Từ “Sửa đổi lối làm việc” đến đổi mới phong cách công tác của cán bộ hiện nay

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

Trong quá trình tiến hành công tác xây dựng Đảng những năm sau Cách mạng Tháng Tám (1945-1947), Hồ Chí Minh thấy rằng, bên cạnh những ưu điểm, trong Đảng còn bộc lộ những thiếu sót lớn làm ảnh hưởng không tốt đến sự nghiệp kháng chiến. Do vậy, tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các đồng chí cán bộ, đảng viên Bắc Bộ và Trung Bộ, trong đó nêu lên những biện pháp kiên quyết tẩy sạch những khuyết điểm trong Đảng. Nhưng, qua theo dõi, Hồ Chí Minh thấy sự chuyển biến trong việc khắc phục các khuyết điểm đó chưa được nhiều. Chính vì thế, tháng 10-1947, với bút danh X.Y.Z., Hồ Chí Minh viết xong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, sau đó được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1948.

Điều đặc biệt là tác phẩm này đã đề cập hầu hết các mặt của công tác xây dựng Đảng chứ không chỉ riêng “lối làm việc”. Và, khái quát trên tất cả những nội dung được coi thuộc về lối làm việc (mà hiện nay thường được gọi là phương thức, phương pháp làm việc, phong cách công tác), Hồ Chí Minh đã nêu lên những vấn đề lý luận cơ bản nhất về quy luật Đảng thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn bản thân mình. Điều này đúng như lôgíc tất yếu mà Hồ Chí Minh đã nêu ngay chính trong tác phẩm này là: “Đảng ta không phải trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra” (tr.262)*, do đó, Đảng phải thường xuyên phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, và đó chính là quy luật phát triển của một Đảng Mác – Lênin, một Đảng chiến đấu dưới lá cờ của chủ nghĩa cộng sản, vì một xã hội tốt đẹp, vì sự nghiệp cao cả là giải phóng con người.

Riêng về phương pháp, phương thức hay phong cách công tác của cán bộ, đảng viên, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới các vấn đề chủ yếu: Sửa cách lãnh đạo về công tác cán bộ; Biết chọn trình tự ưu tiên công việc; Thường xuyên tổng kết công tác; Phải luôn luôn có sáng kiến; Sâu sát, gần gũi nhân dân, có tinh thần phụ trách trước dân; Phải kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ; Có lãnh đạo chung, nhưng có chỉ đạo điểm.

“Sửa đổi lối làm việc” thể hiện quan điểm của Hồ Chí Minh về việc vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận của V.I.Lênin về xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản vào điều kiện nước ta. Về mặt thực tiễn, những quan điểm của Hồ Chí Minh trong tác phẩm này là “cẩm nang”, là “kim chỉ nam” chỉ dẫn hành động cho toàn Đảng trong quá trình đẩy mạnh cuộc chống thực dân Pháp xâm lược đến thành công.

Vậy, một vấn đề đặt ra ở đây là: những quan điểm của Hồ Chí Minh trong tác phẩm này còn có ý nghĩa thời sự nữa hay không trong điều kiện mới đối với Đảng ta hiện nay cũng như trong những thập niên đầu thế kỷ XXI?

Đúng là điều kiện hiện nay có nhiều điểm khác so với cuối những năm 40 của thế kỷ XX lúc Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”. Thời kỳ hiện nay là thời kỳ hoà bình xây dựng; thời kỳ của toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ và trở thành xu thế tất yếu của thế giới mà trong đó hội nhập kinh tế quốc tế được đặt ra như một yêu cầu và thách thức đối với nhiều quốc gia – dân tộc trên con đường phát triển; là thời kỳ tiếp tục bùng nổ một cách mạnh mẽ hơn của cách mạng khoa học và công nghệ đồng thời với việc phát triển bước đầu nhưng rất nhanh chóng của kinh tế tri thức. Đó là thời kỳ nước ta đứng trước thời cơ lớn, vận hội mới và lớn để phát triển nhanh, bền vững; đồng thời cũng đang đứng trước những nguy cơ, thách thức lớn. Đất nước ta đã trải qua hơn 20 năm đổi mới và đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam; Đảng luôn luôn giữ vững bản chất cách mạng và khoa học, trung thành với giai cấp công nhân và dân tộc, kiên định, vững vàng trước mọi thách thức, sáng suốt lãnh đạo đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc tiến lên; qua đó, Đảng ngày càng tích luỹ thêm được nhiều kinh nghiệm, nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Bên cạnh đó, công tác xây dựng Đảng còn có nhiều yếu kém, khuyết điểm, chưa theo kịp với đòi hỏi của tình hình mới, nổi lên là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Nhận rõ tình hình đó, Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: “Xây dựng Đảng với vai trò là nhiệm vụ then chốt càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là vấn đề sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”[1].

Mọi sự vật luôn luôn biến đổi trước sự vận động của cuộc sống. Đảng ta đang đứng trước yêu cầu lãnh đạo toàn dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Phương pháp, phương thức và phong cách công tác của cán bộ hiện nay so với thời kỳ Hồ Chí Minh viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” có thể có không ít thay đổi, nhưng chúng ta khẳng định rằng, những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh vẫn có ý nghĩa thời sự đối với hiện nay. Vấn đề còn lại là ở chỗ nhận thức đúng và vận dụng cho phù hợp vấn đề đổi mới phong cách công tác của cán bộ. Với ý nghĩa đó, xin được nêu tập trung chủ yếu vào một số điểm sau đây thuộc về đổi mới phong cách công tác của người cán bộ hiện nay theo quan điểm của Hồ Chí Minh:

Một là, phải có tinh thần trách nhiệm cao khi thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình.

Bất kể làm một việc gì mà có trách nhiệm cao thì người cán bộ đều có khả năng tạo ra hiệu quả công tác tốt. Nêu cao trách nhiệm của người cán bộ trước Đảng, trước đơn vị, trước dân, do đó, là một phong cách cơ bản, chủ yếu nhất và quan trọng nhất, có tính chất tiên quyết trong việc đổi mới phong cách công tác của cán bộ, đảng viên.

Nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác sẽ làm cho người cán bộ biết sắp xếp công việc một cách khoa học, hợp lý. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Bất kỳ việc gì, “Phải bắt đầu từ gốc, dần dần đến ngọn, từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, chớ nên tham mau, tham nhiều trong một lúc” (tr.242). Quan điểm sau đây của Hồ Chí Minh tuy cách ngày nay trên 60 năm vẫn còn nguyên tính thời sự: “Bất kỳ địa phương nào, cơ quan nào, thường trong một lúc có nhiều công việc trọng yếu. Trong thời gian đó, lại có một việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó phải xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp” (tr.292).

Tính ngăn nắp, gọn gàng đi liền với nhìn xa trông rộng giúp người cán bộ chủ động trong công việc, không ôm đồm, không bỏ sót việc và công việc sẽ có hiệu quả từng bước một để giành thắng lợi trong tổng thể. Công tác của người cán bộ trong lực lượng vũ trang vốn là công tác đòi hỏi tính thời gian chặt chẽ, đúng hạn. Muốn thế, phải đề ra được kế hoạch công tác của đơn vị, cá nhân phù hợp với yêu cầu và hoàn cảnh cụ thể, phù hợp với từng đơn vị. Trên cái nền cơ bản của Quân đội cũng như của cả nước, mỗi đơn vị, mỗi cá nhân lại có yêu cầu riêng. Kế hoạch của mỗi cá nhân phải phục tùng và phù hợp với kế hoạch chung của đơn vị. Một kế hoạch được coi là tốt khi kế hoạch đó phản ánh được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị mà đơn vị được giao, kế hoạch đó phải có bước đi, tiến độ triển khai phù hợp, sát thực, chắc chắn, khả thi.

Nêu cao tinh thần trách nhiệm sẽ làm cho người cán bộ có phong cách lãnh đạo tốt trong việc kết hợp lãnh đạo chung với chỉ đạo riêng như Hồ Chí Minh nêu trong “Sửa đổi lối làm việc”. Hồ Chí Minh còn nêu thí dụ cụ thể: trong công tác chỉnh đốn Đảng, ngoài những kế hoạch chung, mỗi cơ quan và mỗi cán bộ phải chọn vài ba bộ phận trong cơ quan, đơn vị để nghiên cứu rõ ràng và xem xét kỹ lưỡng sự phát triển trong những bộ phận đó. Đồng thời, trong vài ba bộ phận đó, người cán bộ lãnh đạo lại chọn năm ba người cán bộ kiểu mẫu, nghiên cứu kỹ càng lịch sử của họ, kinh nghiệm, tư tưởng, tính nết của họ, sự học tập và công tác của họ để giúp họ giải quyết công việc thực tế.

Nêu cao tinh thần trách nhiệm sẽ làm cho người cán bộ có quyết tâm thực hiện tốt kế hoạch công tác. Tinh thần quyết tâm trong việc thực hiện kế hoạch công tác không có điểm chung với sự chủ quan, duy ý chí. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu kế hoạch 10 phần thì quyết tâm thực hiện kế hoạch phải 20 phần. Một người có tài kinh bang tế thế mà không có quyết tâm “dời non lấp biển” trong hành động thì cái tài đó không có đắc dụng và chẳng có ích gì cho đời. Với quyết tâm trên cơ sở khoa học và với ý chí cách mạng thì người cán bộ sẽ được nhân lên sức mạnh vượt qua bao khó khăn trở ngại để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Quân đội và nhân dân giao cho. Hồ Chí Minh chính là con người của sự quyết tâm cách mạng, của ý chí “Không có việc gì khó. Chỉ sợ lòng không bền. Đào núi và lấp biển. Quyết chí ắt làm nên”, của quyết tâm “Dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết tâm giành cho được độc lập” trong Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, của tinh thần chống thực dân Pháp tái xâm lược sau năm 1945, vì chúng ta nhất quyết không cam chịu làm nô lệ một lần nữa, bất kể mọi người Việt Nam không phân biệt đảng phái, giàu nghèo, gái trai, dân tộc…đứng lên cầm mọi thứ có trong tay để bảo vệ nền độc lập của nước nhà với tinh thần ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có súng gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc. Hồ Chí Minh còn là biểu tượng sáng ngời của quyết tâm chống Mỹ, cứu nước, của tinh thần “Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu quét sạch nó đi”, là “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Hai là, phong cách công tác của người cán bộ hiện nay phải luôn luôn được đổi mới trên cơ sở có nhiều sáng kiến, thường xuyên tổng kết công tác, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ.

Đề cập vấn đề sáng kiến, Hồ Chí Minh cho rằng: Sáng kiến là “kết quả của sự nghiên cứu, suy nghĩ trong những hoàn cảnh, trong những điều kiện rất tầm thường, rất phổ thông, rất thiết thực” (tr.244). Như Hồ Chí Minh quan niệm, sáng kiến không có gì là cao xa, mà là “bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến” (tr.244). Trong thực tế công tác, người cán bộ nào hay có sáng kiến thì chính đó là người luôn luôn năng động, hăng hái, bất kể trong việc gì, to hay nhỏ. Người đó chính là đầu tàu của phong trào thi đua yêu nước, thi đua một cách thiết thực, có hiệu quả, không chạy theo thành tích, không “đánh trống bỏ dùi”, không “có ít xuýt ra nhiều”.

Sáng kiến là hệ quả của phong cách công tác của người cán bộ chú trọng đến việc thường xuyên tổng kết công tác. Có tổng kết công tác thì mới thấy rõ những ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm của bản thân và của đơn vị để tiếp tục phát huy những ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để tiến bộ. Quá trình đó là một quá trình được tiến hành thường xuyên và đó là quá trình phủ định biện chứng theo chu trình xoáy ốc, làm cho cá nhân người cán bộ cũng như đơn vị lớn mạnh thêm, tự hoàn thiện mình trên con đường phát triển. Trong điều kiện thời bình hiện nay, thiết nghĩ trong công tác của Quân đội, cũng phải chú ý vận dụng quan điểm rất có ý nghĩa thời sự sau đây của Hồ Chí Minh trong “Sửa đổi lối làm việc”: “Công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới. Có như thế thì người mới có tài, tài mới có dụng” (tr.243). Thực tế hoạt động của các đơn vị trong Quân đội cho hay đơn vị nào chú trọng tổng kết công tác, tổng kết một cách thiết thực, thì người cán bộ sẽ luôn luôn ở vào trạng thái “động não”, năng động, và như thế thì từng cá nhân và cả toàn đơn vị sẽ luôn tiến bộ vì họ luôn được “nạp” thêm năng lượng mới từ cuộc sống.

Phong cách công tác của người cán bộ không tách rời việc chú trọng kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ công việc của đơn vị. Thật có lý khi trong công tác xây dựng Đảng, nhiều người cho rằng, nếu lãnh đạo mà không kiểm tra, kiểm soát thì coi như không lãnh đạo. Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết có được thi hành không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉ có một cách, là khéo kiểm soát” (tr.287). Công tác kiểm soát nếu được thực hiện tốt thì sẽ biết được ưu điểm, khuyết điểm của từng cá nhân và tập thể đơn vị, “mới biết rõ ưu điểm và khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết” (tr.288). Theo Hồ Chí Minh, kiểm soát có hai cách: từ trên xuống và từ dưới lên, theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình.

Ba là, yêu cầu đổi mới phong cách công tác của người cán bộ theo quan điểm của Hồ Chí Minh là phải sâu sát, gần gũi dân, có tinh thần phụ trách trước dân.

Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với dân, nói một cách khái quát, là phải hiếu với dân. Quân đội ta từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà phục vụ, một lòng trung với Đảng, hiếu với dân. Trong giai đoạn Đảng cầm quyền hiện nay ở nước ta, người cán bộ càng đứng ở vị trí cao của quyền lực, càng dễ bị xa dân. Hiếu với dân, như quan niệm của Hồ Chí Minh, là coi cán bộ, đảng viên phải là người lãnh đạo đồng thời là người đày tớ thật trung thành, là “trâu ngựa” của dân (Từ “trâu ngựa” là từ của Hồ Chí Minh dùng trong Lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, ngày 3-3-1951, sau Đại hội II của Đảng).

Từ trư­ớc đến nay, Đảng đã có rất nhiều nghị quyết, chỉ thị về tăng c­ường mối quan hệ giữa Đảng đối với dân. Đã có cả một cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nư­ớc quản lý, nhân dân làm chủ”; có cả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; có cả bài học quan trọng mà Đại hội VI năm 1986 rút ra là “Lấy dân làm gốc”; có cả tổ chức các ban chuyên trách, tham mưu của các cấp uỷ Đảng là các Ban Dân vận. Đảng đã có Nghị quyết 8B Khoá VI chuyên về công tác vận động quần chúng. Nhà n­ước có một loạt luật để điều chỉnh quan hệ xã hội của các tổ chức chính trị-xã hội. Bấy nhiêu chủ trư­ơng, biện pháp, song hiệu quả vẫn còn thấp. Hội nghị Trung ương 6 Khoá X đã ra nghị quyết liên quan đến việc xây dựng và tăng cường sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng. Vấn đề cơ bản hiện nay là hãy bắt tay vào hành động, hành động một cách tích cực, kiên quyết, có hiệu quả. Quân đội ta có truyền thống gắn bó chặt chẽ với nhân dân, “quân với dân như cá với nước”. Cần giữ gìn và phát huy truyền thống đó trong điều kiện hoà bình, trong cơ chế mới hiện nay.

Trước hết, phải tích cực hơn nữa trong việc chống quan liêu. Hồ Chí Minh viết: “Những ngư­ời phụ trách dân vận cần phải có óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”. Bệnh quan liêu là bệnh thường hay mắc phải trong điều kiện Đảng cầm quyền nếu cán bộ, đảng viên không chịu rèn luyện phong cách công tác cũng như­ nâng cao tinh thần trách nhiệm. Chính là bệnh quan liêu cộng với bệnh tham ô, bệnh lãng phí đã bị Hồ Chí Minh coi là “giặc nội xâm”, “thứ giặc ở trong lòng”, nó “nguy hiểm hơn bọn Việt gian, mật thám”.

Đồng thời, trong quan hệ với dân, phải sâu sát, tỷ mỉ, có ph­ương pháp tốt. Liên quan đến yêu cầu trên đây, cán bộ nói chung và cán bộ Quân đội vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong phong cách công tác, có thể ở một số vấn đề như: Phải giải thích cho dân hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm của mình; phải bàn bạc với dân để hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân; đặt kế hoạch thiết thực; tổ chức toàn dân thực hiện kế hoạch; trong quá trình thực hiện kế hoạch, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích nhân dân giải quyết những việc khó khăn; khi thực hiện xong, phải cùng với dân xem xét lại công việc đã làm, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng. Như vậy, phải nói cho dân hiểu, phải hiểu dân nói và nói đi đôi với làm, làm những điều ích quốc, lợi dân với tinh thần “việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ, ta cũng phải cố gắng làm; việc gì có hại cho dân, dù nhỏ, ta cũng phải cố tránh”.

Phải coi trọng hơn nữa công tác dân vận. Tinh thần biện chứng của Hồ Chí Minh trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là ở chỗ: Người không sa vào chung chung, mà đề cập vấn đề dân trong thang bậc của ý thức giác ngộ chính trị. Người chia dân làm ba loại (hoặc ba hạng): tiên tiến, vừa vừa, lạc hậu. Như vậy, nhiệm vụ của người cán bộ là phải làm cho dân giác ngộ để đưa dân lên hàng “dân tiên tiến”. Trong công tác dân vận, tránh “theo đuôi quần chúng”, tránh mỵ dân. Theo phong cách Hồ Chí Minh, người cán bộ phải thật sự gần dân, hiểu dân, vì dân và muốn thế, phải làm tốt công tác dân vận. Đảng có tồn tại và phát triển được hay không, Quân đội ta có ngày càng hùng mạnh hay không hoàn toàn phụ thuộc vào mối quan hệ bền chặt với nhân dân. Phong cách công tác của người cán bộ trong giai đoạn hiện nay, do đó, càng cần nhấn mạnh đến hành động trên thực tế gần dân, hiểu dân, vì dân và có trách nhiệm đối với dân.


* Từ đây, những đoạn trích dẫn không ghi chú thích ở cuối trang mà chỉ ghi số trang ở ngay trong bài là lấy từ nguồn tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, H Chí Minh Toàn tp, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kin Đại hi đại biu toàn quc ln th X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 259.


Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: