Con đường tiếp cận chân lý khi nghiên cứu Hồ Chí Minh

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

Chân lý chỉ có một. Sự thật chỉ có một. Nhưng nhận thức của mỗi con người, mỗi cộng đồng có nhiều khi không phải chỉ một lần mà nhận thức đúng ngay được chân lý, đúng ngay được sự thật.

Có 1001 nguyên nhân.

Thông thường thì nhận thức là cả một quá trình từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa đầy đủ đến toàn diện, và có khi nó dích dắc, có khi nhận thức tưởng là được rồi, đúng rồi nhưng sau đấy lại phải nhận thức lại. Nhận thức của con người về những sự vật và hiện tượng trong thế giới tự nhiên không bao giờ thật đầy đủ và tuyệt đối chính xác. Nhận thức của con người là quá trình phản ánh giới tự nhiên, nhưng đó không phải là là sự phản ánh đơn giản, hoàn chỉnh, và có khi đó không phải là sự phản ánh trực tiếp. Đúng như có người nói: con người không thể nào nắm được, phản ánh được, miêu tả được toàn bộ cái thế giới tự nhiên một cách đầy đủ, mà con người chỉ có thể đi gần mãi đến đó, bằng cách tạo ra những khái quát trừu tượng, những khái niệm, những quy luật, những bức tranh khoa học về một thế giới chung quanh.

Con người là một trong những loài động vật có vú yếu ớt nhất trên trái đất, nhưng đồng thời con người cũng là chúa tể sức mạnh so với muôn loài. Sức mạnh đó không nằm ở cơ bắp, mà là ở tư duy, ở trí tuệ, ở trí khôn. Bộ não người có đến khoảng 100 tỷ nơrông (neuron) thần kinh, được kết nối với nhau thông qua khoảng 100 000 tỷ sợi liên bào (synapse). Đúng là nhận thức (hay tư duy) của con người là phức tạp nhất, rối rắm nhất, nhưng lại là sáng nhất và đó là một chuỗi khôn cùng trong cái biến thiên của thế giới tinh thần. Con người đã bay lên vũ trụ, bay lên được cả đến mặt trăng, mà ngay đầu thế kỷ XX có mơ cũng không tưởng tượng nổi. Con người còn khám phá ra bao nhiêu điều bí ẩn và phát minh ra bao nhiêu điều kỳ diệu trong cuộc sống. Thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp theo còn những điều gì nữa đây chứng tỏ sức mạnh vô biên từ trí tuệ của con người?[1]

Đã có rất nhiều ý kiến đánh giá về Hồ Chí Minh, nhận xét về cuộc đời và sự nghiệp của ông, đánh giá về vai trò của ông đối với tiến trình dân tộc Việt Nam cũng như đối với quá trình phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại…Ý kiến của người trong nước có, ngoài nước có; người cùng chính kiến với Hồ Chí Minh có; người khác chính kiến với Hồ Chí Minh cũng có; người sống cùng thời với Hồ Chí Minh có; người cùng làm việc với Hồ Chí Minh cũng có và cả những người thuộc thế hệ sau chưa từng gặp Hồ Chí Minh cũng có. Cũng như muôn vàn nhân vật lịch sử khác, Hồ Chí Minh được/bị mọi người nhìn nhận với nhiều con mắt khác nhau. Có người thì yêu, có người thì ghét, có cả người khác trận tuyến tuy không ưa ông (nếu phân thành tuyến ý thức hệ), nhưng lại vị nể ông.

Nhận thức của con người ta thường không theo con đường thẳng tắp. Nhận thức của Đảng Cộng sản, nhân dân Việt Nam cũng như của quốc tế, về Hồ Chí Minh, nói cụ thể hơn là nhận thức, đánh giá về vai trò, về sự cống hiến của Hồ Chí Minh đối với toàn bộ sự phát triển của dân tộc Việt Nam và quá trình phát triển văn minh, tiến bộ của nhân loại, không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Nhận thức đó đầy góc cạnh, chiều cạnh, tuỳ từng lúc, từng người, tuỳ từng tâm trạng.

Vào thời điểm này nhìn lại thì tương đối thuận lợi hơn trong đánh giá về Hồ Chí Minh, nhưng trong những năm 20, 30, 40 của thế kỷ XX thật không đơn giản một tý nào. Thật ra, hiện vẫn còn không ít ý kiến trong các cuốn sách, bài đăng các báo, tạp chí, các bài trên mạng internet đánh giá rất cực đoan, rất sai về Hồ Chí Minh, nhất là từ khi có các sự biến chính trị diễn ra làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn. Ghét sự nghiệp rồi ghét luôn cả con người của sự nghiệp đó. Bản chất của những ý kiến cực đoan đó hoàn toàn liên quan đến quan điểm không tán thành chế độ chính trị hiện hành của Việt Nam, một số ý kiến thấm đậm quan điểm chống cộng, thâm thù, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cũng có thể có nguyên nhân từ sự hiểu lầm, hiểu không đúng, hiểu chưa đầy đủ của Đảng Cộng sản Việt Nam, của các đồng chí cùng thời với Hồ Chí Minh, của bạn bè, của Quốc tế Cộng sản về Hồ Chí Minh. Lại cũng có thể có nguyên nhân từ chính tầm nhìn, tầm trí tuệ vượt trội của bản thân Hồ Chí Minh so với những người đương thời, những tổ chức đương thời với Hồ Chí Minh. Do có sự vượt trội của Hồ Chí Minh trong tư duy, cho nên, không ít người chưa đủ tầm để hiểu được ông.

Hồ Chí Minh vượt cả tầm của Quốc tế Cộng sản về vấn đề tập hợp lực lượng cách mạng ở các nước thuộc địa; vượt cả tầm của V.I. Lênin về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở nước thuộc địa với cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Hồ Chí Minh vượt cả tầm những người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về sách lược đối phó với kẻ thù khi tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương cuối năm 1945, khi ký với Pháp Hiệp định sơ bộ ngày 6-3-1946, rồi sau đó ký Tạm ước với Chính phủ Pháp tại Pari ngày 14-9-1946, coi như là bước lùi cuối cùng, một giới hạn tận cùng của sự nhân nhượng có thể nhân nhượng được, trong đó, tạm thời hạ mục tiêu độc lập xuống mà chịu nhận Việt Nam chỉ là một quốc gia tự chủ trong khối Liên hiệp Pháp để cứu vãn hoà bình vì ông quan niệm rằng, khi chiến tranh đã nổ ra thì máu của binh lính Pháp và máu của binh lính Việt Nam đều quý như nhau. Đến mức ấy, nhân nhượng đến như vậy mà vẫn không cứu nổi hoà bình vì càng nhân nhượng thì thực dân Pháp càng lấn tới. Bước lùi đã chạm đến giới hạn cuối cùng. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ. Sau lưng Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam là sông Cửu Long, không thể lùi được nữa. Lúc ấy, chiến tranh nổ ra.

Chính như vậy cho nên chúng ta mới gọi Hồ Chí Minh là bậc vĩ nhân, người có tầm nhìn xa trông rộng, nghĩ và làm những điều đúng đắn, tốt đẹp mà người thường chưa nghĩ được tới. Phạm Văn Đồng, người đã nhiều năm cùng sống và làm việc bên cạnh Hồ Chí Minh, là Uỷ viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Thủ tướng lâu năm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (sau này là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đã có những lời viết về Hồ Chí Minh liên quan đến ý này khi ông cho rằng, Hồ Chí Minh là con chim phượng hoàng của dãy núi Trường Sơn hùng vĩ có tầm mắt xuyên suốt từ đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi buổi đầu dựng nước, đến đồng bằng sông Cửu Long giàu hoa quả và trí dũng và xuyên suốt năm châu bốn biển.

Rồi nữa, cũng như chính Phạm Văn Đồng, trong một bức điện gửi cho Tỉnh uỷ Thừa Thiên – Huế và Ban Chủ nhiệm Chương trình khoa học và Công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 1991 – 1995 KX.02 Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nhân dịp hai cơ quan này phối hợp tổ chức cuộc hội thảo khoa học với chủ đề “Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh” tại thành phố Huế trong hai ngày 14 và 15-5-1993, ông viết: “Thời gian ở Huế là thời gian Nguyễn Tất Thành lớn lên và bắt đầu đi học. Những năm tháng đó là thời gian cực kỳ quan trọng đối với sự hình thành con người Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Các đồng chí cần đi sâu vào thời gian này, thời gian hình thành một con người lạ lùng, với một cuộc đời lạ lùng, những hoạt động lạ lùng đưa đến những thành tựu lạ lùng mà chúng ta ở Việt Nam đang nghiên cứu, đồng thời nhiều người ở nước ngoài cũng nghiên cứu, và sau này người ta còn nghiên cứu”[2].

Ở đây, chỉ trong một đoạn điện văn ngắn về Hồ Chí Minh mà Phạm Văn Đồng đã dùng tới 4 chữ “lạ lùng”.

Ngay cả đối với hai người mà tôi cho rằng sống gần Hồ Chí Minh nhiều nhất, đó là Phạm Văn Đồng và Vũ Kỳ, đã viết về Hồ Chí Minh khá nhiều, nhưng cũng mới chỉ nói lên được một phần nào đó trong cuộc đời và sự nghiệp phong phú của Hồ Chí Minh.

Phạm Văn Đồng là người dự lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên (1925-1927) ở Quảng Châu (Trung Quốc) do Hồ Chí Minh mở. Sau này, đến năm 1940, Phạm Văn Đồng cùng với Võ Nguyên Giáp đi tìm gặp Hồ Chí Minh ở Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Phạm Văn Đồng sống trong Phủ Chủ tịch (Ba Đình – Hà Nội) từ năm 1954 đến năm 1970. Năm 1954, sau khi từ Việt Bắc về Hà Nội, Hồ Chí Minh không ở dinh Toàn quyền Đông Dương cũ mà ở ngôi nhà cấp 4 vốn là nhà của một người thợ điện. Còn Phạm Văn Đồng ở căn buồng của người quản lý dinh Toàn quyền cũ, cách buồng mà Hồ Chí Minh ở chỉ một cái sân. Đến năm 1958, Hồ Chí Minh chuyển sang ở nhà sàn thì Phạm Văn Đồng vẫn ở chỗ cũ không xa nhà sàn là mấy.

Và như vậy, Hồ Chí Minh với Phạm Văn Đồng là láng giềng, là hàng xóm của nhau từ năm 1954 đến khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969. Đã có lúc, Hồ Chí Minh ngỏ ý mời Phạm Văn Đồng sống cùng với mình vì biết Phạm Văn Đồng có người vợ bị bệnh tâm thần. Phạm Văn Đồng lấy cớ là mình đang có gia đình riêng, đang có vợ, tuy là đang bị bệnh, và có một con trai, cho nên không nhận lời mời. Cũng có thể cả Phạm Văn Đồng muốn để cho bản thân mình và cho cả Hồ Chí Minh có một khoảng trời riêng tư trong cuộc sống. Không ở cùng nhau trong một nhà nhưng hai người thường xuyên gặp nhau, thường ăn cơm cùng nhau, và thường xuyên trò chuyện, cả những chuyện trên trời dưới bể, đúng như những người hàng xóm của nhau.

Năm 1970, chỉ mấy tháng sau khi Hồ Chí Minh qua đời, Phạm Văn Đồng tâm sự với những người giúp việc của mình: “Tôi không thể và không nên tiếp tục ở và làm việc trong căn nhà này, bởi hàng ngày hình ảnh Bác cứ như trước mặt tôi, tiếng Bác cứ nhè nhẹ bên tai tôi, làm tôi không cầm được lòng. Hơn nữa toàn bộ khu vực này rồi đây phải xây dựng thành khu di tích Bác Hồ để đồng bào, đồng chí, chiến sĩ đến thăm, làm sao tôi ở đây được. Anh em nên tìm cho tôi một nơi khác thì tiện hơn”[3].

Ở gần Hồ Chí Minh nhiều năm, và Phạm Văn Đồng viết: “Tôi có may mắn được ở gần Hồ Chí Minh trong nhiều năm, qua nhiều giai đoạn của cách mạng Việt Nam, từ lớp huấn luyện chuẩn bị thành lập Đảng ở Quảng Châu, đến những ngày cuối cùng trước khi Bác Hồ qua đời… Nhờ chứng kiến hoạt động và chia sẻ cuộc sống của Hồ Chí Minh một thời gian dài, tôi dần dần hiểu biết thêm về con người Hồ Chí Minh”[4].

Sống cùng nhau một thời gian lâu là một chuyện. Còn từ đó mà hiểu đầy đủ, hiểu sâu sắc về nhau lại là một chuyện khác. Chính vì thế mà Phạm Văn Đồng mới chỉ dám viết là “dần dần hiểu biết thêm về con người Hồ Chí Minh”. Nhiều người có cùng tâm trạng giống như Phạm Văn Đồng.

Ông Vũ Kỳ, cựu học sinh Trường Bưởi của Hà Nội, sau này là người thư ký lâu năm nhất của Hồ Chí Minh. Ông biết nhiều về Hồ Chí Minh, hiểu được cách sống của Hồ Chí Minh, thậm chí tập viết chữ giống như chữ viết của Hồ Chí Minh, có thời để râu và ria mép như Hồ Chí Minh. Nhưng cũng như nhiều người khác, ông thú nhận là Hồ Chí Minh không mấy khi bộc bạch về bản thân mình. Những cuốn sách, những bài báo gây ra nhiều ý kiến khác nhau mà người ta đồ rằng do Hồ Chí Minh viết, thì vẫn đang là một ẩn số (Trong số đó là cuốn của Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch ra mắt công chúng lần đầu tiên năm 1948).

Lại có người nói rằng (nói chứ không viết ra), Hồ Chí Minh là người giỏi chiêm tinh học, hiểu rõ tướng số, kinh dịch, v.v. Nghe có vẻ đầy những điều huyền bí trong cuộc sống. Hồ Chí Minh xem thế sự, xem vận hạn, đoán định các bước thăng giáng của cộng đồng, của đất nước, của thế giới, của người khác rất giỏi. Nhưng ông lại không xem được cho chính mình bởi dao sắc không gọt được chuôi. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đoán định được nhiều sự việc mà sau này diễn ra đúng y chang như vậy. Chẳng hạn, Hồ Chí Minh đoán định chiến tranh thế giới thứ nhất sẽ diễn ra; đoán định rằng Chiến tranh thế giới thứ nhất làm ra đời 1 nước xã hội chủ nghĩa, còn Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ làm cho một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ra đời; năm 1942 đoán định năm 1945 Việt Nam sẽ giành được độc lập; năm 1960 đoán định cùng lắm thì 15 năm nữa (tức là năm 1975) Bắc — Nam sẽ sum họp một nhà; trong tài liệu Tuyệt đối bí mật viết năm 1965 (sau này được gọi là Di chúc), Hồ Chí Minh viết rằng, cuộc chống Mỹ của nhân dân Việt Nam tuy sẽ kinh qua nhiều gian khổ, khó khăn nhưng sẽ thắng lợi hoàn toàn, và ông còn nhấn mạnh thêm: “Đó là một điều chắc chắn”; năm 1967, khi Mỹ đưa máy bay B-52 ra ném bom miền tây tỉnh Quảng Bình, trong buổi làm việc với Quân chủng Phòng không – Không quân, Hồ Chí Minh nói rằng, nhất định Mỹ sẽ thua, nhưng chỉ chịu thua trên bầu trời Hà Nội bằng máy bay B-52, v.v. và v.v.

Có lần,  vào năm 1999 thì phải, tôi đã nghe thày giáo của tôi – cố Giáo sư sử học Trần Quốc Vượng, người đã dạy cho lớp tôi môn học Khảo cổ học đại cương năm thứ nhất (1970) Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội – nói chuyện về vấn đề phương pháp nghiên cứu khoa học, trong đó đề cập cả phương pháp của Hồ Chí Minh. Ông có một bài viết dưới dạng đề cương hơn 5 trang về Hồ Chí Minh rất hay, nhan dề là: “Chủ tịch Hồ Chí Minh – biểu tượng và người mang chở những giá trị văn hoá đông tây kim cổ”, bên dưới có ghi địa điểm và thời gian viết: “Hà Nội 1989 – 1994”.

Giáo sư Trần Quốc Vượng là người rất giỏi chiêm tinh. Không những ông tự nhận điều đó khi nói chuyện với chúng tôi đã đành, ông còn viết bài tự nhận về điều đó (Chẳng hạn bài “Lấy vợ hiền hoà, làm nhà hướng…?” trong tác phẩm tuyển chọn Văn hoá Việt Nam – Tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, Hà Nội, 2003). Trong buổi nói chuyện năm 1999 đó, Giáo sư Trần Quốc Vượng trao đổi học thuật xung quanh vấn đề phương pháp cách mạng của Hồ Chí Minh, đã cho rằng, sở dĩ Hồ Chí Minh đoán định được như vậy là vì Hồ Chí Minh đã sử dụng được thuật chiêm tinh.

Giáo sư Trần Quốc Vượng còn kể lại rằng, hồi chống Pháp tái xâm lược, ông ấy có đến Thư viện quốc gia ở căn cứ Việt Bắc hỏi mượn cuốn sách về chiêm tinh của Trung Quốc, thì chị thủ thư trả lời rằng, Thư viện chỉ có độc mỗi một cuốn đó mà có người đã mượn từ lâu lắm rồi chưa trả. Hỏi ai mượn thì được trả lời là người thư ký của Hồ Chí Minh (mượn cho Hồ Chí Minh và lâu chưa thấy trả lại). Chuyện thực hư thế nào không rõ. Nhưng, tôi cho rằng, chắc chắn không thể nhuốm màu chiêm tinh như thế đối với những đoán định của Hồ Chí Minh về thế sự, thời cuộc. Nói vậy mà không phải vậy. Câu chuyện chiêm tinh mà Giáo sư Trần Quốc Vượng nói cứ ngồ ngộ, là lạ thế nào ấy. Giáo sư Trần Quốc Vượng suy diễn theo cách của ông ấy thôi, và cũng hợp với cái cách bạo mồm, bạo bút của ổng.

Hồ Chí Minh là người có kinh nghiệm và là người hoạt động bí mật rất giỏi, đã vô số lần đánh lừa được mật thám Pháp, nhưng bản thân ông lại bị bắt và cầm tù hai lần trong tình thế phong trào đang rất cần ông. Ông có tài thuyết giáo, thu phục nhân tâm nhưng lại bị “cầm tù” bởi những quan điểm không đúng của Quốc tế Cộng sản. Do vậy, có những năm tuy ông đang sống bên trong nhưng kỳ thực ông cảm thấy sống ở bên lề, bên cạnh, bên ngoài gia đình Quốc tế Cộng sản.

Ông là người giỏi dùng người, ông có thuật dùng người và đã rất đắc dụng đối với những nhân sĩ trí thức không cộng sản, nhất là trong quãng thời gian sóng gió của buổi đầu lập nước Việt Nam mới. Nhưng ông lại bị những hạt giống cộng sản do ông vun trồng trong thế hệ đầu tiên của thời dựng Đảng Cộng sản ở Việt Nam hiểu không đúng về bản thân ông, họ đã tán đồng với những quan điểm của Đại hội VI tả khuynh của Quốc tế Cộng sản để phê phán ông, v.v. Hồ Chí Minh chính là một cái khối nam châm khổng lồ hút tất cả mọi sinh lực có thể hút được vào cuộc hồi sinh và phát triển cho dân tộc Việt Nam và cho sự tiến bộ của nhân loại cần lao. Cho dù ai đó thần thánh hoá Hồ Chí Minh, thần bí thêu dệt về ông, thì ông vẫn là một con người thực, sống cùng dân tộc và nhân loại trong cái thế phát triển.

Tôi thuộc thế hệ 5X, một thế hệ sống trong quãng thời gian của thời chiến tranh Việt – Mỹ, sau đó là “thời bao cấp” và của cả “thời đổi mới” ở Việt Nam, chúng đan xen nhau và chuyển giao từ cái “thời” này sang “thời” kia, cho nên cũng phần nào có điều kiện trực tiếp cảm nhận được những hình thù xù xì, gồ ghề, lồi lõm, thăng trầm của mỗi thời mà so sánh, đối chiếu chúng.

Tôi là một trong những người chưa bao giờ được gặp Hồ Chí Minh. Nhưng, không phải cứ nhất thiết phải sống trong lòng sự kiện mới hiểu sự kiện. Không phải cứ sống cùng thời hoặc “ba cùng” hay “bốn cùng” với ai đó thì mới viết về người đó một cách chính xác. Đại văn hào Nga Liép Tônxtôi (Nga) viết về chiến tranh rất hay, rất sinh động nhưng ông không sống trong cuộc chiến tranh ấy. Các nhà sử học chân chính và giỏi giang đời sau viết về lịch sử đã diễn ra trước đó hàng thế kỷ nhưng rất chính xác và sâu sắc.

Tôi muốn viết về Hồ Chí Minh trên cơ sở nghiên cứu những tài liệu của chính bản thân Hồ Chí Minh để lại, ngoài ra còn tham khảo nhiều tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, cả trong và ngoài nước. Mà các nguồn tài liệu của Hồ Chí Minh và nghi là của Hồ Chí Minh, về Hồ Chí Minh cho đến nay thì nhiều vô kể, thật hư có lúc chưa biết đâu mà lần. Cả điểm nhìn, cả cách nhìn, cả cái tâm của mỗi người khi đánh giá về Hồ Chí Minh nữa. Cũng cùng một sự kiện, nhưng với cái tâm như thế này thì người viết đánh giá Hồ Chí Minh như thế, còn với cái tâm khác thì người viết lại đánh giá Hồ Chí Minh khác hẳn một trời một vực.

Số người viết sách, viết báo, cả báo viết, cả báo mạng để cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh cho đến nay không ít. Họ xuyên tạc đủ điều, “bôi đen” Hồ Chí Minh từ đời riêng đến cả các mối quan hệ công tác và có ý khái quát cả những hiện tượng nhất thời, không đúng bản chất sự việc. Có khi họ cố tình đem Hồ Chí Minh đối lập với dân tộc Việt Nam. Có khi họ cho rằng, Hồ Chí Minh là đồ đệ của Quốc tế Cộng sản, của V.I. Lênin, của J. Xtalin nhưng núp dưới bóng chủ nghĩa dân tộc. Có khi họ cho là không thể có tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ lý giải lòng dân và ý dân Việt Nam yêu kính Hồ Chí Minh là một sự sùng bái cá nhân. Vân vân và vân vân.

Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh được người ta biểu đạt qua nhiều lĩnh vực. Ngoài lĩnh vực khoa học ra, còn có cả trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật nữa. Rồi cả phương pháp tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, phương pháp thể hiện…của mỗi người đều có sự khác nhau. Khác nhau như thế là sự thường. Mà chính do có khác nhau cho nên nhân vật Hồ Chí Minh mới được người ta biểu đạt một cách nhiều chiều, lung linh, sinh động. Và, như thế thì quả thật Hồ Chí Minh là một nhân vật thật sự hấp dẫn.

Có người chỉ dựa vào tài liệu thành văn từ nhiều nguồn khác nhau để nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, nhất là những tài liệu ở các kho lưu trữ trên thế giới. Lớn nhất là ở Nga và ở Pháp. Tài liệu nhiều ở Pháp là vì Hồ Chí Minh đã có một thời gian sống và hoạt động yêu nước, cách mạng ở Pháp (gần 10 năm – không liên tục). Khối lượng tài liệu từ các báo cáo của mật thám Pháp theo dõi ông khá nhiều và rất tỷ mỉ, tuy chỉ là những nhận xét bên ngoài.

Những tài liệu liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam (tôi gọi chung cho các thời kỳ của các tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam) và liên quan đến Hồ Chí Minh có rất nhiều ở kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô (đặt tại thủ đô Mátxcơva), phông Quốc tế Cộng sản. Hồ Chí Minh đã hoạt động ở Liên Xô từ mùa hạ năm 1923 và sau đó gần một năm chính thức trở thành một cán bộ của Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam là một phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản từ tháng 4 năm 1931. Do đó, các báo cáo, thư từ, các tài liệu khác liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và liên quan đến Hồ Chí Minh được lưu trữ khá nhiều ở đấy. Hơn nữa, công tác lưu trữ ở Liên Xô có từ khá sớm, được bảo đảm tốt trên một cơ sở khoa học.

Không ít lần, trong khuôn khổ quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước của Liên Xô và Việt Nam, nhiều cán bộ của Việt Nam đã sang khai thác nguồn tài liệu này. Nhưng, thực sự “cơ chế” cứng nhắc, cái cơ chế gần như đóng từ phía Liên Xô đã không cho phép các cán bộ Việt Nam khai thác được gì nhiều trong kho tư liệu đó. Không riêng gì đối với Việt Nam mà Liên Xô còn áp dụng chung cái cơ chế đóng này cho tất cả những ai đến khai thác tài liệu lưu trữ ở đây, dù đã được thoả thuận qua cấp bộ Đảng, Nhà nước.

Liên Xô tan rã đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Một cơ chế hoàn toàn mới, một cơ chế mở đối với kho lưu trữ Quốc tế Cộng sản đã được thực thi. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới phần thì nhanh chân hơn, phần thì nhạy cảm thông tin hơn, phần thì nhiều tiền hơn, đã đặt chân đến kho lưu trữ Mátxcơva trước những cán bộ Việt Nam để khai thác những tài liệu, trong đó có những tài liệu về Hồ Chí Minh mà chưa từng được công bố.

Việt Nam lúc này, năm 1992-1993, theo tôi được biết, có ít nhất hai đoàn sang khai thác những tài liệu liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh tại kho lưu trữ Mátxcơva. Một đoàn của Cục lưu trữ thuộc Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, một đoàn của Ban Chủ nhiệm Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 1991-1995 Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, mã số KX.02. Chương trình này do Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ quan chủ trì, Giáo sư Viện trưởng Đặng Xuân Kỳ làm Chủ nhiệm.

Tôi đã nghiên cứu các tài liệu này hiện đang lưu ở Cục Lưu trữ thuộc Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và một phần lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh và tại Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

Sau thời gian khai thác tài liệu từ nguồn này, cả ở trong và ngoài nước, người ta đã công bố một số tài liệu về Hồ Chí Minh mà từ trước đến lúc bấy giờ chưa được ai công bố, trong đó cải chính, đính chính lại một số bài viết của Hồ Chí Minh mà do trước đây chưa có tài liệu gốc để kiểm chứng cho chính xác. Một số tài liệu được bổ sung, đưa vào bộ Hồ Chí Minh Toàn tập gồm 12 tập được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản trong hai năm 1995, 1996 (Sau này, đến năm 2000, 2001, bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập được tái bản không sửa chữa, bổ sung)[5]. Ngày 18-5-2005, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Quyết định số 142/QĐ-TW, đã chủ trương tổ chức tiến hành sưu tầm, xác minh, bổ sung các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh cho bộ Hồ Chí Minh Toàn tập, dự định sẽ xuất bản vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh, năm 2010.

Năm 2006, trong một lần đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội, ông S.V. Xtépashin (Tổng Kiểm toán Liên bang Nga) đã có ấn tượng rất sâu sắc về những tư liệu, hiện vật tại Bảo tàng. Tính đến thời điểm năm 2006, Bảo tàng Hồ Chí Minh của Việt Nam đã lưu giữ được 130 000 tài liệu, hiện vật gốc về Hồ Chí Minh, trong đó trưng bày hơn 2 500 tài liệu, hiện vật. Theo đề nghị của S.V. Xtépashin, trong dịp Tuần lễ Cấp cao Diễn đàn châu Á – Thái Bình Dương (APEC) từ ngày 12 đến ngày 19 tháng 11 năm 2006 ở Hà Nội và nhân đó thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Liên bang Nga Vlađimia Vlađimirôvích Putin đã trao cho Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết bộ phim tài liệu “Tên Người là Hồ Chí Minh”, nhiều bản sao tài liệu về Đảng Cộng sản Việt Nam và về Hồ Chí Minh từ kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Quốc tế Cộng sản trước đây.

Gần đây nhất là vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2006, Đoàn cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh thuộc Bộ Văn hoá – Thông tin Việt Nam (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) đã dành ra một tháng sang sưu tầm tài liệu tại Kho lưu trữ Lịch sử Chính trị Xã hội Liên bang Nga. Đoàn đã sưu tầm được 1 000 trang tài liệu trong số hàng vạn trang về Hồ Chí Minh. Đó là những bức thư, các bản báo cáo, bản thảo, bút tích, nhiều bài viết của Hồ Chí Minh những năm 1923 – 1952 chủ yếu bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Nga; những bài phát biểu của ông trên nhiều diễn đàn quốc tế; không ít giấy tờ cá nhân liên quan đến hoạt động của ông những năm 1922 – 1938 (thẻ dự các Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, Đại hội Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên, thị thực nhập cảnh nước Nga, hộ chiếu, một số bản khai lý lịch, v.v.). Có cả những đoạn phim tư liệu ghi dấu ấn của Hồ Chí Minh dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Hội nghị Quốc tế nông dân. Vẫn còn hàng trăm thước phim tài liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh có trong Kho lưu trữ này của Liên bang Nga. Đó là chưa kể có thể còn rất nhiều những tư liệu quý về Hồ Chí Minh đang lưu giữ tại nhiều kho lưu trữ ở các nước Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Đài Loan… thậm chí ở trong một số cá nhân.

Những tài liệu ở các kho lưu trữ thật đáng quý. Nhưng, dù chúng đáng quý như thế nào đi chăng nữa thì cũng cần được thẩm định, được nhận thức một cách đúng đắn qua tư duy của người nghiên cứu. Những tài liệu lưu trữ là những chứng cứ, song những chứng cứ ấy bao giờ cũng bị chế định bởi hoàn cảnh lịch sử và muôn vàn yếu tố khác nữa. Nó chưa hoàn toàn là sự thật. Nó chỉ là một mảnh ghép nào đó thôi của sự thật. Do vậy, mới có tình trạng là tài liệu cùng một nguồn nhưng nhận thức, đánh giá của một số người lại trái ngược nhau.

Cho đến hiện nay, tài liệu của Hồ Chí Minh (tức là chính những bài nói, bài viết của bản thân Hồ Chí Minh), tài liệu về Hồ Chí Minh (tức là những bài viết của nhiều người cả trong và ngoài nước Việt Nam về Hồ Chí Minh, trong đó có cả những bài viết đã được khuôn vào hàng sách giáo trình, tập bài giảng chung, cũng như giáo trình dùng trong các học viện, các trường đại học và cao đẳng) có rất nhiều[6].

Với mạng internet hiện nay, có không ít quyển sách, bài viết về Hồ Chí Minh được tung lên mạng đủ các cỡ, các dạng, với những động cơ không trong sáng, biểu đạt rất phức tạp, trong đó đáng chú ý là những trang sách, những bài viết tiếng Việt của các tác giả người gốc Việt Nam, như Bùi Tín, Nguyễn Thế Anh, Lê Hữu Mục, Nguyễn Minh Cần, Vũ Thư Hiên…

Lại có một dạng sách tham khảo nữa là các chuyện kể có liên quan đến Hồ Chí Minh. Các chuyện kể này là hồi ký, hồi tưởng của những người cùng hoạt động với Hồ Chí Minh, của những người được một hay nhiều lần gặp Hồ Chí Minh. Thậm chí, lạ thay, cả của những người chưa từng gặp Hồ Chí Minh lần nào lại biên soạn những chuyện kể về Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh là con người của hành động. Có nhiều khi quan điểm của ông, tư tưởng của ông lại phát tiết từ chính hành động chứ không từ sách, báo của ông, không từ lời nói của ông. Do đó, những chuyện kể đóng góp một phần quan trọng nào đó cho việc tìm hiểu ông. Những bài viết, những cuốn như của T. Lan “Vừa đi đường vừa kể chuyện” hay của Trần Dân Tiên “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” (đang nghi là do chính Hồ Chí Minh viết), v.v. hay những bài báo, những cuốn sách kể chuyện hoặc viết về cuộc sống thường nhật của Hồ Chí Minh cũng rất quý. Trong số đó, tôi thích nhất là những câu chuyện kể của ông Sơn Tùng, có những câu chuyện liên quan đến Hồ Chí Minh mà chưa viết bao giờ. Tôi rất thích những bài viết, chuyện kể về Hồ Chí Minh của Vũ Kỳ, nhật ký của Lê Văn Hiến, bài viết, chuyện kể của Việt Phương, tác phẩm của Vũ Đình Hoè về pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, những chuyện kể rủ rỉ rù rì mộc mạc rất có duyên của Hoàng Đạo Thúy, v.v.

Năm 2004, trong khuôn khổ tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) đã tiến hành nghiên cứu hai chương trình khoa học trọng điểm, trong đó có Chương trình tổng kết Nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới. Công trình khoa học này đã được Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản tháng 5 năm 2005[7]. Công trình đã tổng thuật, tuy chưa được đầy đủ, nhưng cũng đã nêu lên được những nét chính về các công trình ở trong và ngoài nước viết về Hồ Chí Minh.

Một điều tôi cần nêu ở đây là, mặc dù tài liệu của Hồ Chí Minh và về Hồ Chí Minh nhiều như vậy nhưng vẫn còn nhiều tài liệu vẫn còn đang ở dạng nghi vấn, nhiều tài liệu về Hồ Chí Minh, nhiều chuyện kể (hồi ký, hồi tưởng) về Hồ Chí Minh còn chưa đạt được tính chân xác. Điều này là dễ thấy. Trí nhớ của con người, động cơ của người đưa tin khác nhau. Không nói đâu xa, ngay cả những sự kiện, không phải sự kiện nhỏ mà sự kiện lớn hẳn hoi, diễn ra cách đây không lâu lắm, chẳng hạn sự kiện ở Dinh Độc Lập (Sài Gòn) trưa ngày 30-4-1975, mà mỗi người nhớ một phách, ỏm tỏi lên, ai cũng bảo là mình đúng.

Việc sưu tầm những tư liệu, hiện vật của Hồ Chí Minh, về Hồ Chí Minh vẫn đang còn ở phía trước, chủ yếu là ở các kho lưu trữ nước ngoài, ở những cá nhân nào đó trên khắp bốn phương trời vì vốn dĩ Hồ Chí Minh có lẽ là một người hoạt động chính trị đi nhiều nhất các nước trên thế giới (khoảng gần 40 lượt nước trong vòng 30 năm, từ năm 1911 đến năm 1941). Chúng ta mới biết được những điều chủ yếu nhất trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, còn những chi tiết của cuộc đời Hồ Chí Minh, có lẽ khó mà biết được một cách hoàn toàn.


[1] Đã có nhiều cuộc chạy đua thám hiểm lên mặt trăng. Bắt đầu là cuộc chạy đua chinh phục vũ trụ nhằm phục vụ chiến tranh lạnh, từ năm 1959, giữa Mỹ và Liên Xô. Cho đến năm 1976, Mỹ và Liên Xô đã phóng 108 thiết bị thăm dò Mặt Trăng, trong đó có 48 lần thành công. Liên Xô đã cho tàu vũ trụ không người lái hạ cánh xuống Mặt Trăng lấy được mẫu đất đá mang về. Trong thời kỳ 1969-1972, Mỹ đã 6 lần đưa 12 người lên Mặt Trăng, lấy về 382 kg đất, trong đó có lần cuối cùng đổ bộ lên Mặt Trăng, 2 nhà du hành vũ trụ Mỹ đã ở trên đó 75 giờ. Cuộc chạy đua thám hiểm Mặt Trăng lần thứ hai bắt đầu từ tháng 9-2003, với việc phóng tàu thăm dò SMART-1 (Small Mission Advanced Research in Techonoly) của Cơ quan Không gian châu Âu ESA. Cuộc chạy đua lần này không vì mục đích chính trị, và có nhiều nước hợp tác tham gia, trong đó có kế hoạch đưa người trở lại Mặt Trăng để từ đó nghiên cứu trái đất, sao Hoả. Từ năm 1999 trở đi, Đại hội quốc tế thăm dò và sử dụng Mặt Trăng được tiến hành mỗi năm một lần luân phiên ở các nước có tham gia nghiên cứu Mặt Trăng (Theo Hồ Anh Hải: Cả thế giới tiến lên…Mặt Trăng, Tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa học và Công nghệ), số 18, ngày 20-9-2007, tr. 37 – 41).

[2] Nghiên cứu Hồ Chí Minh, Tập 3, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội, 1993, tr. 6.

[3] Nguyễn Tiến Năng: Chuyện nhỏ vê một nhân cách lớn, Báo Sài Gòn giải phóng, ngày 25-2-2001.

[4] Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự thật, 1990, tr. 60.

[5] Ngoài bộ Hồ Chí Minh Toàn tập gồm 12 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia còn xuất bản Hồ Chí Minh Tuyển tập gồm 3 tập dịp Kỷ niệm lần thứ 112 Ngày sinh của Hồ Chí Minh (5-2002). Hiện nay, ở Việt Nam đang xác minh, thẩm định các văn bản tài liệu nghi là những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh để bổ sung vào bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập.

[6] Đó là Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh được biên soạn bởi Hội đồng Trung ương Chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (Ban biên soạn: GS Đặng Xuân Kỳ – Chủ biên; GS Vũ Khiêu; GS Song Thành), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Bộ Giáo dục và Đào tạo có Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh dùng trong các trường đại học và cao đẳng trong cả nước (Tập thể tác giả: GS,TS Mạch Quang Thắng – Chủ biên; PGS Lê Mậu Hãn; PGS,TS Vũ Quang Hiển; TS Phạm Ngọc Anh; PGS,TS Ngô Đăng Tri; PGS,TS Bùi Đình Phong; TS Ngô Văn Thạo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. Theo chủ trương biên soạn chương trình, giáo trình mới, cuốn Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh lần sau do các vị sau đây biên soạn: PGS,TS Phạm Ngọc Anh (Chủ biên), GS,TS Mạch Quang Thắng, GS,TS Nguyễn Ngọc Cơ, PGS,TS Vũ Quang Hiển, TS Lê Văn Thịnh, xuất bản năm 2009. ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngay từ nửa cuối những năm 90 thế kỷ XX trở đi, đã biên soạn nhiều tập bài giảng, giáo trình cho các hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị, cử nhân chính trị, cao học. Một số học viện, trường đại học trong và ngoài Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng đã biên soạn giáo trình riêng cho cơ sở đào tạo của mình.

[7] Xem Nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005 (TS Nguyễn Văn Sáu – Chủ biên; GS,TS Mạch Quang Thắng; PGS,TS Nguyễn Khánh Bật; PGS,TS Lê Văn Tích…).

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: