theo tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây được lập ra.

Một trào lưu nhưng có hai nhánh: nhánh “Cường học hội” do Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu đứng đầu chủ trương cải cách, đổi mới (duy tân) chế độ phong kiến Mãn Thanh để cải biến lên chính thể dân chủ tư sản; nhánh “Hưng trung hội” do Tôn Trung Sơn đứng đầu tập hợp các trí thức Tây học chủ trương đánh đổ chế độ phong kiến Mãn Thanh, lập chính phủ tư sản cộng hoà dân quốc.

Các tân thư, tân văn của Trung Quốc vào Việt Nam bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XIX, lúc đầu chủ yếu là qua các cửa khẩu, bến cảng, đến những nơi đông đồng bào Hoa kiều có tổ chức cách mạng. Các nhà nho Việt Nam, nhiều thanh niên Việt Nam nặng lòng yêu nước đang bế tắc về tư tưởng bắt gặp tân thư, tân văn như bắt gặp luồng sinh khí mới. Họ bắt đầu làm quen với những tư tưởng của Thế kỷ Ánh sáng, khoa học kỹ thuật, những tư tưởng của Xôcrát (Socrate – lúc này dịch là Tô Cách Lạp), Platôn (Platon – lúc này dịch là Bá Lạp Đề), Môngtexkiơ (Montesquieu – lúc này dịch là Mạnh Đức Tư Cưu), Đácuyn (Dawin – lúc này dịch là Đạt Nhĩ Văn), Arixtốt (Aristote – lúc này dịch là Á Lý Sĩ A Đức), Rútxô (Rousseau – lúc này dịch là Lư Thoa), Ađam Xmít  (Adam Smith – lúc này dịch là Tư Mật Á Đam)…

Đó là các nhà tư tưởng và nhà triết học mang tính khai sáng. Còn các chính khách, các nhà cách mạng, yêu nước của một số nước trên thế giới cũng được truyền bá, giới thiệu qua tân thư, tân văn mà các trí thức Nho học cuối mùa của Việt Nam biết đến. Đó là Oasinhtơn (G. Washington), B. Napôlêông (Napoléon), Pie Gran (Pieer Grand), Garibanđi (Garibandi)… Chưa thấy xuất hiện bất kỳ một tác phẩm nào của Mã Khắc Tư (Các Mác). Mãi đầu những năm 20 của thế kỷ XX, mới thấy xuất hiện bản dịch ra tiếng Việt của Nguyễn An Ninh về Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.  Những tri thức qua tân văn, tân thư được thấm vào đầu các sĩ phu thức thời nhưng có phần không hệ thống, nó theo lối tự nhiên chủ nghĩa, nhưng vì là rất mới và rất lạ cho nên gây cho họ óc hào hứng, thức tỉnh đầu óc u mê của Nho học. Chính vì vậy, nhiều học trò đã bỏ học giữa chừng, đoạn tuyệt với giáo dục theo lối Nho học và nhiều người tìm cách xuất dương, trước hết sang Trung Quốc, sang Nhật Bản, sang Xiêm.

Trong lịch sử, tôi đánh giá cao sự ảnh hưởng của tân văn, tân thư vào Việt Nam. Nó lớn lắm. Khi Lương Khải Siêu bên đất Trung Quốc qua đời, báo Thần Chung (ở Sài Gòn) ngày 25-1-1929 viết như thế này: “Tân Âm băng (của Lương Khải Siêu tiên sinh) với sĩ phu (Việt Nam) lúc nọ chẳng khác chi thang thuốc hay với người bệnh trầm kha, còn “Trung Quốc hồn” là một tập sách vài mươi trang mà thay đổi lòng người như chớp, một tập sách nói chuyện nước Tàu mà làm cho 20 triệu dân Nam phấn khởi”. Còn trước đó, cũng trong báo Thần Chung ngày 8-1-1929, có viết: “Những “Thanh nghị báo”, “Tân dân tùng báo”, “Án băng thất”, “Tự do thư”, “Trung Quốc hồn” đã đánh thức đám sĩ phu ta gần như trực tiếp, vì trong đó nói chuyện nước Tàu mà có nhiều chỗ trúng bệnh người mình lắm”. Phong trào Duy tân của Việt Nam với những Đông Kinh Nghĩa Thục, những cuộc vận động đời sống mới đầu thế kỷ XX rầm rộ khắp bắc, trung, nam chính là chịu ảnh hưởng từ luồng dân chủ tư sản này.

Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập, được bắt đầu khai giảng vào tháng 3 năm 1907 ở phố Hàng Đào, ngay trung tâm Hà Nội, có giấy phép của nhà cầm quyền Pháp hẳn hoi và có ảnh hưởng tới xu hướng canh tân của cả nước. Đây là nhà trường nhưng nó là cả một phong trào học tập theo lối mới. Nó không học theo lối nhồi sọ, tầm chương trích cú. Chương trình giảng dạy và học tập của Đông Kinh Nghĩa Thục dựa theo lối tân học của Trung Quốc, Nhật Bản. Sách báo yêu nước, tiến bộ được dùng rộng rãi, đặc biệt là các sách báo nước ngoài gửi về, trong đó có tân thư, tân văn từ Nhật Bản, Trung Quốc. Nhà trường dạy cả toán, địa lý, lịch sử, văn chương, giáo dục công dân, thể dục thể thao…Nếu học sinh đã nhiều tuổi và đã thông thạo chữ Hán thì dùng các tân thư của Trung Quốc làm tài liệu, còn đối với những học sinh khác thì tài liệu được soạn để dạy và học là cả chữ Hán và chữ quốc ngữ. Trọng tâm của phong trào là khơi dậy tinh thần yêu nước, đánh đổ tư tưởng hủ lậu, đả phá những tư tưởng của sĩ phu thủ cựu, truyền bá khoa học kỹ thuật, chú trọng thực nghiệp, chấn hưng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, chấn hưng thương mại. Các hội buôn, hội học, hội cày…được lập ra.

Tuy chỉ tồn tại được vẻn vẹn 9 tháng trời (từ tháng 3 đến tháng 12-1907) do thực dân Pháp, một loại thực dân bảo thủ, nặng về khai thác thuộc địa và tư bản tài chính cho vay nặng lãi, đàn áp, nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục cũng như tư tưởng duy tân-đổi mới đã kích lên lòng tự tôn dân tộc, cứa vào lòng dân Việt để bật ra một ý chí vươn lên cho bằng thiên hạ.

Thiên hạ làm được, thì nước Nam này tại sao không!

Muốn thế thì phải từ bỏ chế độ phong kiến để dựng xây một nền dân chủ mới, mà chúng ta sau này thường gọi là dân chủ tư sản. Như trên đẫ đề cập, nó là nền dân chủ theo các bậc đàn anh tư sản bên trời Âu, những Mạnh Đức Tư Cưu, những Lư Thoa…, và dân chủ theo kiểu ông Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu ở bên Tàu. Rồi sau nữa có ảnh hưởng mạnh theo kiểu dân chủ của ông Tôn Trung Sơn, dùng bạo động đánh đổ chế độ phong kiến hàng nghìn năm để dựng xây nền dân chủ cách mạng, dân chủ tư sản với chủ nghĩa tam dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Cái dân chủ này có lúc nó tiến gần với mácxít, đã có lần “Liên Nga, dung cộng, ủng hộ công nông” nhưng về bản chất thì chúng khác nhau quá, không thể hợp với nhau được.

Quá trình giao lưu văn hoá là quá trình tiếp nhận những giá trị văn hoá tốt đẹp của nhau, làm giàu thêm văn hoá của bản địa và từ đó mỗi một dân tộc có đóng góp tích cực chung vào kho tàng văn hoá của nhân loại. Tình trạng đóng cửa của triều đình nhà Nguyễn, thái độ cực đoan trong chính sách thực dân của Pháp ở Việt Nam đã làm chậm quá trình giao lưu văn hoá của Việt Nam với thế giới. Ngay cả phong trào duy tân (đổi mới), những cải cách, những làn gió mới thổi vào xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX đã làm nên cuộc cách mạng thật sự trong đời sống văn hoá của Việt Nam nhưng chính quyền phong kiến Việt Nam cũng không ưng. Không ưng bởi vì những cải cách đó trên thực tế đã nã những viên đại bác vào thành luỹ của chế độ phong kiến, làm xói mòn những giá trị của chế độ hiện hành.

Chính quyền thực dân Pháp lẽ ra phải ưng thuận và ủng hộ cho những cải cách về văn hoá duy tân, phải ủng hộ cho quá trình vùng lên mạnh mẽ đầu thế kỷ XX phong trào học chữ quốc ngữ, phong trào vận động đời sống mới (cắt tóc ngắn, mặc đồ Âu, bài trừ mê tín dị đoan…), phong trào chấn hưng thực nghiệp (công nghiệp, thủ công nghiệp, thương mại…).

Nhưng, chính quyền thực dân Pháp lại cũng không ưng, vì những cải cách đó cổ vũ tinh thần yêu nước. Với con mắt cực đoan, bảo thủ cho nên thực dân Pháp lo sợ các phong trào duy tân dẫn tới việc đấu tranh chống lại ngay bản thân thực dân Pháp, tác động không tốt tới sự cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam. Âm binh đã được triệu lên, và những âm binh này quay lại tiến công trực diện vào chế độ thực dân-phong kiến. Thế cho nên mới dẫn đến việc các yếu nhân của phong trào duy tân cũng bị thực dân Pháp đàn áp, bắt bớ, cấm chỉ hoạt động. Chính đây là một trong những biểu hiện của phản văn hoá, sự bóp nghẹt về văn hoá trong quá trình cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn luôn chú trọng làm cho đất nước Việt Nam tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hoá của các nền văn hoá thế giới. Nhiều người nghiên cứu Hồ Chí Minh thấy rằng, Hồ Chí Minh không phải là con người theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi mà là một con người có ý thức chủ động, tích cực tiếp nhận văn hoá của nước khác. Ông yêu mến văn hoá Pháp, yêu mến văn hoá Mỹ trong khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược đất nước Việt Nam. Điều này cũng giống như trong thời đại phong kiến, Việt Nam tiếp nhận văn hoá Trung Quốc mặc dù phong kiến Trung Quốc nhiều lần xâm lược, nô dịch Việt Nam.

Quá trình tiếp nhận như vậy là quá trình làm giàu cho kho tàng văn hoá dân tộc. Nhưng, ở Hồ Chí Minh, sự tiếp biến, giao lưu văn hoá có mấy điểm đáng lưu ý nhất:

Một: có thái độ chủ động, không được có tinh thần đóng cửa, bài ngoại; nói như danh từ hiện đại thì là phải tích cực, chủ động hội nhập.

Hai: trong giao lưu văn hoá, phải tiếp thu những điều tốt đẹp, không lai căng. Với tinh thần đó, trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam không mặc cảm tự ty mà chủ động giao lưu và tự khẳng định bản sắc dân tộc mình. Hồ Chí Minh cho rằng, phải mở rộng kiến thức của mình về văn hoá thế giới, nhưng cũng tránh nguy cơ chúng ta trở thành những kẻ bắt chước; rằng, không thể lấy từ nghệ thuật của dân tộc khác những mặt nào đó mà không chú ý chọn lọc; văn hoá của dân tộc khác cần nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể thu lại nhiều hơn cho văn hoá của chính mình.

Nói chủ động tiếp thu văn hoá của nước khác là nói trong cái thế của Việt Nam ở từng thời kỳ. Thường thì trên thế giới, người ta tổng kết có mấy con đường giao lưu văn hoá:

1. Con đường thương mại, tức là con đường hợp tác, trao đổi về làm ăn kinh tế (xưa gọi là con đường tơ lụa).

2. Con đường truyền giáo và tiếp nhận tôn giáo (do vậy, có những tôn giáo mang tính phổ biến toàn cầu, tiêu biểu nhất là ba tôn giáo lớn: Thiên chúa giáo, Phật giáo, Hồi giáo).

3. Con đường quan hệ chủ động, bình đẳng giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền.

4. Con đường chiến tranh xâm lược.

Việt Nam không may, chủ yếu lại thông qua con đường thứ tư này. Ngày nay, Việt Nam đang mạnh lên qua con đường thứ ba. Còn trước đây ở Việt Nam, thực ra con đường thứ nhất, con đường thứ hai đều thông qua con đường thứ tư. Do vậy, việc giao lưu văn hoá Việt Nam mới có những nét đặc biệt. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người thấu hiểu và muốn tăng cường giao lưu văn hoá qua con đường thứ ba, tức là qua quan hệ chủ động, bình đẳng giữa các quốc gia độc lập, có chủ quyền.

Trong giao lưu, một vấn đề tất yếu xẩy ra: giữ lại cái gì và tiếp nhận, rồi sau đó tạo ra cái gì? Đây chính là vấn đề muôn thuở trong bước đường tồn tại và phát triển của từng dân tộc. Bao giờ yếu tố văn hoá nền (cốt cách, bản sắc, đặc tính) của mỗi dân tộc không còn thì cũng tức là dân tộc đó bị mất đi. Các quốc gia – dân tộc trong EU, trong EC có nghị viện chung, có Uỷ ban chung, có đồng tiền chung, biên giới quốc gia có nước bị xoá nhoà, đi lại không cần hộ chiếu, v.v. nhưng cái còn thì vẫn là “quốc hồn”, “quốc tuý”, là văn hoá của quốc gia đó, là cái cốt cách, đặc tính, bản sắc. Đó là cả một quá trình giao hoà nhưng không tan, mặc dù về chính trị và văn hoá, về cương vực… có sự o bế, ép và cương toả.

Là một nhà văn hoá đồng thời là một nhà chính trị, Hồ Chí Minh chú ý ngay đến việc giữ gìn văn hoá bản địa khi đã có chính quyền cách mạng trong tay. Chính văn hoá bản địa là cái nền để tiếp biến. Hồ Chí Minh không dùng từ bản sắc mà dùng từ “cốt cách”, “đặc tính” dân tộc. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (ethny), hiện theo phân loại, có hơn 50 dân tộc. Đây là một nền văn hoá thống nhất trong đa dạng. Ông có quan điểm giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của hơn 50 dân tộc trên đất Việt Nam, giữ gìn các vốn cổ, trong đó có ngôn ngữ dân tộc.

Chỉ trong vòng mấy tháng sau Ngày độc lập, Hồ Chí Minh ký một loạt Sắc lệnh có liên quan trực tiếp đến văn hoá. Đó là Sắc lệnh số 43, ngày 10-10-1945, về việc thiết lập một Quỹ tự trị cho Trường đại học Việt Nam; Sắc lệnh số 44, ngày 10-10-1945, về việc thành lập Hội đồng cố vấn học chính; Sắc lệnh số 45, ngày 10-10-1945, về việc thiết lập một Ban đại học văn khoa tại Hà Nội; đặc biệt là Sắc lệnh số 65, ngày 23-11-1945, quy định nhiệm vụ và quyền lợi của Đông Phương Bác Cổ học viện, trong đó đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc giữ gìn các tài sản văn hoá quốc gia để truyền lại cho muôn đời con cháu về sau.

Hồ Chí Minh lưu ý cho mọi người trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, với những ý như: không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới; cái gì xấu thì phải bỏ; cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý; cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm.

Những điều Hồ Chí Minh nói như nguyên lý ứng xử văn hoá như vậy, nhưng trong cuộc sống thật không đơn giản. Vùng quê tôi ít nhất có ba lần người ta phá đền, chùa. Lần thứ nhất là ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, người ta phá đền với ý nghĩa là phá những tàn tích phong kiến. Lần thứ hai là lúc bắt đầu phong trào hợp tác hoá sản xuất nông, ngư nghiệp, với lý do “quét” một lần nữa các tàn tích phong kiến và còn cớ nữa là lấy đất, lấy nơi làm trụ sở hợp tác xã. Lần thứ ba là sau cái đận chiến tranh biên giới năm 1979, với lý do là ngôi đền này có liên quan đến một số người Trung Quốc xưa. Mà nghe người quê tôi nói lại là những người phá đền hay là những ai hôi của, chẳng hạn như lấy các loại gỗ của đền về làm của riêng, thì những người đó đều chết sớm.

Cái tinh thần của Hồ Chí Minh chưa thấm đến được với mọi nhà. Cái tính bột phát tiểu tư sản, tả khuynh vẫn còn nặng lắm. Tôi nghe một số người kể lại rằng, Hồ Tùng Mậu, lúc làm Chủ tịch hành chính Liên khu IV trước tình hình người ta phá đền, chùa trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược thì có nói một câu rất đúng, đại ý rằng: dịch tả có thể giết chết hàng trăm, hàng ngàn người, nhưng tả khuynh giết chết cả sự nghiệp cách mạng.

Một tình trạng khác mà Hồ Chí Minh cũng nhắc nhở: phát huy vốn cũ của dân tộc nhưng tránh phục cổ một cách máy móc. Ông phê bình tình trạng khôi phục cả đồng bóng, rước xách thần thánh quên cả sản xuất, cứ trống mõ bì bõm, ca hát lu bù.

Nhiều người tưởng rằng, văn hoá là những giá trị ít biến động, nhưng kỳ thực là nó biến động dữ dội qua thời cuộc. Vấn đề là ở chỗ, chúng ta phải chủ động biến đổi nó cho phù hợp với yêu cầu phát triển tiến bộ của dân tộc. Những lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên, liệu có nên khôi phục lại không? Và nếu khôi phục thì giữ lại những điểm gì và bỏ những điểm gì? Có được câu trả lời trong thực tế quả là không dễ.

Năm 2002, chúng tôi có dịp sống ở các tỉnh Tây Nguyên hơn 1 tháng. Cán bộ tỉnh cho biết rằng, trước tình hình nhiều lễ hội ở Tây Nguyên bị mai một, tỉnh đã dùng ngân sách trợ cấp cho nhân dân dựng lại Nhà Rông, ngôi nhà chung như là ngôi đình làng của người Kinh ở đồng bằng Bắc Bộ xưa, để sinh hoạt cộng đồng và tổ chức các lễ hội văn hoá.

Có phải do nhân dân ở các buôn, làng Tây Nguyên thiếu tiền đến vậy không? Thiếu tiền thì có. Nhưng tôi cho rằng, đó không phải nguyên nhân chủ yếu nhất. Nguyên nhân chủ yếu nhất nằm ở khía cạnh khác: sự mai một đặc tính văn hoá do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân do chính sách, cơ chế. Còn nữa, có nhiều nơi, xã hoặc huyện cấp tiền từ ngân sách cho buôn làng mua trâu tổ chức lễ hội đâm trâu. Ở đây có hai khía cạnh đáng chú ý. Một là, không phải nhân dân thiếu tiền đến mức đó, đến mức là cộng đồng không có đủ tiền mua trâu, mà là ở chỗ đó là dấu hiệu ở sự mai một đi cái lễ đó. Hai là, lễ hội đâm trâu cần được cải biên cho phù hợp với tình hình mới của cuộc sống, như Hồ Chí Minh đã quan niệm chung về các giá trị văn hoá. Có cái gì đó hao hao như đấu bò tót ở Tây Ban Nha. Tôi đã tận mắt chứng kiến lễ đâm trâu, chứ không phải là xem qua TV. Thật đáng thương  cho con trâu, là bạn của nhà nông bị đâm khi chung quanh là những nông dân hiền lành đang khua chiêng, cầm giáo.

Hoặc nữa, lễ hội chọi trâu ở Đồ Sơn (Hải Phòng) dịp 9-8 âm lịch hằng năm. Những năm gần đây thì khôi phục lại rồi. Cũng do cả sự thúc đẩy từ du lịch nữa. Chọi trâu, có thể. Nhưng sau khi chọi trâu xong, các làng, các phường đều mổ trâu đó để chia phần thịt, kể cả con trâu được giải, từ vô địch trở xuống. Liệu có nên không? Tâm linh ở đây như thế nào? Cần hướng tâm linh tới cái gì đây để cải biến nó?

Trên đây là những điều mà không thể chỉ dùng biện pháp quản lý nhà nước. Mà trong lĩnh vực văn hoá cụ thể, không phải cứ dùng biện pháp cấm hay không cấm mà được. Phải dùng những biện pháp văn hoá để đối xử lại những giá trị văn hoá.

Ba: Hồ Chí Minh cũng lưu ý đến thái độ đúng đắn về nhận và cho. Ông cho rằng, Việt Nam có thể tiếp nhận bất cứ cái hay nào của Âu, Mỹ nhưng điều cốt yếu là phải sáng tạo; mình đã hưởng cái hay của người thì mình cũng có cái hay cho người ta hưởng; mình đừng chịu vay mà không trả. Trong Hội nghị Văn hoá toàn quốc tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) ngày 24-11-1946, Hồ Chí Minh đã bày tỏ quan điểm rằng, với cái gì tốt của Đông phương hay Tây phương ta phải học lấy để tạo nên một nền văn hoá Việt Nam. Lại phải lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay, trau dồi văn hoá Việt Nam có tinh thần thuần tuý Việt Nam, hợp với tinh thần dân chủ.

Sự tiếp biến văn hoá của Hồ Chí Minh được diễn ra trong suốt cuộc đời của ông, nhưng mạnh nhất, có hiệu quả nhất, đương nhiên là từ khi nước nhà đã giành được độc lập xây dựng cuộc sống mới, lúc ông làm Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Nhưng, cái nền, cái quan điểm của ông về vấn đề đó là nhất quán.

Hồ Chí Minh thâu thái cổ kim Đông Tây, đem những cái tốt đẹp trong văn hoá của nhân loại hoà vào và phát triển cùng văn hoá dân tộc, nâng tầm văn hoá dân tộc lên, đưa văn hoá dân tộc đóng góp chung vào văn hoá thế giới, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau của các dân tộc, góp vào bước tiến chung của nhân loại.

Có lẽ chính thế mà Tổ chức Văn hoá, Khoa học, Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh ông, cho rằng, những tư tưởng của Hồ Chí Minh là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau.

III. Văn hoá trong tư tưởng Hồ Chí Minh – Cách nhìn biện chứng trong xã hội hiện đại

VĂN HOÁ VỚI CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, XÃ HỘI

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, văn hoá với chính trị, kinh tế, xã hội gắn chặt với nhau. Sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các lĩnh vực đó tuân theo những quy luật nhất định. Chính trị, kinh tế, xã hội của một quốc gia, nhìn chung, chế định sự hình thành và phát triển của nền văn hoá. Đồng thời, văn hoá tác động trở lại chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá có tính độc lập của nó. Thiết tưởng nên nhắc lại quan điểm của Hồ Chí Minh về văn hoá, văn hoá theo nghĩa rộng mà ông viết trong những trang ghi chép cuối ở tập Ngục trung nhật ký năm 1943: kinh tế, chính trị, tâm lý, tính cách… nằm trong văn hoá.

Có người không đồng ý về điểm này, và cho rằng, phải phi chính trị hoá văn hoá. Thực ra, nếu tách rời văn hoá với chính trị, kinh tế.. thì không phù hợp với thực tế.

Chính vì văn hoá liên quan chặt chẽ với chính trị cho nên trong lĩnh vực chính trị, người ta yêu cầu có một trình độ văn hoá chính trị nhất định. Là nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp, Hồ Chí Minh đã làm cho văn hoá và chính trị quyện chặt vào nhau.

Cũng có thể do có quan niệm như vậy, cho nên trong những thập niên cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, một số người đã nêu ra khái niệm và nội dung “Văn hoá Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam). Đã có một số cuộc hội thảo khoa học bàn luận về cái này. Cho tới nay, ý kiến về vấn đề này còn khác nhau nhiều lắm. Một số người thì phản bác, cho rằng, về khoa học thì không có khái niệm đó. Rồi việc nêu khái niệm, nội dung về văn hoá Đảng cũng rất khác nhau. Tôi cho là nếu có khái niệm, có nội dung của “Văn hoá Đảng” thì văn hoá Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là một nội dung của khía cạnh văn hoá chính trị mà thôi.

Văn hoá chính trị được “đo” mức độ, trình độ trong hành xử của Đảng cộng sản cầm quyền, và nói chung là của cả hệ thống chính trị, của toàn bộ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, đội ngũ công chức…của chế độ chính trị đối với đất nước. Đó là văn hoá vì dân, vì sự phát triển của đất nước, vì sự tiến bộ của nhân loại.

Lẽ đương nhiên, nói đến văn hoá chính trị là nói đến văn hoá đó là của một nền chính trị, một chế độ chính trị nhất định. Điều này, đề cập một dạng khác, là văn hoá của nền chính trị, xét trong quan hệ văn hoá với chính trị, đúng như Hồ Chí Minh nói trong Phiên khai mạc Hội nghị Văn hoá toàn quốc tại Nhà hát Lớn (Hà Nội) ngày 24-11-1946, ngay trước gần 1 tháng Toàn quốc kháng chiến bùng nổ: “Văn hoá có liên quan mật thiết với chính trị. Văn hoá soi đường cho quốc dân; phải làm thế nào để văn hoá ăn sâu vào tâm lý quốc dân…và lấy tự do, độc lập làm gốc”.

Sự nghiệp chính trị của Hồ Chí Minh là đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa dân tộc đi lên chủ nghĩa cộng sản, góp phần cùng nhân dân thế giới đấu tranh vì sự tiến bộ xã hội. Mọi ý nghĩ, hành động hướng tới sự nghiệp đó và nhằm đạt được mục đích đó, chính là sự nghiệp văn hoá của Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh cho rằng văn hoá, nghệ thuật không thể đứng ngoài mà là đứng trong kinh tế và chính trị. Cho nên, trong cuộc chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh đưa ra khẩu hiệu “Văn hoá hoá kháng chiến, kháng chiến hoá văn hoá”. Không có nghệ thuật vị nghệ thuật mà nghệ thuật phải vị nhân sinh. “Nhà thơ cũng phải biết xung phong” — đó là tuyên ngôn của Hồ Chí Minh khi đề cập trách nhiệm của các nhà văn hoá đối với sự nghiệp cách mạng.

Văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội liên quan chặt chẽ với nhau theo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Mọi hoạt động kinh tế đều phải gắn với văn hoá, nếu không, sẽ bị trả giá không những trước mắt mà còn lâu dài. Chính vì thế, Hồ Chí Minh nêu lên nhiệm vụ xây dựng kinh tế là một trong những nhiệm vụ xây dựng và chấn hưng văn hoá dân tộc.

Văn hoá phục vụ sự nghiệp cách mạng của nhân dân, văn hoá phản ánh hiện thực kinh tế, xã hội. Đó chỉ là một mặt. Mặt quan trọng nhất là tất cả các biểu hiện của trên tất cả các lĩnh vực đều được xuất phát từ cái lõi (bản chất) của văn hoá. Điều đó cho phép chúng ta có một thái độ đúng, tức là không được phép gạt văn hoá ra ngoài quá trình vận hành của nền kinh tế, xã hội, hoặc nói một cách đúng hơn là không được phép gạt quá trình vận hành của nền kinh tế-xã hội ra khỏi văn hoá của dân tộc.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự phát triển  bền vững, tăng trưởng kinh tế phải đi liền với công bằng xã hội, đi liền với  sự giữ gìn và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của dân tộc đã được xây đắp trong hàng ngàn năm. Do đó, bởi có lúc không biết gắn chặt văn hoá với chính trị, kinh tế, xã hội cho nên trong mấy năm qua ở Việt Nam đã xuất hiện một xu hướng không lành mạnh.

Có người cho rằng, văn hoá là lĩnh vực phi vật chất, không có nó và chưa có nó cũng chẳng sao. Trong tính toán kế hoạch, phần đầu thừa đuôi thẹo mới dành cho văn hoá. Trong cạnh tranh kinh tế, một số cơ sở kinh tế đã đi theo xu hướng “cá lớn nuốt cá bé”, coi nhẹ chữ tín, họ đo lỗ lãi thuần tuý bằng tiền mà không tính đến hiệu quả về mặt xã hội. Đã xuất hiện không ít trường hợp trong kinh doanh bất chấp đạo lý, xúc phạm nhân phẩm; phát triển kinh tế nhưng xâm hại cảnh quan môi trường văn hoá, thậm chí có nơi còn lấn chiếm, phá hoại cả đình, chùa, đền, di tích văn hoá, v.v. Không thể cứ đổ trách nhiệm đó cho cơ chế thị trường mà trách nhiệm thuộc về chính con người, do nhận thức, do một chế định kiểm tra, kiểm soát, v.v.

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bảo đảm cho một xã hội ổn định về mọi mặt, trong đó xu thế phát triển lành mạnh, bền vững thì đó chính là kinh tế thị trường gắn với văn hoá. Mục tiêu của văn hoá, như phần trên đã đề cập, là đưa lại những gì tốt đẹp nhất cho con người. Văn hoá đi liền với sự phát triển là vì vậy, nó bảo đảm cho phúc lợi toàn dân.

Hồ Chí Minh nhất quán quan điểm văn hoá phục vụ nhân dân là xuất phát từ cơ sở lý luận văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội có quan hệ mật thiết với nhau. Là một nhà văn hoá, Hồ Chí Minh nhấn mạnh quan niệm sáng tác văn học, nghệ thuật – một lĩnh vực cụ thể của văn hoá —  là phải nhằm vào đối tượng quần chúng nhân dân, sáng tác nhằm nâng cao tầm trí tuệ của nhân dân lên.

Một xã hội lành mạnh là một xã hội có nền chính trị ổn định, nền kinh tế bảo đảm cuộc sống vật chất ngày càng cao cho tuyệt đại đa số nhân dân, là một xã hội mà trong đó các giá trị đạo đức của con người được bảo đảm, con người được hưởng cuộc sống tinh thần tốt đẹp. Đó là yêu cầu của sự phát triển văn hoá.

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, do vậy nó luôn luôn có mối tương tác với mọi lĩnh vực khác. Hồ Chí Minh là người kết hợp một cách hài hoà các lĩnh vực đó trong quá trình cách mạng Việt Nam bằng cả hai tư cách: vừa là nhà chính trị (tiêu biểu nhất là chức vụ Chủ tịch nước và Chủ tịch Đảng Cộng sản cầm quyền) và vừa là nhà văn hoá.

Theo hình mẫu của Hồ Chí Minh thì đã là nhà chính trị tài ba thì cũng đồng thời là nhà văn hoá kiệt xuất, và ngược lại. Ông đã đạt tới hai đỉnh cao đó cùng một lúc bởi vì ông hướng cho xã hội Việt Nam đi theo xu hướng đó. Ở đây, chính trị, kinh tế, xã hội, không phải song hành mà là nằm trong văn hoá. Và, ở đây có thể là một tiêu chí để căn cứ vào đấy mà xem xét sự đúng đắn của các đường lối, chính sách, chủ trương cũng như hành động của một tổ chức chính trị, xã hội. Mọi sai lầm trong việc tách rời các yếu tố văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội thật là tai hai, gây ra hậu quả khôn lường, khó mà sửa chữa được. đôi khi, do nhận thức không đúng đắn thì, chẳng hạn, chính sự phát triển những mặt nào đấy về xây dựng kinh tế không có tính toán đến văn hoá, xã hội, sẽ phá huỷ các giá trị văn hoá – cả văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể.

Hiện nay, vào thời gian tôi viết những dòng này, tháng 10-2008, có người cho rằng, giữa các nhà thầu xây dựng, giữa những người có trách nhiệm cầm cân nảy mực cho các công trình xây dựng phục vụ cho Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội với nhiều nhà khoa học tâm huyết với Thủ đô, nhất là với các nhà sử học, đang có sự vênh nhau ghê gớm trong quan niệm về xây dựng các công trình liên quan đến bảo tồn, gìn giữ, phát huy giá trị các di tích lịch sử.

Với cái đà này, di tích lịch sử của Hà Nội chỉ còn là một tiếng vọng, là phế tích. Trong lịch sử Việt Nam, cứ triều đại phong kiến này lên lại phá bỏ những di tích của triều đại phong kiến khác. Nỗi đau đó được bổ sung bằng các cuộc xâm lăng của các thế lực phong kiến phương Bắc. Xâm lược Đại Việt, thế lực phong kiến Trung Quốc đã phá huỷ hầu như tất cả những di vật văn hoá, hơn nữa, còn bắt về nước những nhân tài đất Việt. Di tích còn đó, nhưng chủ yếu là những phế tích. Di tích Hoàng Thành Thăng Long được khai quật, phát lộ ra nhiều điều, cũng chỉ là phế tích mà hiện đang làm hồ sơ để đề nghị UNESCO công nhận di sản thế giới. Cả toà thành Hà Nội thời cận đại trong một thời gian khá dài biến thành doanh trại Quân đội. Rồi đó, Nhà tù Hoả Lò, còn đâu dấu tích, hay chỉ có cái khoảng nhỏ nhoi như cóc gặm trơ gan ra đó cho khách nào muốn tham quan. Rồi Hội trường Ba Đình “lịch sử” ở đâu?, v.v. và v.v.

Tiên trách kỷ hậu trách nhân. Đừng đổ lỗi cho chiến tranh. Đúng, chiến tranh là tội phạm lớn nhất cho sự huỷ hoại của các di tích văn hoá. Nhưng, nhiều khi con người đương đại mới chính là thủ phạm lớn nhất cho sự phá huỷ đó. Ngó sang các nước, tôi thấy họ trân trọng từng viên gạch, từng cây cỏ, từng di chứng của lịch sử văn hoá. Xem những di tích nhà tù ở nước ta mà buồn. Còn đâu, nhà tù Sơn La nguyên dạng. Còn đâu nhà ngục Kon Tum. Còn đâu nhà lao Cây Dừa ở Phú Quốc. Còn hệ thống nhà tù ở Côn Đảo đang ngổn ngang những ý tưởng ngược xuôi trong các phương sách bảo tồn, bảo tàng.

Nói đến văn hoá theo tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng phải nói đến mối quan hệ giữa văn hoá và tư tưởng, hay nói cách khác là nói đến văn hoá với ý thức hệ. Nói đến tự do tư tưởng cũng là nói đến xác định hệ tư tưởng. Đây là điều rất nhạy cảm hiện nay, và còn nhiều, khá nhiều ý kiến bất đồng trên lĩnh vực này. Nhiều người mặc cảm và “dị ứng” vấn đề ý thức hệ, họ lập luận phủ nhận toàn bộ các vấn đề liên quan đến ý thức hệ. Họ cho là không có, đã không có và sẽ không có vấn đề đó. Họ cho rằng, sở dĩ có vấn đề ý thức hệ là do mấy ông cộng sản nêu ra. Tôi cho ý kiến đó là không đúng. Đối với Hồ Chí Minh, cần có hệ tư tưởng vì con đường đi của dân tộc Việt Nam mà ông đã chọn lựa là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Con đường này là đúng, có thể không đúng với dân tộc nào đó, còn nó đúng với Việt Nam. Con đường này đã được thử thách, mặc dù hiện tại vẫn có một số người hoài nghi.

Tư tưởng là một nội dung cốt lõi của đời sống văn hoá và tinh thần của xã hội. Định hướng cơ bản nhất của đời sống tinh thần là tư tưởng. Định hướng tư tưởng mà Hồ Chí Minh khẳng định đối với đất nước Việt Nam là kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sự nghiệp văn hoá của đất nước là nằm trong định hướng đó và nó bảo đảm cho sự phát triển bền vững, lành mạnh của văn hoá, nó khơi dậy sáng tạo của mỗi một cá nhân và cộng đồng dân cư trên đất nước Việt Nam. Định hướng đó không hề bóp nghẹt sự tự do sáng tạo của con người, không xâm hại đến nền dân chủ xã hội.

Hồ Chí Minh là người giỏi chắt lọc tinh hoa của các luồng tư tưởng, từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây, nhưng sở dĩ Hồ Chí Minh trở thành một nhà văn hoá, một nhà tư tưởng là vì ông đã tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào đời sống xã hội Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng, đưa nền văn hoá dân tộc hồi sinh, phát triển trên cơ sở giữ gìn bản sắc dân tộc và tiếp thu văn hoá tiên tiến trên thế giới.

Gần một thế kỷ qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng nước ta là chủ nghĩa Mác – Lênin (đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đưa thêm tư tưởng Hồ Chí Minh vào nữa). Với một ý thức hệ được xác định như vậy, cách mạng Việt Nam đã phát triển vượt bậc, đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong phạm vi cả nước và đi lên chủ nghĩa xã hội. Theo đó, nền văn hoá mới đã hình thành và phát triển ở Việt Nam.

Những thành tựu trong những năm đổi mới vừa qua đã chứng minh tính đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Song những năm vừa qua cũng đã có sự suy thoái về tư tưởng. Điều đó thể hiện ở việc trước sự biến động của tình hình thế giới và trong nước, một số người dao động, phủ nhận con đường đi của dân tộc và phủ nhận tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Văn hoá với tư tưởng gắn chặt với nhau theo Hồ Chí Minh, là nhằm nâng cao tinh thần yêu nước của nhân dân, làm cho xã hội có một đời sống tinh thần lành mạnh. Một ý thức hệ được xây dựng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tạo ra đời sống văn hoá mà trong đó những năng lực sáng tạo của mỗi người được phát huy với mục tiêu phục vụ cho con người.

VĂN HOÁ LỐI SỐNG

Thế giới hiện nay là thế giới của sự tăng tốc, tăng phạm vi, mức độ  giao lưu văn hoá giữa người này với người khác, giữa cộng đồng người này với cộng đồng người khác, bởi thế giới hiện nay đã “phẳng” hơn rất nhiều so với 10 năm – 20 năm trước đây. Vấn đề lối sống, vì thế, cũng biến đổi nhanh hơn, phong phú hơn, và cũng có phần phức tạp hơn. Đó là sự biểu hiện mới của giao lưu văn hoá và cũng là một thử thách của tính khẳng định đặc tính văn hoá của từng cộng đồng người.

Văn hoá lối sống cũng là một trong những tiêu chí để phân biệt người này với người khác, cộng đồng này với cộng đồng khác, dân tộc này với dân tộc khác. Lối sống là một giá trị của văn hoá và có vai trò rất to lớn tác động đến quá trình xây dựng một nền văn hoá của dân tộc.

Có người cho rằng, điểm trung tâm phổ biến nhất của văn hoá trong đời sống xã hội là lối sống. Lối sống chính là sự biểu hiện của trình độ của ý thức chính trị, đạo đức, tư tưởng của con người. Lối sống được xác định bởi các mối quan hệ phong phú trong các hoạt động của con người: lao động, giao tiếp, sáng tạo các giá trị vật chất và tinh thần. Lối sống tốt đẹp là lối sống đạt được mục tiêu có quan hệ đúng đắn giữa con người với con người, với chính bản thân sự phát triển của con người, với giới tự nhiên. Lối sống phản ánh và gắn với phương thức sản xuất của xã hội.

Những năm gần đây, khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, bước vào cơ chế thị trường, nhiều người hay đề cập vấn đề lối sống ở nước ta. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã nhiều lần nêu vấn đề lối sống trong khi đề ra nhiệm vụ cho các tổ chức Đảng cũng như cho cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đề cập sâu vào ba vấn đề: tư tưởng, đạo đức, lối sống. Trung ương Đảng đã đánh giá là trong những năm đổi mới, xã hội năng động hơn, năng lực của từng người được khuyến khích hơn, v.v. Nhưng bên cạnh đó có sự suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; một số căn bệnh xuất hiện và đang phát triển: sùng ngoại, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, chỉ coi trọng giá trị vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần, chỉ coi trọng lợi ích cá nhân, coi nhẹ giá trị cộng đồng, chỉ coi trọng lợi ích trước mắt mà ít chú trọng lợi ích lâu dài, v.v. Tệ nạn xã hội phát triển mạnh.

Nghị quyết Hội nghị 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay đề cập những biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn để Đảng ta ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt trong đó có lối sống.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, văn hoá lối sống là một nội dung được ông thể hiện ở rất nhiều bài nói, bài viết và cả trong cuộc sống thường nhật của bản thân mình.

Văn hoá lối sống trong tư tưởng Hồ Chí Minh trước hết nằm ở mục tiêu phát triển của đất nước đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nằm ở lý tưởng và chủ nghĩa yêu nước của con người Việt Nam. Con người sống có lý tưởng, có hoài bão chi phối toàn bộ lối sống của con người. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh thường hay đề cập mục tiêu cách mạng và mỗi người dân Việt Nam cần cố gắng để đạt được. Mọi hoạt động của con người Việt Nam phục vụ cho mục tiêu cách mạng nghĩa là nhằm giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội đều thể hiện lối sống đẹp.

Phương thức sản xuất của một xã hội chế định lối sống của con người xã hội. Điều này đúng và lối sống đó là lối sống có lý tưởng, có hoài bão, có mục tiêu rõ ràng. Nhưng không phải ai cũng sống có lý tưởng mà có người lại sa vào lối sống thực dụng, sống gấp, sống vì những cám dỗ vật chất và tinh thần tầm thường. Cuộc sống có lý tưởng của con người Việt Nam lại đi vào dòng chủ lưu của truyền thóng văn hoá Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước. Đây là chỗ khác nhau căn bản của lối sống mới trong chế độ mới của nước ta đối với lối sống cũ dưới chế độ thực dân, phong kiến.

Hồ Chí Minh đề cập lối sống có tình, có nghĩa. Ngay cả khi phân tích sự cảm nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh khía cạnh tình nghĩa của con người. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu thuộc bao nhiêu sách về chủ nghĩa Mác – Lênin mà sống với nhau không có tình, có nghĩa thì cũng coi như chưa hiểu gì về chủ nghĩa Mác – Lênin. Sống có tình nghĩa không có gì mâu thuẫn với lối sống trong sự chế định của Hiến pháp và pháp luật.

Lối sống của người Việt Nam trong chế độ mới là lối sống cần cù, giản dị, sống theo những chuẩn mực của đạo đức cách mạng, theo những thuần phong mỹ tục, mà Hồ Chí Minh hay nói là tạo ra “đời sống mới”.

Văn hoá lối sống trong chế độ mới, theo Hồ Chí Minh không phải là loại bỏ hết tất cả những giá trị văn hoá lối sống trong chế độ cũ, mà nó chỉ loại bỏ những yếu tố không phù hợp. Những cái mới không tự nhiên xuất hiện mà phần lớn là kế thừa truyền thống. Những lối sống do thói quen nhưng do cơ sở kinh tế – xã hội để lại. Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội không phải trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lại bị ảnh hưởng của hàng chục năm chiến tranh. Bên cạnh những cái tốt, hoàn cảnh đó để lại lề thói trong lối sống dân cư nói chung là tự do tản mạn, suy nghĩ hẹp hòi, làm ăn tủn mủn, chụp giật, gia trưởng, đẳng cấp… là biểu hiện của nền sản xuất nhỏ. Thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức có những yêu cầu cao về lối sống mới, do vậy phải phá bỏ lề thói cũ, phát huy những truyền thống tốt theo tác phong công nghiệp.

Việc xây dựng lối sống của chế độ mới ở nước ta đương nhiên gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Công việc xây dựng lối sống mới là lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì và phải được được đặt trong chiến lược tổng thể xây dựng con người. Đời sống kinh tế là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến lối sống, nó tạo ra những phương tiện cho hoạt động văn hoá nhưng không nên tuyệt đối hoá mặt đó. Những người giàu có chưa chắc đã có lối sống tốt. Có một số người nhiều tiền lại sống xa hoa, sa đọa, và ngược lại tuy đời sống kinh tế của một số người còn nghèo nhưng lối sống của họ thật trong sáng, đẹp đẽ.

Một lối sống coi thường pháp luật đã sinh ra nhiều tai hại cho xã hội. Thói quen sống tuỳ tiện, quan liêu, gia trưởng chưa được gột rửa ở nhiều người trong bộ máy của hệ thống chính trị. Những cái xấu khi đã thành thói quen thì rất khó sửa chữa. Hồ Chí Minh là người chỉ ra một cách rất tỉ mỉ xây dựng lối sống mới cho từng loại đối tượng: trẻ em, người lớn, một người, một nhà, một làng, một trường học, các tầng lớp, trong công sở, ngoài xã hội, cho đến lối sống của cả cộng đồng, v.v.

Trong nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam của chế độ mới, Hồ Chí Minh nhấn mạnh xây dựng con người toàn diện, vừa kế thừa những truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam, vừa xây dựng những đức tính, lối sống trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là con người có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, có ý chí quyết tâm phấn đấu suốt đời vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có tinh thần cùng toàn Đảng, toàn dân phấn đấu đưa đất nước thoát ra khỏi nghèo nàn, lạc hậu, góp phần vào sự tiến bộ chung của nhân loại. Đó là lối sống vì lợi ích chung, biết hy sinh lợi ích riêng của  bản thân mình để bảo đảm cho lợi ích của cách mạng. Đó là lối sống lành mạnh, trung thực, coi trọng nhân nghĩa, đạo lý, tôn trọng kỷ cương phép nước; tinh thần lao động cần cù với năng suất cao; thường xuyên học tập nâng cao trình độ, v.v.

Lối sống của chế độ mới cũng được bảo đảm bởi nền dân chủ, nhất là dân chủ cơ sở. Đây là vấn đề Hồ Chí Minh rất quan tâm và ông cho rằng, “nước ta là nước dân chủ”. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được của chế độ mới trong việc xây dựng dân chủ, hiện nay “nhìn chung, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được”[15]. Do đó, Đảng và Chính phủ đã đưa ra chủ trương và quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở. Trong những năm thực hiện cơ chế dân chủ, thực tế đã chứng minh tính đúng đắn của chủ trương đó. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tích cực góp phần hình thành lối sống tốt đẹp trong thời kỳ mới ở các cộng đồng dân cư.

Đất nước ta và nhân loại đang bước vào những thập niên đầu thế kỷ XXI. Vấn đề văn hoá lối sống cho mỗi quốc gia – dân tộc vẫn luôn luôn là một vấn đề cần được đặt trong chương trình nghị sự của các thể chế chính trị. Quá trình xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó có việc xây dựng lối sống mới, là một cuộc cách mạng, nó đòi hỏi các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và mọi ngành, mọi gia đình, mọi người tự giác thực hiện với tất cả tinh thần và trách nhiệm công dân của mình.

VƯỢT QUA CÚ SỐC VỀ GIÁO DỤC

Giáo dục là một trong những lĩnh vực nhạy cảm nhất của văn hoá. Có con người là đã có giáo dục. Giáo dục là của từng con người rồi sau mới là của gia đình, nhà trường và xã hội.

Cũng như văn hoá, giáo dục có rất nhiều định nghĩa. Có người cho rằng, giáo dục là việc truyền dạy kinh nghiệm sống của thế hệ trước cho thế hệ sau; hoặc giáo dục là dạy cho người ta biết hành động; giáo dục là làm bộc lộ năng khiếu của con người chứ không phải nhồi nhét thông tin vào đầu người ta. Tôi thích nhất quan niệm sau đây mà không ít người đã nêu: giáo dục là quá trình, cách thức làm bộc lộ những khả năng tiềm ẩn của người được giáo dục.

Những quan niệm, định nghĩa trên đây bắt nguồn từ gốc tiếng latinh “Educare”.

Trong tập Nhật ký trong tù, ở bài số 100, Hồ Chí Minh nêu lên vai trò rất lớn của giáo dục:

Dạ bán

Thụy thì đô tượng thuần lương hán,

Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân;

Thiện, ác nguyên lai vô định tính,

Đa do giáo dục đích nguyên nhân.

Nghĩa là:

Nửa đêm

Lúc ngủ, mọi người đều có vẻ thuần hậu,

Tỉnh dậy, mới phân biệt rõ người thiện, kẻ ác;

Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu,

Phần lớn đều do giáo dục mà nên.

Nam Trân dịch:

Nửa đêm

Ngủ thì ai cũng như lương thiện,

Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,

Phần nhiều do giáo dục mà nên.[16]

Hồ Chí Minh là người sống trong những thời kỳ giao thoa giữa các nền giáo dục. Cuộc đời của Hồ Chí Minh là cuộc đời tự học là chủ yếu. Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng của truyền thống gia đình về đường học hành.

Học để thi đỗ, làm quan. Đã đành là vậy. Nhưng, đối với cha của Hồ Chí Minh là Cụ Nguyễn Sinh Sắc thực lòng không muốn ra làm quan. Lấy cớ là đang có tang vợ để lần khân, tìm cách hoãn không được, cuối cùng Nguyễn Sinh Sắc đành phải vào Kinh đô Huế nhậm chức thừa biện bộ Lễ, sau làm tri huyện Bình Khê (Bình Định) trong tâm thế không đắc chí. Cụ quan niệm: “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ, hựu nô lệ” (Nghĩa là quan trường là nô lệ trong đám nô lệ cho nên càng bị nô lệ hơn). Quan niệm này cũng giống như quan niệm của Cụ Phan Bội Châu, một người bạn cùng quê với Cụ Nguyễn Sinh Sắc, rằng[17]:

Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch

Lập thân tối hạ thị văn chương

Nghĩa là:   Mỗi bữa (ăn) không quên ghi sử sách

Lập thân hèn nhất ấy (là) văn chương

Với quan niệm như vậy, cả ba người con của Cụ Nguyễn Sinh Sắc đều học nhưng không thi cử đỗ đạt gì đáng kể. Nhưng, cũng chính Cụ Nguyễn Sinh Sắc lại có một tư tưởng rất tiến bộ. Trong khi một số người yêu nước ghét thực dân Pháp rồi cực đoan ghét luôn cả việc học tiếng Pháp, không cho con mình học tiếng Pháp, thì Cụ Nguyễn Sinh Sắc lại khuyến khích các con mình học tiếng Pháp. Hành trang ra đi tìm con đường cứu nước của Hồ Chí Minh, do đó, về tiền bạc là không có, nhưng về tri thức thì đã có vốn tiếng Pháp, văn hoá Pháp nhất định.

Hồ Chí Minh là con người hiếu học, học mọi lúc mọi nơi có thể học được, tự học là chính, học trong suốt cuộc đời, kể cả trên giường bệnh năm 1969 ở Hà Nội, trước khi bước vào cõi vĩnh hằng, vẫn còn học. Năm 1961, tâm sự với các đảng viên hoạt động lâu năm, Hồ Chí Minh nói: “Công việc ngày càng nhiều, càng mới. Đảng phải đào tạo, dìu dắt đồng chí trẻ. Một mặt, đảng viên già phải cố gắng mà học. Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải than gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau. Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi so với sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ, kể cả ở Liên Xô, Trung Quốc, thì chúng mình dốt lắm. Một cháu bé bây giờ đã nghe nói đến vệ tinh, biết nghe rađiô. Tôi và các đồng chí hồi đó không biết…Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt. Thế hệ già thua thế hệ trẻ mới là tốt. Các cháu không hơn là bệt. Bệt là không tốt. Người ta thường nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Ta hiểu như thế nhưng không có tư tưởng thụt lùi, nạnh kẹ: tao làm cách mạng già đời không được gì. Nó mới vào, mà Bộ trưởng, Thứ trưởng, Chủ tịch, Chủ nhiệm, v.v.”[18].

Hồ Chí Minh thích câu của V.I. Lênin “Học, học nữa, học mãi”, thích câu của Khổng Tử: “Học nhi bất yếm. Hối nhân bất quyện”. Nghĩa là: Học không biết chán. Dạy (truyền lại) cho người khác không biết mỏi. Khổng Tử còn nói: “Tố ẩn hành quái, ngô bất vi chi” (Nghĩa là: Những việc bí ẩn, quái dị tôi không làm; tôi chí biết học tập). Chính vì vậy, không ai thấy sớm và nhanh nhạy như Hồ Chí Minh, trong lúc bộn bề trăm thứ việc ngay sau giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã nhìn thấy được ba thứ giặc cần tập trung sức lực của cả toàn dân vào để chống: giặc ngoại xâm, giặc đói, có cả chống giặc dốt.

Dốt là một loại giặc thì chỉ có Hồ Chí Minh mới nhận ra được như thế, chỉ có Hồ Chí Minh mới nói được như thế. Bởi vì ông quan niệm rằng, một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.

Dưới ách thực dân, phong kiến, hơn 90% người dân mù chữ, làm thế nào để giải quyết hậu quả đó để nâng cao dân trí, một mục tiêu mà các nhà cải cách dân chủ duy tân nước ta đầu thế kỷ XX đã làm mà làm chưa xong vì trái với chính sách của thực dân Pháp “Làm cho dân ngu để dễ trị” cho nên bị thực dân Pháp đàn áp?

Cụ Phan Châu Trinh, một nhà cải cách duy tân tiêu biểu những năm đầu thế kỷ XX đã ra tay hành động với tư tưởng “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” nhưng rốt cuộc giữa chừng đứt gánh vì thực dân Pháp không ưa.

Có điều kiện trong tay, Hồ Chí Minh làm ngay cái sự nghiệp còn dang dở của các bậc cha chú. Ông phát động phong trào Bình dân học vụ sâu rộng trong cả nước Việt Nam mới, tận hang cùng ngõ hẻm, đủ các biện pháp, với sức của dân và quyền lợi của dân.

Hồ Chí Minh tôn vinh đặc biệt những chiến sĩ diệt giặc dốt, những thầy giáo bình dân học vụ, coi công trạng của họ không có tượng đồng bia đá nào ghi cho xứng. Hồ Chí Minh khai thông, mở cho một truyền thống hiếu học của cả một dân tộc ùa về chứ không như sau này, trong điều kiện thuận lợi hơn nhiều mà việc phổ cập, nâng cao cái sự học lại khó khăn đến thế, phải ỷ lại, có lúc phải dựa vào dự án này, dự án nọ.

Trong dịp đến thăm Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, tháng 9 năm 1949, Hồ Chí Minh đã ghi vào sổ vàng của Trường:

Học để làm việc,

làm người,

làm cán bộ,

Học để phụng sự Đoàn thể,

phụng sự giai cấp và nhân dân,

phụng sự Tổ quốc và nhân loại

Muốn đạt mục đích, thì phải

Cần, kiệm, liêm, chính,

Chí công, vô tư.

Không thấy Hồ Chí Minh nói là học để lấy bằng cấp bao giờ.

Hồ Chí Minh tiếp thu truyền thống gia đình mình và cũng là từ sự trải nghiệm của chính bản thân. Hồ Chí Minh tự học là chủ yếu. Người nào mà tự học thành tài thì chí lớn lắm, thông minh lắm. Hồ Chí Minh không may mắn, khi ngồi học trên ghế nhà trường vừa đã ít lại còn vừa dang dở. Tuổi thơ của ông ở Huế thì đầu tiên học lớp sơ đẳng (élémentaire) Trường Tiểu học Đông Ba tháng 9 năm 1906. Năm sau, tháng 9 chuyển sang học Trường Quốc học, lớp trung đẳng (moyen).

Năm 1908, cái năm sóng gió cuốn trào của các phong trào yêu nước, đã ảnh hưởng đến tuổi thanh niên của Hồ Chí Minh khá mạnh. Tuổi thơ và tuổi chớm thanh niên của Hồ Chí Minh không bình lặng. Đất nước rung chuyển bởi nhiều sự kiện.

Năm ấy cũng là năm Cụ Phan Bội Châu, một người cùng quê với Hồ Chí Minh, được Hồ Chí Minh ngưỡng mộ, bị chính quyền Nhật Bản trục xuất cùng với sự tan vỡ của Phong Trào Đông Du. Không trách được Chính phủ Nhật Bản, vì về mặt nào đó, quyền lợi của Nhật Bản cũng gần giống như của Pháp, cùng hội cùng thuyền với thực dân Pháp, tuy cùng giòng giống da vàng với Việt Nam.

Năm ấy cũng là năm thực dân Pháp trục xuất Tôn Trung Sơn ra khỏi Việt Nam vì Tôn Trung Sơn có sang Việt Nam để vận động cách mạng, chủ yếu trong cộng đồng Hoa kiều. Rồi năm ấy có vụ Hà Thành đầu độc làm khiếp vía thực dân Pháp. Cũng năm ấy, thực dân ra tay đóng cửa không thương tiếc Đông Kinh Nghĩa Thục.

Và, năm 1908 cũng là năm sóng cồn từ các cuộc biểu tình chống thuế của nhân dân miền trung dâng lên. Đang ngồi trên ghế Trường Quốc học Huế, Hồ Chí Minh rẽ ngang, xuống đường tham gia biểu tình cùng bà con cô bác, những người khốn khổ vì chế độ sưu thuế nặng nề, hà khắc.

Biết chắc rằng, mình sẽ bị đuổi học, ông bỏ học rồi đi xuống phía nam. Trên đường đi, năm 1910, ông ghé Bình Định, rồi dừng chân một thời gian ngắn dạy tiểu học ở trường Dục Thanh (Phan Thiết) khoảng 8 tháng theo đường dây giới thiệu của Công ty nước mắm Liên Thành (Chứ không phải như một số bài viết sau này cho rằng, vì hết tiền cho nên Hồ Chí Minh mới vào dạy học ở Trường này). Đây là ngôi trường nằm trong khuôn viên của nhà cụ Nguyễn Thông, một người yêu nước, nhà thơ. Trường thành lập năm 1907 do người con của cụ Nguyễn Thông là Nguyễn Quý Anh làm Hiệu trưởng. Trường này lập ra và dạy theo kiểu của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục của Hà Nội. Chủ yếu Trường dạy theo quốc ngữ, bên cạnh đó có chữ Hán, Pháp văn, các môn học khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, thể dục, thể thao, văn nghệ…Nguyễn Tất Thành (tên lúc đó của Hồ Chí Minh) được phân công dạy lớp nhì (có tài liệu còn cho biết ông dạy cả các lớp ba, tư nữa), dạy quốc ngữ và Hán văn, dạy thể dục, và ông còn hướng dẫn học sinh tham quan các di tích lịch sử và các cảnh đẹp ở địa phương.

Không lâu sau đó, ông rời đất nước mở đầu cho cuộc hành trình dài 30 năm đằng đẵng xa Tổ quốc (1911 – 1941). Sang Pháp và các nước phương Tây khác, Hồ Chí Minh cũng không vào học trường nào một cách có hệ thống cả. Phần lớn ông tự học lấy.

Đúng ra là Hồ Chí Minh có gửi đơn xin học trường thuộc địa của Pháp nhưng bị bác đơn. Ông vừa làm việc, vừa đi đây đi đó, kiếm sống để quan sát, để học, để tìm cái cần tìm: một con đường khả dĩ đưa đất nước Việt Nam thoát khỏi ách đế quốc, thực dân.

Sau này, đến khi sang Liên Xô hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, quãng thời gian giữa năm 1923 đến cuối năm 1924, Hồ Chí Minh được học một thời gian rất ngắn ở Trường Đại học cộng sản phương Đông. Đến quãng sau này, khi ra tù, trở lại đại bản doanh Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva (1934 – 1938), vì nhiều lý do, Hồ Chí Minh được cử học một thời gian ở Trường Quốc tế mang tên V.I. Lênin (Khoá 1934 – 1935). Sau đó có một thời gian, Hồ Chí Minh làm nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản, nhưng chỉ một năm sau đó, ông ra khỏi danh sách nghiên cứu sinh để tìm cách trở về nước.

Đường học của ông trên ghế nhà trường, như diễn giải ở trên, là ngắn, lỗ mỗ, không liên tục. ấy thế, và lạ thay, tri thức của Hồ Chí Minh thật uyên bác. Đây không phải là nhận định của tôi mà là của tất cả những người nào, kể cả người nước ngoài và người Việt Nam có dịp tiếp xúc, làm việc, dù lâu, dù chóng, với Hồ Chí Minh. Nhận định chính xác chứ không phải đánh giá cho “hữu nghị”.

Riêng ngoại ngữ của ông đã là một minh chứng. Cho đến nay, không ai thống kê chính xác Hồ Chí Minh biết bao nhiêu thứ tiếng. Mà ngôn ngữ là một cánh cửa để cho con người ta bước vào thế giới văn hoá của một dân tộc.

Có người nói rằng, Hồ Chí Minh biết 6 thứ tiếng, có người bảo là 10, có người lại bảo là 12. Có thứ tiếng tưởng rằng Hồ Chí Minh không biết, nhưng lại thấy ông nói chuyện bằng tiếng Inđônêxia lúc giải lao với ông Xucácnô khi ông này dẫn đầu Đoàn đại biểu sang thăm chính thức Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1965.

Về nước, khi vượt cột mốc 108 biên giới Việt Nam – Trung Quốc sang Cao Bằng, Hồ Chí Minh học ngay tiếng Tày – Nùng và trong một thời gian không dài đã nói thành thạo.

Chắc chắn Hồ Chí Minh giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hán và biết nhiều thứ tiếng khác nữa, biết đến cái mức làm thơ, viết kịch, viết văn, viết báo. Hồ Chí Minh đã viết truyện, ký, viết báo bằng tiếng Pháp mà ông tự nhận là học trò (tự học) của Đại văn hào Nga Liép Tônxtôi. Trong cuốn sách Hồ Chí Minh truyện bằng tiếng Trung Quốc do Bán nguyệt xuất bản xã ở Thượng Hải xuất bản tháng 6 năm 1949 mà nhiều người đồ chừng là bản dịch tác phẩm Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch của Trần Dân Tiên hoặc là một “phiên bản” của tác phẩm này, có viết rằng, Hồ Chí Minh nêu ưu điểm của Khổng Tử, của chúa Giêsu, của Phật Thích Ca Mầu Ni, của chủ nghĩa Mác, của Tôn Dật Tiên…và ông nguyện làm người học trò nhỏ của các vị ấy.

Hồ Chí Minh viết tác phẩm Con rồng tre mà một số câu lạc bộ ngoại ô thành phố Pari đầu những năm 20 thế kỷ XX đem ra dựng thành kịch và nhiều nhà phê bình sân khấu lúc bấy giờ khen vở kịch đó là hay. Hồ Chí Minh nói bằng giọng Pari chuẩn khi tiếp chuyện các tù binh Pháp sau Chiến dịch Biên Giới năm 1950 làm cho họ rất cảm kích. Hồ Chí Minh dạy tiếng Anh cho con gái của ông bà luật sư Lôdơbi khi đang ở nhờ trong nhà ông bà này chờ chuyến tàu đi Vlađivôxtốc để trở lại Mátxcơva sau những tháng năm bị giam cầm trong nhà tù của thực dân Anh ở Hồng Công. Một người Việt Nam mà dạy tiếng Anh cho một người Anh. Đó là sự lạ. Như thế để thấy trình độ tiếng Anh của Hồ Chí Minh đến mức nào. Hồ Chí Minh rất thông thạo tiếng phổ thông Trung Quốc, đặc biệt là tiếng Quảng Đông.

Đặc biệt hơn nữa là Hồ Chí Minh rất giỏi chữ Hán cổ. Đặc biệt là bởi vì thời gian mà Hồ Chí Minh học chữ Hán cổ (chữ Nho) ở trong nước không nhiều bằng những người khác. Nhưng, Hồ Chí Minh đã làm thơ bằng chữ Hán, mà là thơ Đường, thì quả là siêu, bởi vì làm thơ Đường khó lắm, ngoài cảm tác nghệ thuật, đạt đến độ chín của tư tưởng, thi nhân còn phải giỏi cả ngôn ngữ nữa. Hồ Chí Minh có cả những yếu tố đó.

Tập thơ Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) bằng chữ Hán (năm 1942 – 1943) được nhiều người đánh giá cao. Ông Quách Mạt Nhược, một chuyên gia của Trung Quốc và các nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc đánh giá rằng, nếu đem những bài thơ trong tập thơ Ngục trung nhật ký đặt lẫn vào các bài thơ nổi tiếng đời nhà Đường thì có lúc người ta không phân biệt được đâu là thơ của Hồ Chí Minh và đâu là thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ.

Hồ Chí Minh học theo lối nhập tâm, không tầm chương trích cú, ngay lập tức thu nhận tri thức, biến nhuyễn thành ra cái của mình để ứng với cuộc sống luôn luôn vận động không ngừng. Viết về vấn đề nào đó, Hồ Chí Minh rất ít trích dẫn, và khi trích dẫn thì không phải cứ nguyên văn từng dấu phẩy, dấu chấm (Như ông đã dẫn ý của Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 ở trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà).

Hồ Chí Minh khát khao tri thức, chuộng sách báo, nhưng ông không câu nệ vào chúng. Đến thăm nhà sàn của Hồ Chí Minh ở thủ đô Hà Nội, tôi quan sát thấy sách ở đấy quá ít, không như nhiều người hiện nay sách riêng ở gia đình quá đồ sộ. Đừng tưởng Hồ Chí Minh không đọc hoặc không có thì giờ để đọc sách báo.

Hồ Chí Minh đọc nhiều, nghe nhiều (nghe rađiô, thời đó ở Việt Nam chưa có vô tuyến truyền hình). Ông có linh cảm và nhạy cảm như một giàn ăngten cực mạnh để nắm bắt từng hơi thở, nhịp đập của cuộc sống, của thời cuộc. Hồ Chí Minh không bày sách ra giá, ra bàn cho oai, cho ra vẻ ta đây. Hồ Chí Minh không bằng cấp học đường, nhưng tri thức của ông uyên bác (sâu rộng), ngồn ngộn, lớp lớp ken dày, cổ kim đông tây thông tuệ[19].

Năm 1070, nhà Lý lập Văn Miếu ở Thăng Long thờ Khổng Tử. 5 năm sau, tức là năm 1075, mở khoa thi đầu tiên và lập Quốc Tử Giám, mở trường dạy cho con em quý tộc và đào tạo những người có tài. Sau này nữa có thờ Chu Văn An. Đây có thể gọi là những mốc đầu tiên cho chế độ khoa bảng của phong kiến Việt Nam tồn tại mãi đến năm 1919 với khoa thi cuối cùng. Gọi là khoa thi cuối cùng, nhưng kỳ thực nền giáo dục phong kiến vẫn còn tồn tại theo chế độ của nó, đến hết năm học 1944 – 1945 với sự chấm dứt của Triều Nguyễn, mở ra thời kỳ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Sau năm 1919 đến giữa những năm 1940, Nho học vẫn còn tồn tại một cách dai dẳng bên cạnh tây học và nền học vấn quốc ngữ. Xen lẫn, xô bồ, lấn lướt, đứt gãy, biến thiên…Đó là một cú sốc về giáo dục. Cú sốc đó được giải quyết khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời và nền giáo dục mới được xác lập. Hồ Chí Minh chính là người lĩnh ấn tiên phong cho sự vượt qua cú sốc ấy và cho sự thiết lập một nền giáo dục mới. Chính đó là một điểm son ghi dấu ấn thật đậm vai trò của Nhà văn hoá Hồ Chí Minh.

Lĩnh vực giáo dục nói riêng và việc nâng cao dân trí nói chung có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội. Sự nghiệp “trồng người” mà Hồ Chí Minh khởi xướng vẫn luôn luôn là chiến lược hành động của toàn hệ thống chính trị của đất nước Việt Nam mới sau khi nước nhà giành được độc lập. Vì vậy, trong sự nghệp đổi mới vì mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với sự phát triển của kinh tế tri thức, việc đầu tư cho giáo dục, cho việc nâng cao dân trí chính là sự đầu tư cho phát triển. Hầu hết các quốc gia có tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) hằng năm cũng như chỉ số phát triển con người cao đều có nguyên nhân quan trọng từ sự đầu tư cho giáo dục.

Việt Nam có chỉ số phát triển con người (Human develovement index – HDI) tuy theo thứ tự thì cao hơn chỉ số của bảng xếp GDP, nhưng nhìn tổng thể thì vẫn thấp so với nhiều nước trên thế giới. Trong chỉ số thấp, có tác động lớn của trình độ dân trí thấp. Hậu quả của trình độ dân trí thấp do nhiều nguyên nhân. Hiện nay, số người mù chữ trong độ tuổi lao động còn cao, số trẻ em bỏ học còn nhiều. Tình hình này diễn ra không chỉ ở vùng sâu, miền núi mà còn ở những vùng phát triển kinh tế. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của công tác giáo dục. Đời sống văn hoá và đời sống kinh tế đi liền với trình độ phát triển dân trí nói chung và giáo dục nói riêng.

Những quan điểm về giáo dục của Hồ Chí Minh thấm đượm từ cái gốc rễ của truyền thống dân tộc, trong đó có truyền thống gia đình, từ tiếp thu những tư tưởng tiến tiến về giáo dục trên thế giới.

Giáo dục là một phần tất yếu của văn hoá. Giáo dục là một quá trình tác động vào con người để con người có được những tri thức, những kỹ năng sống, có được đạo đức tốt phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia-dân tộc, cộng đồng dân cư.

Những quan niệm về giáo dục của Hồ Chí Minh có nguồn và được bồi đắp từ truyền thống hiếu học của dân tộc Việt Nam. Nhân dân Việt Nam xưa đã coi “Nửa bụng chữ bằng một hũ vàng”, về lễ nghĩa thì “Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”. Điều đó phản ánh tinh thần tôn sư trọng đạo của người Việt Nam. Ông cha chúng ta coi trọng giáo dưỡng con người trong mọi hoàn cảnh, trong tất cả các giai đoạn phát triển của con người, từ tuổi ấu thơ cho đến về già.

Hiện nay, do có sự bức xúc về nền giáo dục nước nhà, nhiều người đã bàn luận để góp ý cải cách, trong đó có những ý kiến bàn sâu về những thách thức mà Việt Nam đang và sẽ gặp phải, có những ý kiến về đánh giá sự tiêu cực, sự tụt hậu của nền giáo dục Việt Nam, có người bàn về triết lý giáo dục Việt Nam, v.v. Có thể nói rằng, chưa bao giờ như lúc này, giáo dục của Việt Nam lại được bàn luận nhiều đến thế, ý kiến khác nhau nhiều đến thế.

Trong tình hình đó, tôi muốn góp thêm một tiếng nói, nhưng là từ góc độ của những quan điểm của Hồ Chí Minh. Có người cho rằng, Hồ Chí Minh không phải là nhà giáo dục, nhà sư phạm như Macarencô — một nhà văn hoá, nhà sư phạm nổi tiếng của Nga. So sánh như thế thì quá khập khiễng. Về nghĩa đen, nghĩa hẹp của nhà giáo dục, Hồ Chí Minh đã có thời kỳ dạy học, tuy không nhiều.

Đó là Hồ Chí Minh dừng chân dạy học khoảng 8 tháng ở Trường tiểu học Dục Thanh (Phan Thiết, Bình Thuận ngày nay). Ông còn là giảng viên của nhiều khoá huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên do chính ông sáng lập ở Quảng Châu (Trung Quốc). Hồ Chí Minh còn là người thường chú trọng đến huấn luyện cán bộ cách mạng, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng chăm lo đến việc tìm cốt cán, giác ngộ cách mạng cho mọi người, đào tạo, huấn luyện họ thành những cán bộ cách mạng trung kiên. Có lúc chỉ có một người, Hồ Chí Minh vẫn cứ huấn luyện.

Nhưng, hiểu theo nghĩa rộng của Nhà giáo dục, thì Hồ Chí Minh là người đưa ra nhiều quan điểm về giáo dục, và đã đưa vào thành đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ông còn là người biên soạn một số tài liệu cho các khoá của Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên (tiêu biểu là cuốn Đường cách mệnh), biên soạn tài liệu cho Quốc tế Cộng sản…

Những quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục chủ yếu biểu đạt ở những nội dung sau đây:

Một là, nền giáo dục bảo đảm thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước (Có thể gọi tắt là giáo dục theo mục tiêu).

Tôi rất tâm đắc với những gì Hồ Chí Minh nêu những nội dung phản ánh về mục tiêu giáo dục Việt Nam ngay trong năm học đầu tiên khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời năm 1945[20].

Giữa bộn bề công việc của những ngày đầu của chế độ mới, Hồ Chí Minh gửi thư cho các em học sinh nhân “ngày khai trường đầu tiên ở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”; “các em hết thảy đều vui vẻ vì sau mấy tháng giời nghỉ học, sau bao nhiêu cuộc chuyển biến khác thường, các em lại được gặp thầy gặp bạn. Nhưng sung sướng hơn nữa, từ giờ phút này giở đi các em bắt đầu được nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam”.

Một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam đó là gì?

Hồ Chí Minh so sánh mục tiêu của nền giáo dục cũ của thực dân-phong kiến với mục tiêu của nền giáo dục mới của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: “Trước đây cha anh các em, và mới năm ngoái cả các em nữa, đã phải chịu nhận một nền học vấn nô lệ, nghĩa là nó chỉ đào tạo nên những kẻ làm tay sai, làm tôi tớ cho một bọn thực dân người Pháp. Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em…Sau 80 năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên ta đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên hoàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Như vậy, chỉ một đoạn rất ngắn trong bức thư trên đây thôi, tôi cảm nhận được nhiều điều liên quan đến mục viết này của tôi:

Một là, cảm nhận đầu tiên là Hồ Chí Minh đã nêu lên một quan niệm, hay là định nghĩa, khái niệm về giáo dục, như trên tôi đã bàn tới, đó là giáo dục là “làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Đây là quan niệm của một tư duy giáo dục rất tiên tiến, nghĩa là giáo dục là một quá trình kích thích tư duy, kích thích sự phát triển, làm cho mọi năng lực của con người được bồi đắp và thích ứng với yêu cầu của cuộc sống.

Hai là, mục tiêu giáo dục của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được Hồ Chí Minh nêu rất rõ: tạo ra những công dân có ích cho xã hội Việt Nam, khác với nền giáo dục thực dân-phong kiến, một nền học vấn nô lệ nhằm tạo ra một đội ngũ tay sai cho thực dân Pháp.

Ba là, với quan niệm như vậy về giáo dục và với mục tiêu giáo dục như vậy, nền giáo dục đó trông chờ vào việc đóng góp của các em học sinh, những người mà sẽ làm cho non sông Việt Nam tươi đẹp, bước tới đài vinh quang, theo kịp các nước khác trên hoàn cầu, làm cho Việt Nam sánh vai các cường quốc năm châu.

Đã gọi là giáo dục theo mục tiêu thì không phải cứ chạy theo khối lượng kiến thức, mà là ở chỗ trang bị kiến thức gì để đạt chất lượng phục vụ cho mục tiêu. Nhiều lúc Hồ Chí Minh chỉ nêu lên những yêu cầu tưởng chừng như rất đơn giản thôi trong giáo dục. Chẳng hạn, trong cuộc vận động xoá nạn mù chữ để diệt giặc dốt ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Hồ Chí Minh chỉ nêu yêu cầu là làm cho mọi người biết đọc, biết viết. Thế thôi. Nhưng đó quả là một cuộc cách mạng để nâng cao dân trí, bởi vì hon 80 năm cai trị, thực dân Pháp thi hành chính sách “Làm cho dân ngu để dễ trị”, mở rất ít trường học, đầu độc nhân dân Việt Nam bằng rượu cồn và thuốc phiện. Chẳng hạn, đúng ngày 2 tháng 9 năm 1948, trong thư gửi các chiến sĩ bình dân học vụ trong phong trào diệt giặc dốt, giáo dục để nâng cao dân trí, Hồ Chí Minh nêu lên yêu cầu dạy cho đồng bào:

“1. Thường thức vệ sinh, để dân bớt đau ốm.

  1. Thường thức khoa học, để bớt mê tín nhảm.
  2. Bốn phép tính, để làm ăn có ngăn nắp.
  3. Lịch sử và địa dư nước ta (vắn tắt bằng thơ hoặc ca), để nâng cao lòng yêu nước.
  4. Đạo đức của công dân, để thành người công dân đứng đắn.

Các bạn hãy làm cho được chừng ấy đã, sau chúng ta sẽ tiến lên bước cao hơn”[21].

Hồ Chí Minh đề ra mục tiêu cho trẻ em trong ý thơ sau đây:

Trẻ con như búp trên cành

Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan.

Mục tiêu là ngoan. Nền giáo dục cho trẻ em phải phấn đấu đạt mục tiêu đó. Biết ăn, biết ngủ, tưởng chừng đơn giản, nhưng khó lắm thay. Thế kỷ XXI này, các phương tiện thông tin đại chúng vẫn thường xuyên nêu về cách ăn, cách ngủ sao cho phù hợp. Còn “biết học hành” nữa, không phải ai cũng biết cách học hành cho đúng.

Một tâm lý thường thấy ở nhiều nhà giáo dục hiện nay ở Việt Nam là muốn trang bị thật nhiều tri thức cho học sinh, thành thử cấu tạo và thời lượng chương trình học tập các môn học rất nặng. Cặp sách đi học của học sinh thời nay quá nặng (Có nơi cặp học sinh tiểu học lên đến 7 kg). Học sinh thời nay hầu như không có tuổi thơ. Áp lực về học hành quá lớn. Mùa hè về, thế hệ học sinh thời chúng tôi trước đây vẫn có những khoảng lặng cần thiết cho những thú chơi nghịch ngợm thời học trò. Chúng tôi quên đi những bài tập, những trang sách và đắm mình vào những sinh hoạt khác không kém phần bổ ích cho cuộc sống. Thời nay thì khác rồi. Trẻ em còn phải luyện thi vào lớp 1 có chất lượng cao.

Đã gọi là giáo dục phổ thông là phải dạy cho con người (thường là lớp trẻ) những kiến thức tối thiểu, thông thường, đại chúng mà ai cũng cần để có thể sống, hoà nhập, thích nghi tốt với cộng đồng tại nơi và thời điểm mà họ đang sống. Như vậy, giáo dục phổ thông, nếu tiếp cận theo mục tiêu, thì là sự truyền dạy những kiến thức, những kỹ năng sống cơ bản, sát thực, cần thiết để người được tiếp nhận có thể áp dụng vào cuộc sống, nhằm thích nghi với xã hội. Điều này loại bỏ những kiến thức cao siêu, hàn lâm, không thực tế, nhồi nhét, áp đặt. Những thợ giải toán vốn là kết quả của sự “sáng dạ” cộng với những lò luyện để thi đạt giải cao chẳng để làm gì cho xã hội cả, nó vô bổ, nếu họ không được tiếp cận với cách giáo dục theo mục tiêu, trở thành nhà toán học (lý thuyết hoặc ứng dụng) giúp ích cho đời.

Có lẽ chính vì vậy mà có người đã mạnh dạn đề nghị: đối với phổ thông, nên bỏ đi ở cấp tiểu học 40%, cấp trung học cơ sở 50%, cấp trung học phổ thông 70% kiến thức về văn, toán, lý, hoá và một số môn khác cũng phải giảm để dành chỗ cho những kiến thức hữu ích hơn cho cuộc sống[22]. Ý kiến này cho rằng, hiện nay, hàng triệu học sinh phổ thông Việt Nam trong nhiều năm trời ngày đêm miệt mài, đánh vật với các con số để giải các bài toán, lý, hoá…mà kết quả đã biết từ hàng trăm năm trước rồi; kết quả này không cần cho tổ chức, cá nhân nào cả, hầu như không giúp gì cho cuộc sống sau này; như vậy rất lãng phí. Tình hình giáo dục không theo mục tiêu như vậy diễn ra trong khi bản thân, gia đình, địa phương cũng như đất nước còn biết bao nhiêu “bài toán” bức xúc đang đòi hỏi phải giải.

Ý kiến này nêu lên việc ở bậc phổ thông trung học hiện nay, môn toán chỉ cần thạo cộng, trừ, nhân, chia; đôi chút về đại số, hình học là đủ rồi. Lâu nay, chúng ta cứ cho rằng, những thứ đó là cần thiết, là cơ sở cho sau này cho cuộc sống con người, cho rèn tư duy, v.v. kỳ thực là ngụy biện, là lợi bất cập hại, lãng phí thời gian, tiêu hao sức lực, làm khổ biết bao nhiêu thế hệ học sinh. Học sinh phổ thông sau 12 năm “dùi mài kinh sử”, sau khi tốt nghiệp, nếu không đi học tiếp đại học hoặc học nghề mà phải bước vào đời sống tự lập thì đều như gà mắc tóc, lóng ngóng, thụ động, không biết làm gì, làm thế nào. Học lên không được, trở về đời thường cũng thật khó khăn, nhất là các em ở nông thôn, vì 12 năm chỉ quen với mỗi việc đến trường, ngồi nghe thày cô và viết viết, chép chép; điều này khiến các em thụ động, lười biếng, sợ việc, ngại lao động chân tay; kiến thức 12 năm phổ thông hầu như chẳng giúp gì được nhiều cho các em trong cuộc sống hiện tại. Chẳng cơ quan, cửa hàng, nhà máy nào cần các kỹ năng giải toán, lý, hoá hay bình văn, luận thơ mà các em có. Những điều các cơ quan ấy cần, như tính chủ động, tháo vát, khéo léo, khả năng giải quyết những tình huống thực tiễn, v.v. thì các em lại yếu kém. Các kỹ năng cần thiết nhất để bước vào đời sống tự lập được nhà trường trang bị quá ít và hời hợt. Các em thường bị động, không biết phải làm gì để nuôi sống bản thân mình chứ chưa nói đến những việc to tát hơn.

Khoan hẵng bàn đến ý kiến đúng, sai cụ thể về những ý kiến trên đây, nhưng có một điều chắc chắn rằng, cách giáo dục như vậy hoàn toàn không theo đúng quan điểm như Hồ Chí Minh đã thể hiện với tư duy của một nhà giáo dục lớn: giáo dục theo mục tiêu, dạy thể chất, dạy phương pháp, dạy kỹ năng, dạy hành động, dạy làm người; bằng cấp là cần, nhưng bằng cấp đó chỉ có ý nghĩa ghi nhận một cách xác thực kết quả của một thời gian học ở lớp chứ không phải học để đi thi, để lấy bằng cấp vì đó không phải là mục tiêu.

Các cấp học khác cũng vậy, kể cả cấp đại học và sau đại học. Xu hướng hiện nay trên thế giới là rút ngắn thời gian đào tạo, dạy những điều gì mà xã hội cần chứ không dạy những điều gì mà thày giáo muốn và thày giáo có. Đó là một phần của giáo dục theo mục tiêu. Do vậy, phải gắn thật chặt những tri thức trong giảng đường với ngoài xã hội.

Trên mạng tôi đọc thấy một tin viết rằng, ở Ôxtơrâylia tổ chức một cuộc thi nho nhỏ cho học sinh, với chủ đề viết về những điều em cảm thấy mới lạ, thích thú khi đi du lịch ở nước ngoài về. Có một em viết bài dự thi và đạt được giải nhất, viết về Việt Nam. Bài viết ngắn độ 1 trang A4, kể rằng, có hai điều lạ khi em đó đến thăm một trường tiểu học ở Việt Nam. Điều thứ nhất là sân trường không có lấy một cọng cỏ, vì sân trường đã bị bê tông hoá rồi. Điều thứ hai là, thấy các bạn học sinh Việt Nam ngồi học khoanh tay trước bàn. Ôxtơrâylia thì không như vậy. Trường học là như công viên, sân trường đầy hoa thơm và cỏ đẹp. Còn trong lớp học thì học sinh không phải khoanh tay trước bàn nghe thày, cô giảng bài rồi mình thì ghi ghi, chép chép, mà là có thể thảo luận tuỳ ý, giáo viên và học sinh có khi tranh luận với nhau, sách giáo khoa mỗi trường khác nhau, không có sự thống nhất. Đó là những kiến thức không áp đặt, mà là kiến thức mở.

Giáo dục theo mục tiêu mà Hồ Chí Minh đã làm là một nền giáo dục  cho học sinh biết cái nào là đúng, cái nào là sai, biết phân biệt được tốt, xấu, có lòng tự trọng, kính yêu cha mẹ, ông bà, yêu anh chị em, những người trong họ hàng thân tộc, những người láng giềng, các bạn bè trong lớp, những người chung quanh, biết chấp hành luật pháp, những luật lệ của cộng đồng. Yêu nước chính là từ những cái yếu tố đó mà thành.

Cuộc vận động về đời sống mới mà có thời kỳ Hồ Chí Minh phát động với cái đích không phải là cao siêu mà chỉ là từ những việc làm nho nhỏ như làm cho mọi người làm tốt 4 phép tính cộng trừ nhân chia, ăn ở sạch sẽ, bảo đảm vệ sinh cho cá nhân mình và cho cộng đồng, không nói tục, chửi bậy, không mê tín dị đoan, con người với con người có quan hệ đúng mực.

Tri thức là vô cùng tận. Liệu trong một cấp học có trang bị được hết không, liệu trong cả hệ thống các cấp học có trang bị được hết không, ngay cả các hệ chuyên sâu, chuyên biệt? Cái điều không thể đó hiện nay nhiều người trong chúng ta chưa thông lắm, vẫn cứ ép, vẫn cứ muốn tải thật nhiều mà họ cho rằng như thế mới đạt được mục tiêu.

M¹ng http://fpe.hnue.edu.vn của Khoa Giáo dục công dân thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ngày 8-8-2007 cã nªu nh÷ng th«ng tin tõ  http://www.vietimes.com.vn 5-8-2007m khảo về mục tiêu giáo dục trong tiểu học Mỹ. Giáo dục ở đây không theo một khuôn mẫu nào cả. Không có sách giáo khoa chung cho cả nước, mà chỉ có chương trình khung đặt dưới sự chỉ đạo của một mục tiêu chung. Thường thì các lớp phải đạt được trình độ sau đây:

– Tốt nghiệp mẫu giáo: học sinh có thể nhận biết được và phân biệt được các con số, biểu đạt khái niệm trừu tượng của toán học bằng những vật thể cụ thể như hòn sỏi, mẩu giấy, cái que; nhận biết được 26 chữ cái tiếng Anh, nguyên âm, phụ âm; phân biệt được các nghề khác nhau, như người đưa thư, giáo viên, bác sĩ, cảnh sát; học địa lý từ địa cầu, hiểu được rằng, trên trái đất có rất nhiều dân cư, nhiều quốc gia, nhiều màu da khác nhau, hiểu được cần người ở nhà, trẻ em phải đến trường, người trưởng thành cần đi làm, v.v.

– Lớp 1: có thể đếm từ 10 đến 100, có thể đếm số có hai chữ số, biết số lẻ và số chẵn, biết phép cộng trừ đơn giản, học được cách quan sát, học cách sử dụng tranh ảnh để biểu đạt ý của mình; hiểu được tính tất yếu của việc ăn, mặc, ở và mái ấm gia đình; hiểu được mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, giữa những người hàng xóm…

– Lớp 2: Biết đọc, viết số có ba chữ số; từ năm số tự chọn có thể đếm xuôi và đếm ngược; vận dụng thành thạo cộng trừ đối với số có hai chữ số, biết dùng nhưng đơn vị đo lường, biết xem đồng hồ, biết đọc sách và biết duy trì việc nhận xét sau khi đọc sách; học cách viết tổng kết, hiểu và phân biệt được những hình thức văn học khác nhau, như thơ, tản văn, tiểu thuyết, truyện, ký…; bắt đầu học nghiên cứu độc lập về động vật…

– Lớp 3: Học được cách biến tư liệu thành biểu đồ; biết so sánh sự lớn nhỏ và cộng trừ trong phạm vi 100 000; thành thạo phép cộng, trừ, nhân, chia đối với số có ba chữ số; có thể lấy những tài liệu tại chỗ trong môi trường chung quanh; sưu tập, sắp xếp tài liệu; hiểu được cách giữ gìn sức khoẻ con người; hiểu được những diễn biến cuộc đời của những động vật bé nhỏ chung quanh; hiểu được cách sử dụng từ điển, hiểu được một số tác phẩm văn học trong bối cảnh văn hoá khác nhau…

– Lớp 4: Dùng máy tính để tính toán những con số rất lớn, so sánh lớn nhỏ trong phạm vi 1 000 000; học số thập phân và phân số; vẽ biểu đồ; có thể giải thích sự khác nhau của khí hậu giữa các vùng đất trên thế giới nhờ bản đồ, hình ảnh, biểu đồ, hiểu thêm về những thể loại văn học khác nhau…

– Lớp 5: Biết điền, đọc các loại biểu bảng, thành thạo các phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số; có thể vận dụng hệ thống thư viện và các tư liệu để tiến hành nghiên cứu; tiến hành so sánh và tổng hợp các loại tin tức thông qua việc bút ký; bắt đầu viết những dạng văn tả thật, và những đoản văn theo thể thức năm đoạn; học được cách viết thư cho bạn bè; hiểu việc chia ngành, phân loại các sách báo khác nhau; có thể nắm được nội dung chủ yếu của một cuốn sách đồng thời tiến hành bình luận về cấu tứ, bối cảnh, cách xây dựng nhân vật, phương thức biểu đạt, nghệ thuật ngôn ngữ.

Năm 2005, tôi có dịp đến vùng Xirakiu (bang Niu Oóc — Đông bắc nước Mỹ), có đến thăm một gia đình người Việt Nam ở đấy. Người chồng đang làm nghiên cứu sinh của Đại học Xirakiu, vợ và con gái từ Việt Nam mới sang Mỹ được một năm. Người vợ ở Việt Nam vốn là một giáo viên Trung học phổ thông xin được việc làm trong một phòng thí nghiệm của Đại học này. Còn người con gái vào học lớp 5. Tôi có xem sách giáo khoa về văn học lớp 5, thì thấy sau mỗi bài văn ngắn đều có câu hỏi cho học sinh, đại loại có câu: Em có thích bài văn này không? Nếu thích/hay không thích thì em cho biết tại sao?

Xin mới kể đến lớp 5 thôi. Có thể có người coi tri thức đạt đến như thế theo từng lớp là ít so với Việt Nam và nhiều nước châu Á chăng? Cơ sở giáo dục theo mục tiêu thì như vậy thôi. Giáo dục kiểu đó là coi trọng nền tảng giáo dục để làm người, có ý thức tự tin, thành thực, lương thiện, công bằng, bao dung, độc lập tự chủ…Giáo dục kiểu như nhiều nước châu Á là học sinh đi thi quốc gia, quốc tế phải nhất thiết phải được giải, nhất là môn toán và liên quan đến khoa học tự nhiên. Ai đó đã làm con số thống kê, Việt Nam là một trong những cường quốc về toán học vì trong các kỳ thi Ôlimpic toán quốc tế, Việt Nam đều được giải cao, nhưng sau đó đã có bao nhiêu nhà toán học có tiếng ở Việt Nam và có tiếng ở trên thế giới?

Một câu chuyện khác. Nhiều người châu Á khi nhập cư vào Mỹ, vào Ôxtơrâylia, cho con học phổ thông thì thấy chương trình học đơn giản quá, tỏ ý chê. Nhưng có lần, cha mẹ của một học sinh lớp 6 thấy con mình tan học là chạy đến thư viện mang về một lô sách, chưa đến hai ngày đã trả để rồi lại mượn những đợt sách khác. Hỏi, mới lớp 6 mà mượn sách nhiều thế để làm gì, thì được con trả lời là để làm bài tập. Bài tập là: nước này là nước đa sắc tộc, nhiều dân nhập cư. Em hãy tìm hiểu nguồn gốc của dân tộc em và phân tích, so sánh tìm ra sự khác biệt dựa trên địa lý, lịch sử, nhân văn, đồng thời phải đưa ra quan điểm và cách nhìn của mình.

Mấy ngày sau đó, người con lớp 6 đã hoàn thành bài tập khoảng 20 trang, phần sau có danh sách thư mục tham khảo – một cách thức mà những nhà khoa học hay làm. Trong thời phổ thông, học sinh được giáo viên hỏi và ra đề bài luận đại loại những câu: “Ai chịu trách nhiệm về cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai?”, “Nếu em là cố vấn tối cao cho Tổng thống Mỹ Tơruman, em sẽ tỏ thái độ gì đối với việc Mỹ ném bom nguyên tử?”, “Em có cho rằng, biện pháp tốt nhất để kết thúc chiến tranh khi đó chỉ là ném bom nguyên tử không?”, “Theo em, cách tốt nhất để tránh chiến tranh ngày nay là gì?”, v.v.

Tôi viết như trên đây để thấy rằng, quan điểm giáo dục theo mục tiêu là quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh không nói rõ đó là mục tiêu, nhưng cách nói, cách viết của ông, và nhất là làm của ông thể hiện rõ điều đó. Học không phải là lấy bằng cấp, tuy nhiên về tính đúng đắn của nó thì bằng cấp chính là sự ghi nhận. Nhưng, theo Hồ Chí Minh, học để làm việc, để làm người, làm cán bộ; học để phụng sự Tổ quốc và nhân dân, phụng sự giai cấp và nhân loại.

Hồ Chí Minh mượn ý của Nho giáo để đưa ra một thông điệp: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Trồng người, sự nghiệp đó chính mới là mục tiêu mà nền giáo dục mới của nước ta phải đạt tới. Sự học, do đó, không có trang sách cuối cùng, như Hồ Chí Minh đã làm: học trên ghế nhà trường, học trong cuộc sống, học cả cuộc đời.

Hai là, giáo dục toàn diện.

Hồ Chí Minh quan niệm: con người là một chỉnh thể gồm cả đức và tài, hoặc có một cách diễn đạt khác mà Hồ Chí Minh viết là vừa “hồng” vừa “chuyên”, nghĩa là vừa có phẩm chất vừa có năng lực. Sở dĩ gọi là tổng thể là bởi vì nếu thiếu một trong hai vế đó thì không phải là “con người” theo đúng nghĩa một con người hoàn chỉnh như Hồ Chí Minh quan niệm rằng, nếu thiếu một trong những đức cần, kiệm, liêm, chính thì sẽ không “thành người”. Giáo dục, có lúc, có nơi là tác động vào cho con người ta về mặt này hay mặt kia, nhưng mặt này hay mặt kia đó, về tổng thể, đều phải tuân theo quan điểm giáo dục toàn diện. Hồ Chí Minh bày tỏ quan điểm: Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất.

Thực chất, đó là quan điểm làm phát triển con người Việt Nam. Con người Việt Nam (mà có lúc nhiều người gọi là “con người mới”, “con người Việt Nam hiện đại”), tổng hợp lại theo quan điểm của Hồ Chí Minh, phải là con người có những phẩm chất và năng lực sau đây:

– Con người có đạo đức cách mạng, có lý tưởng, có tình yêu đất nước, nhân văn, có quan hệ đúng mực với những người chung quanh, có ý chí vươn lên về mọi mặt trong cuộc sống để luôn luôn trở thành người có ích cho xã hội.

– Con người có những kỹ năng cần thiết để ứng xử thành công với tất cả các mối quan hệ tự nhiên, xã hội.

– Con người có những tri thức nhất định, cần thiết, chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ mà người đó đảm nhiệm trong xã hội; đem những tri thức đó áp dụng vào trong thực tế, lao động sáng tạo, đóng góp phần tích cực làm lợi cho xã hội, cho cộng đồng, cho gia đình và bản thân.

– Con người phải thường xuyên rèn luyện sức khoẻ để có sức khoẻ tốt.

Trùm lên tất cả, con người đó là con người có văn hoá.

Nhà trường, gia đình, xã hội và tự bản thân mỗi con người Việt Nam phải có trách nhiệm vươn lên để đáp ứng được những yêu cầu đó. Không ai không thấy sự cần thiết trong một điều kiện nào đó của hoàn cảnh và của con người, có thể có sự giáo dục chuyên sâu, chuyên biệt về một hay nhiều lĩnh vực nào đó, nhưng con người được giáo dục chỉ được coi là thành công khi con người đó được giáo dục toàn diện văn — đức – thể – mỹ…Đức – Tài trọn vẹn, ấy mới là người được giáo dục thành công.

Ba là, giáo dục thiết thực

Giáo dục thiết thực không phải là theo lối thực dụng. Giáo dục thiết thực cũng là để phục vụ đạt mục tiêu. Giáo dục thiết thực, theo Hồ Chí Minh, là giáo dục cho con người:

– Yêu Tổ quốc, cái gì trái với quyền lợi của Tổ quốc thì phải chống lại.

– Yêu nhân dân.

– Yêu khoa học (tri thức chuyên môn).

– Yêu đạo đức.

Cho nên, Hồ Chí Minh chú trọng tới giáo dục thiết thực để làm cho con người ta có đức-tài phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân; đối với các em học sinh “Khi ở nhà phải thương yêu cha mẹ, giúp đỡ cha mẹ về công việc, giúp đỡ về tinh thần…ở trường thì phải đoàn kết giúp đỡ anh chị em thi đua học tập. Phải đoàn kết giữa thày và trò làm cho trường mình luôn luôn tiến bộ. Ở xã hội, các cháu có thể giúp được nhiều việc có ích”[23]. Rõ ràng là, giáo dục thiết thực ở đây hoàn toàn khác với kiểu giáo dục nhồi nhét.

Bốn là, học đi đôi với hành

Hồ Chí Minh đề cập vấn đề này rất nhiều. Vấn đề hành là một cái vế để đạt mục tiêu giáo dục. Cho đến hiện nay, năng lực, kỹ năng thực hành của học sinh các cấp ở Việt Nam so với những học sinh cùng hạng, cấp ở nhiều nước trên thế giới là yếu. Hành ở đây là hành những điều đã tiếp thu, đã được học, không phải như có lúc Hồ Chí Minh quan niệm hành ở đây chỉ là lao động sản xuất nói chung, đi cuốc đất trồng rau sau mỗi buổi học. Đúng là có lúc việc đó cũng là cần thiết khi điều kiện vật chất (cái ăn) cho học sinh, nhất là các trường dân tộc nội trú, còn thiếu.

Thật đáng tiếc có tình hình nhiều kỹ sư ở nước ta khi hành nghề buộc phải đi đào tạo lại bởi vì năng lực, kỹ năng xử lý thực tiễn những điều đã được học vào thực tế quá yếu. Năm 2007, tôi có dịp sang thăm và làm việc với Trường RMIT ở Menbơn của Ôxtơrâylia, thì thấy rằng, Trường có nhiều xưởng thực hành rất tốt. Trường RMIT cho biết rằng, Trường yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp, cập nhật những thiết bị hiện đại để sinh viên thực hành, đó là cái cách để sinh viên sau khi tốt nghiệp ra công tác ngoài xã hội có thể hành nghề một cách thành thạo, có hiệu quả. Cách đào tạo như thế là cách đào tạo có hiệu quả, thiết thực, không lãng phí.

Trong học đi đôi với hành, phương pháp giáo dục đóng vai trò rất quan trọng. Hiện nay, nhiều người đang phê bình cách dạy và học của nước ta rất lạc hậu, chủ yếu là thày đọc, trò ghi…Đã từ sớm, Hồ Chí Minh đã áp dụng phương pháp dạy và học tích cực rồi (Trong thời gian dạy ở Trường Dục Thanh và các lớp huấn luyện cán bộ, trong đó có các lớp của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên). Hồ Chí Minh coi trọng việc tự học, tự nghiên cứu. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (viết năm 1947, xuất bản năm 1948), Hồ Chí Minh nêu: Lấy tự học làm cốt, có sự thảo luận và chỉ đạo, hướng dẫn giúp vào.

Hồ Chí Minh cũng không ít lần nhắc nhở những người làm công tác giáo dục là phải nhận rõ đối tượng, những đặc điểm của đối tượng để giáo dục cho thích hợp; phải giảng giải rõ ràng, dễ hiểu, đừng sáo rỗng; chống học vẹt; phải làm cho học sinh độc lập suy nghĩ, tự do tư tưởng; học tập suốt đời, học lẫn nhau, học mọi lúc, mọi nơi.

Năm là, chăm lo xây dựng đội ngũ thày, cô giáo.

Nói đến lĩnh vực giáo dục, trước hết phải nói đến đội ngũ thày, cô giáo. Có thày giỏi thì mới có trò giỏi. Hồ Chí Minh cũng quan niệm như thế. Thày giáo, theo Hồ Chí Minh, là lực lượng tiên phong, là lực lượng xung kích trên mặt trận giáo dục. Quan điểm của Hồ Chí Minh trên mặt này thể hiện ở những vấn đề chủ yếu sau đây:

– Đội ngũ này phải luôn luôn tự giáo dục, rèn luyện, phải yêu nghề, tận tâm, tận lực vì sự nghiệp giáo dục của nước nhà.

– Có kiến thức và phương pháp giáo dục tốt.

– Kiên trì, nhẫn nại, không quản ngại khó khăn, gian khổ.

– Cả xã hội phải quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũ thày, cô giáo vừa có phẩm chất, vừa có năng lực để đội ngũ này hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang, mà theo Hồ Chí Minh, nhiệm vụ đó được t«n vinh, kh«ng cã t­îng ®ång, bia ®¸ nµo s¸nh kÞp.


[1] Trần Văn Giàu: Những yếu tố nào trong văn hoá Văn Lang Việt Nam đã cứu nước này khỏi bị đồng hoá sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc? Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 1-1996.

[2] Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam của Hoa Kỳ (VNCI) đã hợp tác nghiên cứu xác lập chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh tại Việt Nam (PCI) trên cơ sở đánh giá chất lượng điều hành kinh tế để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Công việc này được hai cơ quan tiến hành ở Việt Nam từ năm 2005.

Sáng 8-11-2007, tại khách sạn Melia Hà Nội, hai cơ quan này đã tổ chức cuộc hội thảo công bố chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh tại Việt Nam năm 2007. Đây là năm thứ ba, chỉ số PCI được công bố. Tôi có dự cuộc Hội thảo này. Trong cuộc hội thảo, một số người tham dự cho rằng: có 3 nhóm trạng thái tâm lý phản ứng về các chỉ số này từ các nhà lãnh đạo, quản lý và doanh nghiệp ở cấp tỉnh Việt Nam:

1. Nhóm thứ nhất cho rằng, đây là chỉ số đáng tin cậy để Lãnh đạo tỉnh và các doanh nghiệp biết mình đang ở mức nào của môi trường kinh doanh trong bảng tổng sắp so sánh của 64 tỉnh, thành trong cả nước. Trên cơ sở đó, Lãnh đạo tỉnh cũng như các doanh nghiệp của tỉnh phấn đấu cải thiện, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh để phát triển bền vững.

2. Nhóm các tỉnh và các doanh nghiệp bàng quan, thờ ơ, cho là không quan tâm đến việc xếp loại chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh.

3. Nhóm các tỉnh và các doanh nghiệp phản đối việc xác định và công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh.

(Xem: VNCI và VCCI: Báo cáo Nghiên cứu chính sách – VNCI, số 12 về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2007 của Việt Nam (Đánh giá chất lượng điều hành kinh tế để thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân), Hà Nội, 10-2007. Có thể xem mạng http://www.pcivietnam.org)

[3] Theo GS,TS triết học Thái Kim Lan (Việt kiều ở Đức), trong Tạp chí Tia sáng của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 6, ngày 20-3-2007.

[4]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 431.

[5] Bản Đề cương này cho rằng, văn hoá bao gồm tư tưởng, học thuật và nghệ thuật. Đây là khái niệm theo nghĩa hẹp. Đề cương nêu lên ba nguyên tắc của cuộc vận động phong trào văn hoá mới: Dân tộc hoá, Đại chúng hóa, Khoa học hoá.

[6] Xem Nguyễn Văn Út (Biên soạn): 9 bản tuyên ngôn độc lập, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2006, tr. 24.

[7] Tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh đã được dịch và xuất bản ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Bản dịch đầu tiên ra tiếng nước ngoài là bản tiếng Nga của nhà thơ P. Antônxki, xuất bản tại Mátxcơva năm 1960. Sau đó, tập thơ được dịch ra các thứ tiếng: tiếng Anh năm 1962, Nxb Ngoại văn, Hà Nội (bản tiếng Anh và tiếng Pháp tái bản 6 – 7 lần); tiếng Mông Cổ năm 1962 tại Ulan Bato; tiếng Pháp, Nxb Xêgbe, Pari, năm 1963; tiếng Hunggari, Nxb Châu Âu năm, 1964; bản Quốc tế ngữ năm 1966 tại Hà Nội; tiếng Đan Mạch năm 1970 tại Côpenhagiơ; tiếng Tiệp Khắc (Séc) tại Praha năm 1973; tiếng Nam Tư năm 1975 xuất bản tại Dagrép; tiếng Đức năm 1976 tại Berlin. Đây là con số thống kê công bố trong Đặc san báo Quân đội nhân dân: Sự kiện và nhân chứng, số 17, tháng 5 năm 1995, tr. 7. Chắc chắn rằng, từ đó cho đến nay, tập thơ Nhật ký trong tù còn được dịch và xuất bản ra nhiều thứ tiếng nữa, trong đó có cả được xuất bản dưới dạng thư pháp.

[8] Theo Đặc san báo Quân đội nhân dân: Sự kiện và nhân chứng, số 17, tháng 5 năm 1995, tr. 7.

[9].Dẫn theo Trân Văn Giàu: Giá trị tinh thần truyền thống của nhân dân Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội , Hà Nội, 1990, tr. 301.

[10] . Robert S.Mc Namara: Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995, tr.11

[11] . Như trên, tr. 317.

[12] . Như trên, tr. 316.

[13] Theo Деспина Илиева, Елга Кирякова, Стойка Михайлова: Български език за чуждестранни студенти, Издателство “Наука и изкуство”, София, 1977, стр. 245.

[14] Để nhận thức lại chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, trong 2 ngày 19, 20-10-2008, tại Thanh Hoá, đã diễn ra cuộc Hội thảo khoa học cấp quốc gia gồm 650 người tham gia với chủ đề: “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX“. Ban Tổ chức cuộc Hội thảo đã nhận được 92 báo cáo gửi đến, trong đó có 8 báo cáo của các học giả nước ngoài. Cuộc Hội thảo không đặt ra tất cả các vấn đề mà chỉ tập trung vào một số vấn đề cơ bản liên quan đến việc nhìn nhận và đánh giá chúa Nguyễn, vương triều Nguyễn trong quá trình phát triển của lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX.

Hội thảo đi đến một số nhận thức đạt được sự nhất trí cao, có thể nói là đồng thuận trên một số vấn đề chủ yếu sau đây:

1. Những người tham gia Hội thảo đều nhận thấy rằng, sự phê phán, lên án đến mức độ gần như phủ định mọi thành tựu của thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn trước đây là quá bất công, thiếu khách quan, nhất là khi đưa vào nội dung sách giáo khoa phổ thông để phổ cập trong lớp trẻ và xã hội.

2. Những đánh giá trong cuộc Hội thảo này là kết quả của một quá trình nghiên cứu lâu dài, là một sự tiếp nối, kế thừa kết quả của nhiều công trình nghiên cứu và khoảng 20 cuộc hội thảo về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay.

3. Các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã có những cống hiến to lớn sau đây: a. Có công mở rộng lãnh thổ xuống phía nam đến tận đồng bằng sông Cửu Long và xác lập chủ quyền vững chắc trên vùng đất mới; b. Tiếp tục thành tựu của Phong trào Tây Sơn đã xoá bỏ phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài, đặt cơ sở cho sự khôi phục nền thống nhất đất nước; c. Xây dựng và củng cố quốc gia thống nhất trên lãnh thổ tương ứng với lãnh thổ Việt Nam hiện đại, bao gồm đất liền và hải đảo ven bờ cùng các quần đảo trên Biển Đông. Triều Nguyễn đạt nhiều tiến bộ về mặt quản lý quốc gia thống nhất, về cải cách hành chính, xây dựng thiết chế và cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước được tổ chức rất quy củ; d. Thời kỳ các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã để lại một di sản văn hoá đồ sộ bao gồm cả di sản vật thể và phi vật thể.

Hội thảo còn đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu thêm: về hành động của Nguyễn Ánh cầu cứu đem 5 vạn quân Xiêm vào Gia Định, ký Hiệp ước Versailles năm 1787; vấn đề canh tân đất nước với trách nhiệm của Triều Nguyễn; quá trình dẫn đến thất bại của Triều Nguyễn trong chống thực dân Pháp xâm lược, trong đó cần nghiên cứu thêm mối quan hệ giữa canh tân đất nước và bảo vệ độc lập dân tộc; những vấn đề khác, như hệ tư tưởng Nho giáo, chính sách ngoại thương có “bế quan tỏa cảng” hay không, chính sách và giải pháp của Triều Nguyễn đối với Kitô giáo, chính sách đối với các nước láng giềng, nguyên nhân tình trạng bất ổn của Triều Nguyễn, v.v. (Theo Báo cáo tổng kết của Giáo sư Phan Huy Lê tại cuộc Hội thảo, đăng lại trên VietNamNet, với tiêu đề: “Xác lập nhận thức mới về chúa Nguyễn, Triều Nguyễnhttp://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/10/809843, lúc 12:22, ngày 23-10-2008).

[15] Chỉ thị của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, số 30-CT/TW ngày 18-2-1998.

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 3, tr. 383.

[17] Phan Bội Châu niên biểu, Nxb Văn – Sử – Địa, Hà Nội, 1955, tr. 30.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 10, tr. 465.

[19] Về tự học thì Ph. Ăngghen, người Đức (1820-1895) cũng là một người thành công. Theo phương châm “Tôi nghi ngờ những gì mà tôi chưa rõ”, cho nên suốt cả cuộc đời của mình, ông luôn luôn có nghị lực phi thường trong việc tự học, tự tìm tòi, tự nghiên cứu, cả thời học sinh trung học cho đến cả các thời kỳ sau khi buộc phải thôi học trung học. Lúc 17 tuổi (năm 1837), Ph. Ăngghen đã biết tới 15 ngoại ngữ, nói và viết thông thạo tiếng latinh, Hy Lạp cổ, Tây Ban Nha, Pháp, Anh, Hà Lan, Italia. Ông còn sử dụng được các thứ tiếng Xcanđinavơ, Bồ Đào Nha, Ba Lan, thậm chí cả một thổ ngữ Bắc Airơlen (chỉ có 550 người). C. Mác, người bạn thân thiết của Ph. Ăngghen, có nhận xét về Ph. Ăngghen như sau: “Khỏi phải nói, Ph. Ăngghen là một khối óc sắc sảo; ông biết rộng vô cùng! Quả là một pho bách khoa toàn thư! Mà làm việc thì Ph. Ăngghen có thể làm bất kỳ lúc nào, ngày cũng như đêm, ngay sau bữa ăn no nê hay khi bụng đói cồn cào, mà suy nghĩ, viết lách thì nhanh như quỷ sứ”.

[20] Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 4, tr. 32-33.

[21] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxh Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T. 5, tr. 489.

[22] Xem: Vũ Mạnh Tiến: “Trường phổ thông chỉ nên dạy kiến thức phổ thông”, VietNamNet, thứ tư, 22-10-2008, 14:45 GMT+7.

[23] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T. 7, tr. 398-399.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: