Nguyên nhân của các luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh và giải pháp đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc đó

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

Vài lời mở đầu

Chuyên đề này không đi sâu vào việc nêu lên và phân tích những luận điệu sai trái, thù địch, xuyên tạc, phản bác về cuộc đời, sự nghiệp, trước tác của Hồ Chí Minh, mà là nêu lên và phân tích những nguyên nhân, đồng thời nêu một số giải pháp đấu tranh với các luận điệu đó. Đương nhiên, theo một lôgíc của cả đề tài này, trong một phạm vi nhất định nào đó, có thể tôi sẽ đề cập một số luận điệu có liên quan để làm minh chứng.

I. NGUYÊN NHÂN

1. Nguyên nhân từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản

Tôi muốn nhấn mạnh thêm rằng, trong nguyên nhân từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản (hay viết theo thuật ngữ khoa học là “chủ nghĩa chống cộng anti-communisme”), có cả việc một số người ghét sự nghiệp cách mạng Việt Nam, ghét Đảng Cộng sản Việt Nam rồi đi đến ghét luôn cá nhân Hồ Chí Minh. Điều này có lôgíc của nó. Bởi vì, sự nghiệp của Hồ Chí Minh và sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là một.

Chủ nghĩa cộng sản đã và đang là một tâm điểm để các thế lực thù địch đả kích. Đã có rất nhiều chiến dịch lớn có quy mô quốc tế chống phá, vu khống chủ nghĩa cộng sản. Gần đây nhất là Hội đồng châu Âu ra một luật lên án chủ nghĩa cộng sản, đặt chủ nghĩa cộng sản ngang hàng như là chủ nghĩa phátxít. Các thế lực thù địch không từ một phương thức nào để xuyên tạc về chủ nghĩa cộng sản, trong đó có việc nói xấu những lãnh tụ, những người lãnh đạo cách mạng vô sản ở nhiều nước, ngay cả đối với V.I.Lênin. Điều này không có gì lạ. Đã có thời những người hận thù cộng sản ra sức xuyên tạc về “chân dung” của người cộng sản khi cho rằng, đó là người không có tình cảm, không có tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em, v.v. Thậm chí, cực đoan hơn, họ còn vẽ tranh tuyên truyền ng­ười cộng sản với hình ảnh mồm ngậm con dao găm, máu từ mồm rỉ ra, mặt đằng đằng sát khí, cứ như một con ma cà rồng, một con ngáo ộp. Dương Thu Hương là một trong những người ghét cộng sản, đã nói thẳng tâm trạng của nhóm người căm ghét chủ nghĩa cộng sản liên quan đến vấn đề này như sau: “Hồ Chí Minh đối với những người căm thù cộng sản trở thành hố rác để người ta trút tất cả những sự phẫn nộ, thù hận và sự khinh bỉ, vân vân và vân vân”[1].

Đã có lần Hồ Chí Minh ứng xử để “quảng bá” cho hình ảnh của người cộng sản trước định kiến xấu của nhiều người trên thế giới. Trong chuyến công du sang thăm Pháp với tư cách Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946, tại một buổi tiếp xúc giữa giới báo chí với Hồ Chí Minh, sẵn ý định nhấn mạnh sự không cảm tình cộng sản, có nhà báo đã hỏi Hồ Chí Minh: “Thưa Chủ tịch, Chủ tịch có phải là người cộng sản không?”. Hồ Chí Minh trả lời bằng cách đến bên lẵng hoa, vừa rút từng bông hoa tặng mỗi nhà báo đứng gần kèm theo câu trả hóm hỉnh: “Tôi là người cộng sản như thế này này” (Je suis communist comme ca). Ngư­ời cộng sản cũng như­­ bao con ngư­­ời khác, cũng có trạng thái tâm lý hỷ, nộ, ái, ố, ai, lạc, cũng có tình cảm, cũng có tình nghĩa, cũng có một cuộc sống gia đình bình thường. Có khác chăng là nếu cách mạng cần thì họ sẵn sàng hy sinh những cái riêng để phục vụ Tổ quốc, biết ứng xử mối quan hệ gia đình trong mối quan hệ chung với Tổ quốc.

Đây thuộc về cái TÂM. Cái tâm không trong sáng, đầy thù hận với sự nghiệp cách mạng gắn với tên tuổi của con người Hồ Chí Minh, thì điểm nhìn và cách nhìn của những người có cái tâm không trong sáng đó chắc chắn bị lệch lạc. Ở đây, không phải là sự ngộ nhận mà là ý đồ cố tình xuyên tạc. Ngộ nhận thì khác. Có thể người ta có cái tâm trong sáng, nhưng những thông tin đến với người ta bị sai lệch cho nên rất dễ làm cho người ta đi đến nhận định không đúng. Mỗi một khi thông tin đã được điều chỉnh, được đính chính thì người ta có thể dễ dàng thay đổi lại nhận định. Hoặc, cũng đối với một số người vốn có cái tâm trong sáng, khi nghiên cứu, nhìn nhận về Hồ Chí Minh nhưng với phương pháp không đúng thì cũng có thể đánh giá về Hồ Chí Minh bị sai lệch. Cũng như trường hợp trên đây, nếu được thay đổi phương pháp nghiên cứu, phương pháp tiếp cận cho phù hợp, cho đúng đắn thì người ta sẽ điều chỉnh lại nhận định cho đúng đắn hơn.

Đằng này, không phải là từ các nguồn thông tin, từ mức độ và chất lượng thông tin (các tài liệu của Hồ Chí Minh và về Hồ Chí Minh); không phải là từ phương pháp tiếp cận không phù hợp hay phương pháp nghiên cứu, nhìn nhận sai, mà là từ định kiến thâm thù. Đã như vậy thì một số người thuộc về trường hợp này sẵn sàng bóp méo thông tin, xuyên tạc, đổi trắng thay đen, đánh tráo khái niệm. Có một số trường hợp, một số người thuộc dạng có cái tâm không trong sáng này thể hiện cách nói, thể hiện ra các bài viết một cách tinh vi, ngụ ý, ẩn dấu, nhưng có không ít trường hợp thật trắng trợn, cực đoan, thể hiện ra bằng những lời lẽ “hàng tôm hàng cá”, hằn học, chửi bới, mạt sát Hồ Chí Minh, v.v. Tất cả các dạng đó có thể không hợp với đối tượng người này nhưng lại hợp với đối tượng người nghe, người đọc loại khác. Nhưng, xem ra, loại bịa đặt nhân chứng, tài liệu, hoặc dựa trên một vài sự kiện có thật để xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp, trước tác Hồ Chí Minh, nghĩa là những cách trình bày lắt léo, tinh vi, cộng với bút pháp có vẻ ly kỳ hấp dẫn là có vẻ “ăn” hơn cả, nghĩa là có tác động lớn hơn cả, lừa được không ít người, nhất là đối với lớp người trẻ.

Vấn đề xuyên tạc, tôi xin nhấn mạnh lại một lần nữa, không phải là từ nhận thức, hay nói đúng hơn là vì ở tầm nhận thức thấp kém, hoặc thiếu thông tin đầy đủ, đúng đắn, mà là ở ý đồ xấu khi người ta đánh giá về Hồ Chí Minh.

Các nguồn tài liệu liên quan đến thân thế, sự nghiệp của Hồ Chí Minh cho đến nay nhiều vô kể. Nhưng, cái quan trọng nhất là cái nhìn, cái tâm của mỗi người khi đánh giá Hồ Chí Minh. Cùng một sự kiện, nhưng với cái tâm như thế này thì người viết đánh giá Hồ Chí Minh như thế, nhưng cùng với cái tâm khác thì người ta lại đánh giá về Hồ Chí Minh khác hẳn một trời một vực.

Số người viết sách, viết báo, cả báo viết, cả báo mạng, để cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh cho đến nay không ít. Họ xuyên tạc đủ điều, “bôi đen” Hồ Chí Minh từ đời riêng đến cả các mối quan hệ công tác và cố ý khái quát cả các những hiện tượng nhất thời, không đúng với bản chất của sự việc. Có khi họ cố tình đem Hồ Chí Minh đối lập với dân tộc Việt Nam. Có khi họ cho rằng, Hồ Chí Minh là đồ đệ của Quốc tế Cộng sản, của V.I.Lênin, của J.Xtalin nhưng núp dưới bóng của chủ nghĩa dân tộc. Họ lý giải hiện tượng lòng dân và ý dân Việt Nam yêu kính Hồ Chí Minh là do sùng bái cá nhân, v.v.

Một số người ở trong nước và nước ngoài không có tâm lành, không có đức dày cố tình gây nhiễu, xuyên tạc về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Tôi lấy thí dụ về một vài vấn đề sau đây để làm rõ điều này. Đó là việc Hồ Chí Minh có vợ có con hay không là câu chuyện bị gây nhiễu, bị xuyên tạc nhiều nhất.

Ngày 3-11-1946, ông Nguyễn Sinh Khiêm, anh trai của Hồ Chí Minh, đến thăm em, nhân lúc vui vẻ có hỏi em mình: “Tôi muốn hỏi riêng chú, việc gia đình riêng của chú ra sao?”. Hồ Chí Minh trả lời hóm hỉnh: “Cảm ơn anh, em chưa bao giờ dám nghĩ đến việc này, đến nay đã tu, tu trót, qua thì thì thôi. Em không phải là người tu hành nhưng vì việc nước quên việc nhà”[2]. Điều này thì quả là rất phù hợp với quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân Hồ Chí Minh với việc riêng, việc nhà, việc nước. Ngày 9-11-1950, ở Việt Bắc kháng chiến, sau khi đi công tác về, Hồ Chí Minh nhận được tin ông Nguyễn Sinh Khiêm qua đời ở quê (25-8 năm Canh Dần, tức là ngày 6-10-1950 dương lịch).

Ông Nguyễn Sinh Khiêm qua đời, nhưng mãi hơn một tháng sau Hồ Chí Minh mới nhận được tin. Trong ánh chiều tà của núi rừng đại ngàn Việt Bắc, ngập dòng lệ, Hồ Chí Minh thảo một bức điện gửi về quê:

“Gửi họ Nguyễn Sinh

Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu.

Than ôi! Tôi xin chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước

Ngày 9 tháng 11 năm 1950

Chí Minh”[3]

Như vậy là, chữ hiếu và chữ đệ ở đây được Hồ Chí Minh đặt dưới “việc nước”. Việc nước là trên hết thảy, việc nhà phải tuân thủ và phải chịu sự hy sinh vì việc nước, biết rằng bản thân mình có tội bất đệ và Hồ Chí Minh đã nhận tội trước linh hồn của người anh trai. Hồ Chí Minh còn cho rằng, hiếu là hiếu với nhân dân, không những ta thương cha mẹ ta mà còn thương cha mẹ người khác, phải làm cho mọi người biết yêu thương cha mẹ; rằng, người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình nhất, vì nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc, phong kiến dày vò. Cái tôi cá nhân của Hồ Chí Minh bao giờ cũng được Hồ Chí Minh đặt thấp hơn cái cực đại của Tổ quốc, của nhân loại cần lao. Vì vậy, có thể rằng, cái việc lấy vợ của Hồ Chí Minh cũng vậy. Lúc trai trẻ thì Hồ Chí Minh đi đây đi đó khắp bốn phương trời, không tiện lấy vợ, lúc về nước thì đã luống tuổi, cũng có lúc định lấy vợ nhưng không thành.

Tháng 1 năm 1947, Hồ Chí Minh viết trong bức thư­ chia buồn khi được tin con trai bác sĩ Vũ Đình Tụng, người theo đạo Thiên Chúa, oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nư­ớc Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột. Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước. Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam. Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc” [4].

Ngày 16-7-1947, trả lời câu hỏi thứ mư­ời của một nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh nói: “Ngài đã hỏi, tôi xin dẹp sự khiêm tốn lại một bên mà đáp một cách thực thà: tôi không nhà cửa, không vợ, không con, nước Việt Nam là đại gia đình của tôi. Phụ lão Việt Nam là thân thích của tôi. Phụ nữ Việt Nam là chị em của tôi. Tôi chỉ có một điều ham muốn là làm cho Tổ quốc tôi được độc lập, thống nhất, dân chủ. Bao giờ đạt đư­ợc mục đích đó, tôi sẽ trở về làm một người công dân du sơn ngoạn thủy, đọc sách làm vườn”[5].

Năm 1948, cũng trong thời kháng Pháp, trong cơ quan Phủ Chủ tịch ở chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh là người hay khơi các trò chơi sau giờ làm việc. Có khi đó là một buổi tối lửa trại, tự diễn tuồng, chèo, kịch tại chỗ, có cả hoạt náo viên, có khi là họa thơ, đối thơ, v.v. Trong những buổi vui vẻ như vậy, nhiều người đề nghị Hồ Chí Minh lấy vợ. Có lần Hồ Chí Minh nói: “Các chú hỏi bao giờ Bác lấy vợ, phải không? Có hỏi thì có trả lời nhé: Không lâu nữa đâu! Bao giờ dân ta toàn thắng, Bắc – Nam sum họp một nhà!”[6]. Còn Phan Anh, khi thấy sức khoẻ của Hồ Chí Minh có phần giảm sút trong những ngày gian khổ tại An toàn khu (ATK) năm 1948 lúc Hồ Chí Minh 58 tuổi, trông Hồ Chí Minh đã già lắm rồi, có đề nghị Hồ Chí Minh lập gia đình để có người thân thương hằng ngày săn sóc, thì Hồ Chí Minh thủng thẳng nói: “Ông bảo thế tôi không phải là con người à? Tôi sống như mọi người mà. Có phải thần, thánh gì đâu Nhưng ông thấy đấy: việc nước bề bộn như vậy!”[7].

Người ta có quyền không tin những điều trên đây do chính bản thân Hồ Chí Minh viết và nói. Nhưng, ai và những tài liệu nào xác đáng để chứng minh rằng Hồ Chí Minh có vợ, có con? Không, không có tài liệu nào thuyết phục người đọc được cả.

Tôi bày tỏ quan điểm của tôi rằng: việc Hồ Chí Minh có vợ, có con hay không có vợ, không có con thì chẳng ảnh hưởng gì đến tư cách, đạo đức của bản thân cả. Nếu Hồ Chí Minh có vợ, có con, nghĩa là có gia đình riêng, thì với những gì Người đã cống hiến cho đất nước, tôi vẫn nhận định được rằng: Hồ Chí Minh đã hy sinh lợi ích riêng tư để dâng hiến cho Tổ quốc thân yêu của mình. Không phải không có vợ con mới là hy sinh chuyện riêng tư. Chỉ có điều là nếu Hồ Chí Minh có vợ thì đấy mới là chính là một con người hoàn chỉnh, không phải là phản tự nhiên. Cũng chính vì thế mà chúng ta hay nói người vợ hay người chồng chính là một nửa bên kia của nhau. Hồ Chí Minh cũng không ít lần nói về cái khiếm khuyết của chính cuộc đời mình, và một trong những khiếm khuyết đó là không có vợ; do vậy Hồ Chí Minh khuyên thanh niên Việt Nam đừng nên học mình về điều đó.

Nếu Hồ Chí Minh có vợ con thật thì Hồ Chí Minh không thể giấu được trong ngần ấy năm. Giấu làm sao được trong con mắt của hàng triệu, hàng triệu con người giữa thế gian, ở đất nước Việt Nam và cả ở trên thế giới. Người bình thường đã khó giấu, huống chi Hồ Chí Minh lại là một người nổi tiếng, là con người của công chúng, thì lại càng khó giấu hơn. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Cái kim trong bọc lâu ngày rồi sẽ lòi ra”. Đã rất lâu ngày, nhưng cái bọc không thấy lòi ra một cái kim nào cả. Làm gì có cái kim nào. Còn miệng thế gian thì càng không thể nào che được.

Đã có người viết về người con gái đem lòng yêu Hồ Chí Minh, và bản thân Hồ Chí Minh cũng đem lòng yêu người con gái đó. Tôi cho rằng, trong cuộc đời Hồ Chí Minh nếu có như vậy là sự thường. Tình yêu thời trai trẻ, tại sao không? Một thanh niên thư sinh, đẹp trai, hào hoa, phong nhã, lại là con của một người đỗ đại khoa (Phó bảng), con quan, con nhà gia giáo mà không rung động trước phái đẹp, mà lại không yêu một người con gái nào đó, cũng như không có người con gái nào yêu mình, mới là sự lạ. Nhưng cần khẳng định một cách chắc chắn rằng, Hồ Chí Minh chưa bao giờ có vợ con.

Đã có không ít người cho rằng, Hồ Chí Minh có một người vợ là người Pháp, một là người Đức, một là người Nga, hai người vợ Trung Quốc, hai người vợ Việt Nam, v.v. Và, đương nhiên câu chuyện và danh sách vợ con của Hồ Chí Minh, theo họ, chưa dừng lại ở đó. Ngay cả nhà nghiên cứu, giáo sư Hoàng Tranh (Học viện Khoa học xã hội Quảng Tây – Trung Quốc hiện đã nghỉ hưu) cũng đã có bài viết tương đối dài đăng trong Tạp chí Đông Nam Á Tung hoành, số 11-2001 (Trung Quốc) đề cập về cuộc sống vợ chồng Hồ Chí Minh – Tăng Tuyết Minh (người Trung Quốc). Nhưng, tôi đã đọc rất kỹ bài viết của Hoàng Tranh thì thấy rằng, lập luận và những chứng cớ mà ông nêu ra không có sức thuyết phục. Mấy cuốn sách, bài báo của một số người ngoài nước chẳng rõ thật hư ra sao về vấn đề này, lại viết theo Hoàng Tranh. Công bằng mà nói, giáo sư Hoàng Tranh không phải là người không có cái tâm trong sáng. Ông vẫn là một nhà Hồ Chí Minh học có tiếng ở Trung Quốc và trên diễn đàn khoa học quốc tế. Ở Hoàng Tranh, có cái gì đấy như là sự đoán định không chắc chắn về việc này, sự suy diễn chỉ trên một mẩu nào đó của sự kiện, cho nên tôi cho rằng, những nhận định về chuyện vợ con của Hồ Chí Minh là không thuyết phục được người đọc.

Hồ Chí Minh là người hoạt động bí mật nhiều năm trời, cho nên không phải những gì mà tài liệu viết về Hồ Chí Minh đều là đúng sự thật, mặc dù đó là những tài liệu báo cáo chính thức, tài liệu lưu trữ trong kho lưu trữ chính trị-xã hội của Liên bang Nga từ năm 1992 (tiếp nối Lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô). Vì một số người không đặt vào hoàn cảnh đó khi nghiên cứu, cho nên mới dựa vào tài liệu báo cáo của Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương và tài liệu lưu trữ ở Liên bang Nga để nhận định không đúng rằng, Hồ Chí Minh với Nguyễn Thị Minh Khai là vợ chồng.

Đấy là chưa kể có những người cố tình xuyên tạc, thêu dệt ly kỳ mặt “tình ái” của Hồ Chí Minh với mục đích bôi xấu Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chính là người bội bạc; rằng không phải Hồ Chí Minh là người đấu tranh giải phóng con người, đặc biệt là đấu tranh giải phóng phụ nữ, mà Hồ Chí Minh coi phụ nữ chỉ là đồ chơi; rằng, Hồ Chí Minh là con người nói dối, v.v. Tôi nghĩ rằng, nếu Hồ Chí Minh có đến 7-8 bà vợ và nhiều con như thế thì khi Việt Nam đang có chiến tranh ác liệt như vậy thì nhiều bà vợ chưa đến đất nước chồng mình đã đành, nhưng khi Việt Nam đã hoà bình rồi, khi Hồ Chí Minh đã nằm yên bình trong Lăng ở Ba Đình – Hà Nội rồi nhưng vẫn không có bà vợ nào (nếu còn sống), con cái nào của Hồ Chí Minh đến thăm. Làm gì có. Nhiều người cứ úp úp mở mở, viết và nói cứ lấp la lấp lửng làm ly kỳ hóa cái chuyện vợ con của Hồ Chí Minh.

2. Muốn “hạ bệ thần tượng”

Trong tiến trình cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam càng ngày càng nhận thức rõ rằng, Hồ Chí Minh đã đóng vài trò cực kỳ quan trọng đối với cách mạng Việt Nam; rằng, thực tế của sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và của những năm đổi mới nói riêng đã chứng tỏ rằng, không những chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn là tư tưởng Hồ Chí Minh, đã trở thành yếu tố chỉ đạo làm nên thắng lợi cho nhân dân Việt Nam. Vì thế, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6,7-1991), Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và t­ư tư­ởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư­ tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[8]. Đại hội VII nêu rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện cụ thể của nư­ớc ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng ta và của cả dân tộc”[9].

Trong khi khẳng định và nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội VII còn cho rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh…tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với mỗi ng­ười dân Việt Nam là vô cùng gần gũi, gắn liền với tình cảm yêu thương vô hạn của nhân dân đối với Bác, bởi công lao to lớn và đạo đức cách mạng trong sáng của Người. Vì vậy, nói tư tưởng Hồ Chí Minh là phù hợp với thực tế cách mạng nư­ớc ta, phù hợp với tình cảm và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta”[10].

Đại hội VII xác định: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hư­ớng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội”[11]. Đại hội nêu lên yêu cầu: “Trong những năm tới, nhiệm vụ chủ yếu của các ngành khoa học xã hội là vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác – Lênin, t­ư tưởng Hồ Chí Minh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nư­ớc ta và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của thế giới”[12].

Việc khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cũng đã đ­ược ghi nhận trong hai văn kiện nữa rất quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 thông qua và trong Hiến pháp n­ước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đư­ợc Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 1992.

Đến Đại hội IX (4-2001), Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đầy đủ hơn Đại hội VII: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của n­ước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại”[13].

Tiếp đó, Đại hội IX còn chỉ ra một cách cụ thể một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh: đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân…

Đến đây, chúng ta thấy rằng, Đại hội IX của Đảng không những cho rằng tư­ tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, mà cái mới lần này Đảng ta nêu rõ Tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh còn là kết quả của sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin nữa.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam họp vào tháng 4 năm 2006, khi đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh, đã nhận định: “Sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta 76 năm qua đã khẳng định rằng, tư tưởng vĩ đại của Người cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng đó đã dẫn dắt chúng ta trên mỗi chặng đường xây dựng và phát triển đất nước, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là sức mạnh tập hợp và đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta hôm nay và mai sau”[14].

Đây chính là luồng đánh giá tiếp nối, là sự khẳng định thêm một lần nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, giá trị, vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.

Trong nhiều “kênh” chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam, muốn đưa Việt Nam đi theo con đường khác, không phải là con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch của cách mạng Việt Nam đã nhằm vào hai “kênh” chính yếu nhất: chống Đảng Cộng sản Việt Nam và chống Hồ Chí Minh.

Cũng dễ hiểu thôi, vì đó là kênh thứ nhất: chống một tổ chức chính trị đang cầm quyền, tìm mọi cách làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam yếu đi, làm cho nó dần dần biến chất hoặc đi đến tan rã. Nếu điều đó xẩy ra thì tình hình sẽ như thế nào, chúng ta thấy rõ ngay: mọi thành quả cách mạng mà Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam tốn bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, bao nhiêu tinh lực, bao nhiêu núi xương sông máu, phút chốc sẽ bị đổ xuống sông xuống biển; Việt Nam sẽ đi theo con đường khác.

“Kênh” thứ hai là chống vào nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam và đánh vào giá trị tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, hay nói như nhiều người đã nói là “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Hồ Chí Minh, đã trở thành giá trị văn hóa có tính bền vững của cả dân tộc Việt Nam. Làm sụp đổ thần tượng này, tức là làm đánh mất giá trị văn hóa và làm cho Việt Nam đi theo một con đường khác. Giá trị tinh thần Hồ Chí Minh với Đảng Cộng sản Việt Nam, với sự phát triển của dân tộc trên con đường xã hội chủ nghĩa là một. Đánh vào Hồ Chí Minh cũng tức là đánh vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Chĩa mũi dùi vào Hồ Chí Minh, hạ bệ “thần tượng” Hồ Chí Minh cũng là một biện pháp mà các thế lực xấu, thế lực phản động thường làm. Chính vì vậy, trên các phương tiện thông tin đại chúng, mà trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin 3.0 hiện nay, những bài, những sách viết xuyên tạc về Hồ Chí Minh quá nhiều. Những người chống đối sự nghiệp cách mạng Việt Nam, trong đó có cả việc chống Hồ Chí Minh, đã thẳng thừng tuyên bố rằng: “Trong khối “8406” bây giờ có mục tiêu cương quyết đạp đổ thần tượng Hồ Chí Minh, phá bỏ huyền thoại, và vì thế tìm đủ mọi cách để có thể hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh bằng mọi giá”[15].

Trong nhiều ý kiến xuyên tạc, đáng chú ý là những ý kiến cho rằng, không có tư tưởng Hồ Chí Minh; rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là điều do Đảng Cộng sản Việt Nam tưởng tượng ra; rằng, cuộc đời của Hồ Chí Minh đầy những điều giả dối, Hồ Chí Minh là con người độc tài, v.v. do đó không xứng đáng là một “thần tượng” để mọi người dân Việt Nam ngưỡng mộ; rằng, sự ngợi ca, tôn vinh Hồ Chí Minh chỉ là sự sùng bái cá nhân mà thôi.

Trong nhiều biện pháp, thì biện pháp đánh vào cái gốc, đánh vào nền tảng tư tưởng, đánh vào yếu tố tinh thần, đánh vào giá trị văn hóa với tư cách như là la bàn định hướng đi cho dân tộc, đánh vào lãnh tụ của sự nghiệp cách mạng Việt Nam…là biện pháp thâm hiểm nhất. Cho nên, những kẻ xấu không từ một thủ đoạn nào, một hành vi nào, tận dụng tất cả mọi diễn đàn có thể có được trong công nghệ thông tin hiện đại để bôi xấu, xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, trước tác của Hồ Chí Minh. Họ muốn viết càng nhiều càng tốt, nói càng nhiều càng tốt, trên nhiều phương tiện càng tốt, dựng chuyện ly kỳ, bịa đặt, nói và viết úp úp mở mở…mà làm cho ngay cả không ít người có lương tri có lúc cũng “loáng choáng”.

Tôi khẳng định rằng, tập trung vào hai “kênh” đó, chĩa mũi dùi vào hai “kênh” đó, nếu thành công, thì đó là con đường ngắn nhất để những người có ý đồ xấu đối với cách mạng Việt Nam đạt được mục tiêu. Do vậy, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, bảo vệ Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, là những cuộc chiến đấu gian khổ, quyết liệt để bảo vệ sự phát triển của dân tộc, tức là bảo vệ và khẳng định, kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn và Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định lại ngay từ ngày đầu thành lập đầu năm 1930.

3. Nguyên nhân từ sự bất mãn của một số cá nhân

Những người bất mãn là những người Việt Nam từng có liên quan đến việc này việc nọ, từng giữ chức vụ này chức vụ nọ trong bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam, nay không còn có tình cảm với cách mạng hoặc thù hận do nhận thức sai lệch, do bị “dính” đến một hoặc nhiều sự kiện nào đó, hoặc bản thân mình hoặc người trong gia đình mình bị tổn thương… Điều này là dễ hiểu, vì trong quá trình cách mạng Việt Nam, có một số vấn đề sai lầm ảnh hưởng đến gia đình người này, người nọ, có một số sự việc rất nhạy cảm liên quan trực tiếp đến người này, người nọ. Chúng ta thấy đó là những người liên quan đến cải cách ruộng đất, đến “Nhân văn giai phẩm”, đến nhóm chống Đảng, v.v. Một số trong họ đang ở trong nước, một số khác định cư ở nước ngoài, có trường hợp “ra đi” hợp pháp, lại có trường hợp không hợp pháp. Chúng ta thường thấy bài vở, tác phẩm của họ trên các quầy sách báo nước ngoài, trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng, trên các báo mạng internet. Đó là Nguyễn Minh Cần, Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Lê Hữu Mục, Thế Anh, Dương Thu Hương, v.v.

Tôi thấy rằng, những tác phẩm, bài vở của họ về cách mạng Việt Nam, về Hồ Chí Minh sặc mùi cực đoan, xuyên tạc, chửi rủa, hằn học, thâm thù…Họ dùng đủ lời lẽ, lập luận để vu cáo, xuyên tạc. Họ làm ra vẻ họ là những người “trong cuộc”, là những người nằm trong lòng các sự kiện đó, thậm chí là những sự kiện cho đến hiện nay được nhiều người coi là bí ẩn, cho nên họ cho rằng, họ là những người nắm chắc được bản chất của sự kiện để đưa ra thông điệp cho người đọc, người nghe rằng, những điều họ viết, họ nói mới là sự thật. Họ tự phong cho mình là người “vén những tấm màn bí mật” ở chốn “thâm cung bí sử”.

Thế yếu nhất của họ thường là bị mang danh là người bất mãn với chế độ chính trị, với cách mạng Việt Nam, bị nhiều người coi là “những phần tử phản động”, cho nên họ có thái độ cực kỳ cay cú, cho nên họ sẵn sàng bịa chuyện, hoặc dựa trên một vài sự kiện, tài liệu có thật để rồi thêm thắt, bình luận, hoặc viết rất ly kỳ, tinh vi để nói xấu Hồ Chí Minh, nói xấu cách mạng, tự bào chữa cho những sai lầm của họ hoặc gia đình họ trong quá khứ, hoặc nhấn mạnh, tô đậm những sai lầm, khuyết điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính bản thân Dương Thu Hương cho rằng: “Còn đối với những người vượt biên, hay những người là nạn nhân của chế độ cộng sản, buộc phải rời Tổ quốc ra đi trong một nỗi đau khổ khốn cùng, trong một lòng thù hận khôn nguôi, thì chỉ có Hồ Chí Minh là cái đích, cái biểu tượng dễ nhất để mà khạc nhổ, để mà đánh đấm”[16].

Sự bất mãn của họ làm cho họ phát ngôn rất cực đoan về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ tìm mọi cách nói xấu Hồ Chí Minh, ly gián người này người nọ, bịa chuyện. Họ tận dụng nhiều diễn đàn, thể loại để làm việc đó, như viết báo, nhất là trên mạng internet; viết sách; nói chuyện với nhiều đối tượng; viết văn, v.v.

Số người bất mãn này thường liên lạc với nhau ở trong nước và ngoài nước, tự phong là những người dân chủ, bất đồng ý kiến với Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Trong số những người bất mãn, thực ra không phải ai cũng xuyên tạc Hồ Chí Minh. Họ chĩa mũi dùi vào Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng có không ít người vẫn kiềng nể Hồ Chí Minh; nhưng phần đông trong số họ là xuyên tạc đả kích cả hai, cả Đảng Cộng sản Việt Nam, cả cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực ra, tác dụng của sự xuyên tạc từ những người bất mãn này không thực sự lớn, vì họ mang danh là những người phản bội; người đọc, người nghe thấy rõ bản chất, thái độ, động cơ chính trị của họ. Lợi thế của họ chính là ở chỗ họ nói với những người nghe và người đọc rằng, họ là những người trong cuộc; họ là sản phẩm của cách mạng, thậm chí một số người xuất thân là con em cách mạng, v.v. Số này, lúc đầu còn có vẻ e dè, nhưng càng về sau viết xuyên tạc về Hồ Chí Minh càng mạnh mẽ hơn, không ngại bất cứ khía cạnh nào, kể cả những khía cạnh về mặt đời tư của Hồ Chí Minh, cố tình bôi đen đời tư của Hồ Chí Minh và rồi mức độ càng ngày càng cay cú, cực đoan.

Trở lên bên trên, tôi đã nêu lên ba nguyên nhân của các luận điệu xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và trước tác của Hồ Chí Minh. Có thể còn một số nguyên nhân nữa, có cả nguyên nhân xa. Chẳng hạn, có cả nguyên nhân là cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh cho đến hiện nay chưa được giới khoa học trong nước nghiên cứu một cách đầy đủ, chưa được làm rõ và khẳng định một cách chắc chắn. Cũng có thể nói rằng, còn khá nhiều khoảng trống nghiên cứu về Hồ Chí Minh chưa được lấp đầy. Điều này vô hình trung trở thành một mặt thuận lợi cho những kẻ xấu lợi dụng để xuyên tạc Hồ Chí Minh. Ở đây, cần có giải pháp hữu hiệu mà tôi sẽ trình bày ở sau.

II. GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ HỒ CHÍ MINH

Giải pháp về vấn đề này có thể có nhiều, nhưng trong điều kiện hiện nay, theo tôi, có ba giải pháp chủ yếu sau đây làm thành một thể thống nhất để chống lại những luận điểm xuyên tạc về Hồ Chí Minh:

1. Đẩy mạnh việc nghiên cứu một cách sâu sắc và đúng đắn, đầy đủ về Hồ Chí Minh

Việc nghiên cứu Hồ Chí Minh đã được đặt ra từ lâu, và cũng đã có một số kết quả tốt, nhưng quả thật cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục phải được đẩy mạnh, cần “lấp những khoảng trống”, cần có những nhận định, đánh giá sát thực hơn, với nguồn tài liệu phong phú, đầy đủ hơn, với những phương pháp phù hợp hơn.

Cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh được người ta biểu đạt qua nhiều lĩnh vực. Ngoài lĩnh vực khoa học ra, còn có cả trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật nữa. Rồi cả phương pháp tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, phương pháp thể hiện…của mỗi người đều có sự khác nhau. Khác nhau như thế là sự thường. Mà chính do có khác nhau cho nên nhân vật Hồ Chí Minh mới được người ta biểu đạt một cách nhiều chiều, lung linh, sinh động. Và, như thế thì quả thật Hồ Chí Minh là một nhân vật thật sự hấp dẫn.

Cho đến nay, thành quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở trong nước, về những nét đại thể, đã đạt được một số điểm sau đây:

Một là: Đã nêu lên được những nét lớn, có tính cơ bản về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nhận thức là một quá trình. Đúng thế. Không phải ngay từ đầu mà những nhà hoạt động chính trị và những nhà khoa học đã đánh giá một cách đầy đủ, đúng đắn về Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã bị nhiều lần, nhiều người hiểu lầm, hiểu lầm một cách dai dẳng. Từ khi Hồ Chí Minh trở về nước năm 1941, nhất là từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, việc đánh giá về Hồ Chí Minh từ các nhà hoạt động chính trị đã khách quan hơn, đúng đắn hơn. Nhưng, dù sao, với hoàn cảnh Hồ Chí Minh còn sống, việc nghiên cứu về Hồ Chí Minh chưa thực sự được đẩy mạnh, thể hiện ngay cả ở những trang tiểu sử của Người với tư cách là lãnh tụ của một Đảng và là nguyên thủ quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, rất sơ sài, lỗ mỗ, trống vắng nhiều sự kiện cơ bản trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh.

Kể từ khi Hồ Chí Minh qua đời ngày 2-9-1969 trở đi, việc nghiên cứu Hồ Chí Minh ở trong nước và ngoài nước được đẩy mạnh hơn. Đặc biệt là từ sau Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi Đảng nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định lấy tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng chủ nghĩa Mác – Lênin, làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, thì việc nghiên cứu Hồ Chí Minh càng được đẩy mạnh hơn. Lần đầu tiên, đã có hẳn một Chương trình khoa học cấp nhà nước mã số KX.02 “Nghiên cứu Hồ Chí Minh” (giai đoạn 1991-1995) với 13 đề tài do Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chủ trì, Giáo sư Đặng Xuân Kỳ (Viện trưởng) làm Chủ nhiệm và Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Cố vấn. Sau giai đoạn đó trở đi, tuy không thành một chương trình với quy mô lớn, nhưng một số đề tài khoa học nghiên cứu Hồ Chí Minh các giai đoạn tiếp theo vẫn được tiếp tục tiến hành. Tất cả công việc triển khai nghiên cứu Hồ Chí Minh trên đây, nhất là từ Chương trình KX.02, cho chúng ta thấy, Hồ Chí Minh đã được biểu đạt một cách rất cơ bản, từ cả thân thế, sự nghiệp đến tư tưởng, cả những tác phẩm của Người. Nhiều khoảng trống về Hồ Chí Minh đã được san lấp bằng những kết quả nghiên cứu khoa học xác đáng. Nhiều tài liệu về Hồ Chí Minh, của Hồ Chí Minh đã được đính chính cho chính xác, đã được bổ sung cho đầy đủ hơn. Nhiều nhận định, đánh giá về Hồ Chí Minh đã được đặt trên cơ sở khoa học, chắc chắn hơn.

Hai là: Đã hình thành lực lượng nghiên cứu Hồ Chí Minh ở trong nước tương đối đông đảo, nghiên cứu một cách có bài bản hơn.

Lực lượng nghiên cứu Hồ Chí Minh trong những năm từ sau 1991 trở đi đã được tập hợp lại, hình thành trong các viện nghiên cứu, trong các nhà trường, tạo thành một lực lượng chuyên nghiệp đi sâu vào lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy và đã hình thành một chuyên ngành “Hồ Chí Minh học”. Cho đến nay, lực lượng đó đã có hầu khắp nước, trong tất cả hệ thống các trường chính trị, các trường quân đội, công an, các trường đại học và cao đẳng.

Có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Hồ Chí Minh đã được công bố. Năm 2004, trong khuôn khổ tổng kết một số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) đã tiến hành nghiên cứu hai chương trình khoa học trọng điểm, trong đó có Chương trình tổng kết Nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới. Công trình khoa học này đã được Nhà xuất bản Lý luận chính trị xuất bản tháng 5 năm 2005[17]. Công trình đã tổng thuật, tuy chưa được đầy đủ, nhưng cũng đã nêu lên được những nét chính về các công trình ở trong và ngoài nước viết về Hồ Chí Minh.

Đã có rất nhiều giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh được xuất bản và đưa vào dạy và học trong các trường.  Đó là Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh được biên soạn bởi Hội đồng Trung ương Chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (Ban biên soạn: GS Đặng Xuân Kỳ – Chủ biên; GS Vũ Khiêu; GS Song Thành), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003. Bộ Giáo dục và Đào tạo có Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh dùng trong các trường đại học và cao đẳng trong cả nước (Tập thể tác giả: GS,TS Mạch Quang Thắng – Chủ biên; PGS Lê Mậu Hãn; PGS,TS Vũ Quang Hiển; TS Phạm Ngọc Anh; PGS,TS Ngô Đăng Tri; PGS,TS Bùi Đình Phong; TS Ngô Văn Thạo), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. Theo chủ trương biên soạn chương trình, giáo trình mới, cuốn Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh lần sau, được nghiệm thu cuối năm 2008, do các vị sau đây biên soạn: PGS,TS Phạm Ngọc Anh (Chủ biên), GS,TS Mạch Quang Thắng, GS,TS Nguyễn Ngọc Cơ, PGS,TS Vũ Quang Hiển, TS Lê Văn Thịnh, dự định sẽ xuất bản năm 2009. Ở Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngay từ nửa cuối những năm 90 thế kỷ XX trở đi, đã biên soạn nhiều tập bài giảng, giáo trình cho các hệ đào tạo cao cấp lý luận chính trị, cử nhân chính trị, cao học. Một số học viện, trường đại học trong và ngoài Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng đã biên soạn giáo trình riêng cho cơ sở đào tạo của mình. Có thể nói rằng, với việc mở đầu rất tích cực và có hiệu quả từ Chương trình khoa học cấp nhà nước “Nghiên cứu Hồ Chí Minh”, mã số KX.02, giai đoạn 1991-1995, việc nghiên cứu Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Ba là: Phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh đã được chú ý cho phù hợp hơn, đúng đắn hơn.

Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng đã tuân thủ phép biện chứng duy vật, tôn trọng sự thật, liên hệ tổng thể, gắn với những điều kiện lịch sử cụ thể, v.v.

Đó là một mặt của tình hình. Nhìn nhận một cách nghiêm khắc, tôi cho rằng, công tác nghiên cứu Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế. Do vậy, giải pháp để chống lại những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh, ngoài việc phát huy những kết quả tốt đã đạt được trong nghiên cứu Hồ Chí Minh, còn phải chú ý khắc phục những hạn chế sau đây:

Trước hết, đó là vẫn còn nhiều tài liệu của Hồ Chí Minh, về Hồ Chí Minh chưa được sưu tầm đầy đủ, chưa được xử lý một cách khoa học.

Muốn nghiên cứu để có những nhận định chính xác, trên cơ sở khoa học về Hồ Chí Minh, điều cốt yếu nhất là phải có những tài liệu cơ bản, tương đối đầy đủ của Hồ Chí Minh và về Hồ Chí Minh.

Có người chỉ dựa vào tài liệu thành văn từ nhiều nguồn khác nhau để nghiên cứu và viết về Hồ Chí Minh, nhất là những tài liệu ở các kho lưu trữ trên thế giới. Lớn nhất là ở Nga và ở Pháp. Tài liệu nhiều ở Pháp là vì Hồ Chí Minh đã có một thời gian sống và hoạt động yêu nước, cách mạng ở Pháp (gần 10 năm – không liên tục). Khối lượng tài liệu từ các báo cáo của mật thám Pháp theo dõi Nguyễn Ái Quốc khá nhiều và rất tỷ mỉ, tuy chỉ là những nhận xét bên ngoài.

Những tài liệu liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam (tôi gọi chung cho các thời kỳ của các tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam) và liên quan đến Hồ Chí Minh có rất nhiều ở kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô (đặt tại thủ đô Mátxcơva), phông Quốc tế Cộng sản. Hồ Chí Minh đã hoạt động ở Liên Xô từ mùa hạ năm 1923 và sau đó gần một năm chính thức trở thành một cán bộ của Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam là một phân bộ độc lập của Quốc tế Cộng sản từ tháng 4 năm 1931. Do đó, các báo cáo, thư từ, các tài liệu khác liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và liên quan đến Hồ Chí Minh được lưu trữ khá nhiều ở đấy. Hơn nữa, công tác lưu trữ ở Liên Xô có từ khá sớm, được bảo đảm tốt trên một cơ sở khoa học.

Không ít lần, trong khuôn khổ quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước của Liên Xô và Việt Nam, nhiều cán bộ của Việt Nam đã sang khai thác nguồn tài liệu này. Nhưng, thực sự “cơ chế” cứng nhắc, cái cơ chế gần như đóng từ phía Liên Xô đã không cho phép các cán bộ Việt Nam khai thác được gì nhiều trong kho tư liệu đó. Không riêng gì đối với Việt Nam mà Liên Xô còn áp dụng chung cái cơ chế đóng này cho tất cả những ai đến khai thác tài liệu lưu trữ ở đây, dù đã được thoả thuận qua cấp bộ Đảng, Nhà nước.

Liên Xô tan rã đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Một cơ chế hoàn toàn mới, một cơ chế mở đối với kho lưu trữ Quốc tế Cộng sản đã được thực thi. Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới phần thì nhanh chân hơn, phần thì nhạy cảm thông tin hơn, phần thì nhiều tiền hơn, đã đặt chân đến kho lưu trữ Mátxcơva trước những cán bộ Việt Nam để khai thác những tài liệu, trong đó có những tài liệu về Hồ Chí Minh mà chưa từng được công bố.

Việt Nam lúc này, năm 1992-1993, theo tôi được biết, có ít nhất hai đoàn sang khai thác những tài liệu liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chí Minh tại kho lưu trữ Mátxcơva. Một đoàn của Cục lưu trữ thuộc Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, một đoàn của Ban Chủ nhiệm Chương trình Khoa học và Công nghệ cấp nhà nước giai đoạn 1991-1995 “Nghiên cứu Hồ Chí Minh”, mã số KX.02.

Sau thời gian khai thác tài liệu từ nguồn này, cả ở trong và ngoài nước, người ta đã công bố một số tài liệu về Hồ Chí Minh mà từ trước đến lúc bấy giờ chưa được ai công bố, trong đó cải chính, đính chính lại một số bài viết của Hồ Chí Minh mà do trước đây chưa có tài liệu gốc để kiểm chứng cho chính xác. Một số tài liệu được bổ sung, đưa vào bộ Hồ Chí Minh Toàn tập gồm 12 tập được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản trong hai năm 1995, 1996 (Sau này, đến năm 2000, 2001, bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập được tái bản không sửa chữa, bổ sung)[18]. Ngày 18-5-2005, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Quyết định số 142/QĐ-TW, đã chủ trương tổ chức tiến hành sưu tầm, xác minh, bổ sung các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh cho bộ Hồ Chí Minh Toàn tập, dự định sẽ xuất bản vào dịp kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của Hồ Chí Minh, năm 2010.

Năm 2006, trong một lần đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội, ông S.V. Xtépashin (Tổng Kiểm toán Liên bang Nga) đã có ấn tượng rất sâu sắc về những tư liệu, hiện vật tại Bảo tàng. Tính đến thời điểm năm 2006, Bảo tàng Hồ Chí Minh của Việt Nam đã lưu giữ được 130 000 tài liệu, hiện vật gốc về Hồ Chí Minh, trong đó trưng bày hơn 2 500 tài liệu, hiện vật. Theo đề nghị của S.V. Xtépashin, trong dịp Tuần lễ Cấp cao Diễn đàn châu á – Thái Bình Dương (APEC) từ ngày 12 đến ngày 19 tháng 11 năm 2006 ở Hà Nội và nhân đó thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Liên bang Nga Vlađimia Vlađimirôvích Putin đã trao cho Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết bộ phim tài liệu “Tên Người là Hồ Chí Minh”, nhiều bản sao tài liệu về Đảng Cộng sản Việt Nam và về Hồ Chí Minh từ kho lưu trữ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Quốc tế Cộng sản trước đây.

Gần đây nhất là vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 2006, Đoàn cán bộ Bảo tàng Hồ Chí Minh thuộc Bộ Văn hoá – Thông tin Việt Nam (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) đã dành ra một tháng sang sưu tầm tài liệu tại Kho lưu trữ Lịch sử Chính trị Xã hội Liên bang Nga. Đoàn đã sưu tầm được 1 000 trang tài liệu trong số hàng vạn trang về Hồ Chí Minh. Đó là những bức thư, các bản báo cáo, bản thảo, bút tích, nhiều bài viết của Hồ Chí Minh những năm 1923 – 1952 chủ yếu bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Nga; những bài phát biểu của Hồ Chí Minh trên nhiều diễn đàn quốc tế; không ít giấy tờ cá nhân liên quan đến hoạt động của Người những năm 1922-1938 (thẻ dự các Đại hội Đảng Cộng sản Pháp, Đại hội Quốc tế Cộng sản, Đại hội Quốc tế Thanh niên, thị thực nhập cảnh nước Nga, hộ chiếu, một số bản khai lý lịch, v.v.). Có cả những đoạn phim tư liệu ghi dấu ấn của Hồ Chí Minh dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Hội nghị Quốc tế nông dân. Vẫn còn hàng trăm thước phim tài liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh có trong Kho lưu trữ này của Liên bang Nga. Đó là chưa kể có thể còn rất nhiều những tư liệu quý về Hồ Chí Minh đang lưu giữ tại nhiều kho lưu trữ ở các nước Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Đài Loan… thậm chí ở trong một số cá nhân.

Cho đến hiện nay, tài liệu của Hồ Chí Minh (tức là chính những bài nói, bài viết của bản thân Hồ Chí Minh), tài liệu về Hồ Chí Minh (tức là những bài viết của nhiều người cả trong và ngoài nước Việt Nam về Hồ Chí Minh, trong đó có cả những bài viết đã được khuôn vào hàng sách giáo trình, tập bài giảng chung, cũng như giáo trình dùng trong các học viện, các trường đại học và cao đẳng) có tương đối nhiều.

Lại có một dạng sách tham khảo nữa là các chuyện kể có liên quan đến Hồ Chí Minh. Các chuyện kể này là hồi ký, hồi tưởng của những người cùng hoạt động với Hồ Chí Minh, của những người được một hay nhiều lần gặp Hồ Chí Minh. Thậm chí, lạ thay, cả của những người chưa từng gặp Hồ Chí Minh lần nào lại biên soạn những chuyện kể về Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh là con người của hành động. Có nhiều khi quan điểm của Người, tư tưởng của Hồ Chí Minh lại phát tiết từ chính hành động chứ không từ sách, báo của Người, không từ lời nói của Người. Do đó, những chuyện kể đóng góp một phần quan trọng nào đó cho việc tìm hiểu Hồ Chí Minh. Những bài viết, những cuốn như của T. Lan “Vừa đi đường vừa kể chuyện” hay của Trần Dân Tiên “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” (đang nghi là do chính Hồ Chí Minh viết), v.v. hay những bài báo, những cuốn sách kể chuyện hoặc viết về cuộc sống thường nhật của Hồ Chí Minh cũng rất quý. Một điều tôi cần nêu ở đây là, mặc dù tài liệu của Hồ Chí Minh và về Hồ Chí Minh nhiều như vậy nhưng vẫn còn nhiều tài liệu vẫn còn đang ở dạng nghi vấn, nhiều tài liệu về Hồ Chí Minh, nhiều chuyện kể (hồi ký, hồi tưởng) về Hồ Chí Minh còn chưa đạt được tính chân xác. Điều này là dễ thấy. Trí nhớ của con người, động cơ của người đưa tin khác nhau. Không nói đâu xa, ngay cả những sự kiện, không phải sự kiện nhỏ mà sự kiện lớn hẳn hoi, diễn ra cách đây không lâu lắm, chẳng hạn sự kiện ở Dinh Độc Lập (Sài Gòn) trưa ngày 30-4-1975, mà mỗi người nhớ một phách, ỏm tỏi lên, ai cũng bảo là mình đúng.

Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác sưu tầm, xử lý những tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh cả ở trong và ngoài nước, không nên vì vấn đề eo hẹp kinh phí để buông lỏng việc này. Việc sưu tầm những tư liệu, hiện vật của Hồ Chí Minh, về Hồ Chí Minh vẫn đang còn ở phía trước, chủ yếu là ở các kho lưu trữ nước ngoài, ở những cá nhân nào đó trên khắp bốn phương trời vì vốn dĩ Hồ Chí Minh có lẽ là một người hoạt động chính trị đi nhiều nhất các nước trên thế giới (khoảng gần 40 lượt nước trong vòng 30 năm, từ năm 1911 đến năm 1941). Chúng ta mới biết được những điều chủ yếu nhất trong sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh, còn những chi tiết của cuộc đời Hồ Chí Minh, có lẽ khó mà biết được một cách hoàn toàn.

Hai là, còn khá nhiều “khoảng trống” về cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh chưa được làm rõ.

Chính vì còn có nhiều “khoảng trống” về Hồ Chí Minh chưa được nghiên cứu làm rõ cho nên vô hình trung có “đất trống” cho những kẻ xuyên tạc hoạt động mạnh. Tôi chỉ lấy một thí dụ về chuyện đời tư, về chuyện Hồ Chí Minh có hay không có vợ con thôi để thấy rõ mặt này. Cho đến nay, chưa có một công trình chính thức nào khẳng định một cách mạnh mẽ rằng: dứt khoát Hồ Chí Minh không có vợ con. Ngay cả những cuốn tiểu sử Hồ Chí Minh ở trong nước cũng chưa thật sự có điểm nhấn để khẳng định điều này. Năm 2005, có một đồng chí ở Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) nói với tôi rằng, trên mạng internet có rất nhiều bài viết xuyên tạc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Tôi nói lại với đồng chí ấy rằng, việc xuyên tạc cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh không phải đến bây giờ người ta mới làm, mà đã diễn ra từ lâu rồi. Để làm cho người ta hiểu một cách đúng đắn về Hồ Chí Minh, tôi nói với đồng chí ấy rằng, cách tốt nhất là nên xuất bản cuốn sách viết về tiểu sử thật sự khoa học, đầy đủ về Hồ Chí Minh. Tôi biết rằng, vào các năm 1995, 1996, Chương trình khoa học cấp nhà nước giai đoạn 1991–1995 KX.02 “Nghiên cứu Hồ Chí Minh” có một đề tài nghiên cứu, biên soạn tiểu sử Hồ Chí Minh do Giáo sư Song Thành làm Chủ nhiệm. Sản phẩm chính của đề tài này là bản “Hồ Chí Minh – Tiểu sử” đã được nghiệm thu; nhưng vì nhiều lý do, mãi cho tới lúc đó, năm 2005, chưa được xuất bản. Ý kiến của tôi là như vậy. Sau đó một thời gian, Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương đề nghị Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá IX cho thẩm định lại bản thảo công trình này để xuất bản thành sách. Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá IX giao cho Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) cùng với Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương giải quyết vấn đề này. Sở dĩ như vậy là vì đây là công trình khoa học thuộc Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh quản lý mà Viện này sau đó đã sáp nhập cùng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thành Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Theo đề nghị của Ban Tư tưởng-Văn hoá Trung ương và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, ngày 19-1-2006, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá IX đã ra Quyết định số 156-QĐ/TW thành lập Hội đồng thẩm định và xuất bản tác phẩm “Hồ Chí Minh – Tiểu sử”.

Cuốn sách “Hồ Chí Minh – Tiểu sử” do Nhà xuất bản Lý luận chính trị (nay là Nhà xuất bản Chính trị – Hành chính) xuất bản đầu tiên theo Giấy phép xuất bản số 48-2006/CXB 01-01/LLCT ngày 12-1-2006 với số lượng 3000 cuốn, 758 trang khổ 15 cm x 22 cm, bìa cứng, nộp lưu chiểu tháng 4 năm 2006. Đây là cuốn sách mới nhất về tiểu sử Hồ Chí Minh được viết một cách công phu, tương đối chi tiết tiếp nối cuốn tiểu sử tóm tắt về Hồ Chí Minh trước đây do Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương biên soạn và được Nhà xuất bản Sự Thật xuất bản. Thực ra, tác phẩm tiểu sử Hồ Chí Minh mới nhất này cũng đã đưa ra được thông tin rằng, Hồ Chí Minh không có vợ con nhưng bằng cách không đề cập tới vấn đề này. Lẽ ra, theo tôi, với dạng viết tiểu sử, nên đề cập nhiều hơn đến đời tư, đời riêng của Hồ Chí Minh, trong đó có ý khẳng định thật rõ, thật chắc chắn là Hồ Chí Minh không có vợ con. Với cuốn sách này, về thực chất suy cho cặn kẽ thì vấn đề vợ con của Hồ Chí Minh vẫn đang bị bỏ ngỏ.

Ba là, cần chú ý cải tiến phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh cho phù hợp.

Những tài liệu của Hồ Chí Minh và về Hồ Chí Minh từ các nguồn khác nhau, trong đó đặc biệt là từ các kho lưu trữ, thật đáng quý. Nhưng, dù chúng đáng quý như thế nào đi chăng nữa thì cũng cần được thẩm định, được nhận thức một cách đúng đắn qua tư duy của người nghiên cứu. Những tài liệu lưu trữ là những chứng cứ, song những chứng cứ ấy bao giờ cũng bị chế định bởi hoàn cảnh lịch sử và muôn vàn yếu tố khác nữa. Nó chưa hoàn toàn là sự thật. Nó chỉ là một mảnh ghép nào đó thôi của sự thật. Do vậy, mới có tình trạng là tài liệu cùng một nguồn nhưng nhận thức, đánh giá của một số người lại trái ngược nhau.

Sự thật là những điều mà ai cũng có thể thấy rõ trong cuộc sống. Nhưng, không ít những sự thật bị che dấu, che lấp, bị nằm lẫn trong vô vàn cái sự rối cuộc đời. Có khi sự thật đã trở thành một thứ “trầm tích” mà nếu muốn biết rõ, hiểu rõ thì phải khai nó lên. Khác và đối lập với sự thật là những điều giả dối, xuyên tạc.

Ấy thế nhưng xem ra, tôi có cảm tưởng rằng, một số người khi trình bày, thể hiện về Hồ Chí Minh không có được phương pháp phù hợp. Có không ít người viết về Hồ Chí Minh không theo lối viết giản dị, dễ hiểu như chính bản thân con người Hồ Chí Minh, cuộc đời Hồ Chí Minh. Có không ít người nói và viết về Hồ Chí Minh cứ rối rối thế nào ấy. Chỗ này của Hồ Chí Minh lẽ ra chỉ là thế này, đơn sơ, mộc mạc như thế này thôi thì người ta lại cứ “phóng” lên, có khi rất đại ngôn. Xem ra không phải. Mà có khi lại hiện đại hoá, thái quá. Có khi lại mang dáng ra vẻ là triết học đây, trừu tượng hoá. Điều mộc mạc của Hồ Chí Minh phát biểu đấy, nhưng mà lại làm cho ra phức tạp, khó hiểu (phức tạp hoá cái điều đơn giản). Có tác giả tư biện quá, hễ viết thì “nện” những câu, những đánh giá rất cao siêu, từ ngữ hoa lá cành sáo rỗng, rồi ra dáng trừu tượng triết học khó hiểu. Mà như vậy kết quả là chỉ làm cho người đọc đi đến chỗ hiểu sai mà thôi. Đồng thời những điều đó làm cho những người có ý đồ xấu dễ đi đến xuyên tạc Hồ Chí Minh.

Lại nữa. Có không ít người khi viết bài, khi giảng bài, hễ bất kể cái gì của Hồ Chí Minh cũng cứ gọi là “Tư tưởng Hồ Chí Minh về…”. Thành ra như vậy lại là tầm thường hoá tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi đã thử thống kê, đã có khoảng hơn 70 cách gọi “Tư tưởng Hồ Chí Minh về…”. Đã có cả cách gọi “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng và chống bão lụt”. Đã có cả cách gọi “Tư tưởng Hồ Chí Minh về người khiếm thị”, v.v. Làm như thế có đúng không và có nên không?

Tôi đã xem không ít bức tượng Hồ Chí Minh, nhiều nhất là những bức tượng Hồ Chí Minh bằng thạch cao thường được đặt một cách trang trọng trong phòng họp của các đơn vị, các cơ quan. Rất, rất nhiều bức tượng xem ra không thật giống Hồ Chí Minh lắm. Hao hao, từa tựa Hồ Chí Minh vậy thôi. Một số người đề nghị được vẽ tranh, đắp tượng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh không bằng lòng, bảo là nên vẽ tranh, đắp tượng nhân dân chứ Người không có gì đặc biệt cả. Nhưng rồi có lúc cũng phải chiều lòng một vài người. Có lần, một nghệ sĩ cứ mỗi ngày vào nhà sàn 1 tiếng đồng hồ ngắm trực tiếp để đắp tượng Hồ Chí Minh. Một thời gian sau, bức tượng hoàn thành, người nghệ sĩ đó mang bức tượng đến cho Hồ Chí Minh xem. Khi xem bức tượng, Hồ Chí Minh nói đùa rằng: đây là bức tượng em của Hồ Chí Minh. Có nơi dựng tượng Hồ Chí Minh, nhưng éo le thay, lại không giống lắm, nếu bỏ đi thì lại “có chuyện” vì bức tượng đó đã ở tại vị trí ấy từ lâu rồi, người ta đã quen rồi, giờ bỏ đi sao đành. Có người vì vẽ không giống Hồ Chí Minh, đắp tượng không giống Hồ Chí Minh, thì lại ngụy biện rằng, hình của Hồ Chí Minh đã trở thành hình của nước, cho nên chẳng giống lắm thì không sao.

Hồ Chí Minh, cũng như bao con người khác, có những điều mà những người chung quanh, và hậu thế không hiểu hết được. Cần tuân thủ phương châm: biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, không được suy diễn lung tung về Hồ Chí Minh (Đây là ý của Khổng Tử cách ngày nay hơn hai nghìn năm: Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri dã. Nghĩa là: Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, chính như thế mới gọi là biết). Trong tình hình hiện nay, người ta suy diễn về Hồ Chí Minh quá nhiều, trong suy diễn ấy, có cả sự lợi dụng để xuyên tạc, bôi xấu, hoặc lại sang một cực khác, quá đề cao mà thực ra, nói như ông Việt Phương, không phải để cộng vào mà lại trừ đi của Hồ Chí Minh những điều mà Hồ Chí Minh đang có.

Trong phương pháp nghiên cứu, nên chú ý để không mắc phải căn bệnh thần thánh hoá Hồ Chí Minh như chúng ta vẫn thấy ở không ít tác phẩm. Việc giải thích điều này có cái khó của nó. Ý dân và lòng dân thì đã phong thánh cho Hồ Chí Minh một cách tự nhiên rồi. Nhưng, giữa vấn đề dân phong thánh cho Hồ Chí Minh với vấn đề trong nghiên cứu tránh việc thần thánh hoá Hồ Chí Minh là hai chuyện khác nhau.

Thường thì ở đời, ngợi ca thì dễ, chê bai thì khó, vì chê là khó lọt cái lỗ tai con người lắm. Khen đúng, chê đúng mới là điều cần làm. Khi đã thiên lệch, thì có khi người ta khen hết lời, dùng những tính từ đẹp nhất, dùng đại ngôn để gán cho một người nào đó mà mình muốn khen. Cũng có khi thiên lệch thì lúc chê, người ta chê hết lời, bôi đen, nói xấu từ đầu tới chân. Sự thật là tiêu chuẩn cao nhất mà nhà khoa học nói chung cũng như nhà sử học nói riêng phải tôn trọng. Trình bày đúng sự thật như con người Hồ Chí Minh vốn có thì không dễ dàng một chút nào. Trong việc này, tôi không bàn đến người nghiên cứu có trong tay số lượng và chất lượng các tài liệu cần thiết, là bột để “gột nên hồ”, tuy rằng điều này là thực sự cần thiết mà thiếu nó thì nhà khoa học không thể dựng lại được một bức tranh toàn cảnh đúng như nó có. Cái phần quan trọng không kém là nhà khoa học không được tô hồng hay bôi đen sự thật. Đây chính là tư cách đích thực của nhà khoa học mà nếu vi phạm thì người đó không còn là nhà khoa học nữa.

Bản chất của cả hai khuynh hướng tô hồng hay bôi đen chỉ là một: đó là sự bóp méo, sự làm sai lệch sự thật lịch sử. Không phải là việc bôi đen có hại hơn việc tô hồng, mà cả hai đều có hại như nhau. Đừng tưởng bất cứ sự ngợi ca nào đều là cộng vào cho Hồ Chí Minh. Sự ngợi ca không có cơ sở chắc chắn, không khoa học, mà tôi gọi đó là sự tô hồng, thì, như đã viết theo lời của ông Việt Phương trên đây, đều trừ đi chứ không thể nào là cộng vào cho Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh đi vào đời sống tâm linh của nhân dân Việt Nam là bởi cái nhân, cái nghĩa, cái trí, cái dũng, cái liêm, cái tín của Người đã cảm hoá được ý thức văn hoá đa thần của nhiều người Việt Nam. Người ta tôn thờ Hồ Chí Minh, thắp hương trên bàn thờ, treo ảnh Hồ Chí Minh để thờ, lập đền thờ…là lẽ tự nhiên của tâm linh, của thái độ ứng xử của người Việt Nam đối với Hồ Chí Minh. Đó là “văn hoá đền”, văn hoá tâm linh. Đó là sự tự cảm từ mỗi con tim mỗi người, là ý thức cộng đồng với những người đã khuất, mong người đã khuất đi theo người đang sống, chở che, răn dạy những người đang sống.

Hồ Chí Minh đi vào lòng người dân không thần bí, không huyền thoại, tuy rằng, nhiều câu chuyện kể về Hồ Chí Minh có vẻ đượm màu huyền thoại. Hồ Chí Minh hiện hữu như một nhân vật cùng với hiện tại, khi mà con người ta sống, để người ta cầu mong và hành động như Hồ Chí Minh, vì những điều thánh thiện.

Trong nghiên cứu Hồ Chí Minh, điều thích hợp hơn cả là tuân thủ nguyên tắc lịch sử – cụ thể, là xem xét một cách toàn diện các mối liên hệ lịch sử cơ bản. Phải xem xét Hồ Chí Minh trong một chỗ đứng cụ thể và sự phát triển của các quan điểm của Hồ Chí Minh ra sao. Có người nói với tôi rằng, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nghiên cứu những hệ thống quan điểm của chính bản thân Hồ Chí Minh mà còn nghiên cứu thông qua cả những quan điểm các học trò của Người: Trường-Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v. giống như đối với học thuyết của Khổng Tử thì không chỉ phát tiết từ Khổng Tử mà còn thông qua các học trò của Khổng Tử. Tôi thì chưa chắc lắm có đồng ý hay không với ý kiến đó, nhưng có một điều chắc chắn là Hồ Chí Minh là một thực thể trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định. Hồ Chí Minh bị thực tế lịch sử chế định, và chính bản thân Hồ Chí Minh cũng chế định lại lịch sử. Hồ Chí Minh có những thành công trong cuộc sống nhưng Hồ Chí Minh cũng có những điểm không thành công, những hạn chế chủ quan. Đúng là nhân vô thập toàn. Bởi vì, chính bản thân Hồ Chí Minh cũng quan niệm: người đời ai cũng có khuyết điểm cả, không nhiều thì ít, không lớn thì bé; trừ khi người ta nằm trong bụng mẹ và cái lúc người ta nằm trong quan tài, còn lại trong cuộc đời mọi người đều có khuyết điểm.

Trong nhiều bài viết về Hồ Chí Minh, tôi thấy nhiều người đã dùng những từ sau đây để đánh giá Hồ Chí Minh: thiên tài, vĩ đại, lỗi lạc, kiệt xuất. Có lẽ bốn “cặp” này là đã đánh giá Hồ Chí Minh ở vào vị trí tột đỉnh rồi, không có từ nào có thể hơn. Đánh giá như vậy, xét về mặt nào đó, là không sai. Tuy nhiên, tôi không thích đại ngôn như vậy. Hãy từ chính bản thân sự việc, con người của Hồ Chí Minh toát lên những từ ngữ của các “cặp” đó.

Thần thánh là những “nhân vật” không có thực, nếu có thì từ con người có thực nào đó, người ta đã làm cho linh thiêng con người đó lên (tâm linh hoá), con người đã khái quát, trừu tượng hoá theo cảm nhận riêng. Nếu thần thánh hoá Hồ Chí Minh trong nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh thì rất dễ biến những lời nói, những quan điểm của Hồ Chí Minh thành những công thức định sẵn, xơ cứng, như giáo lý nào đấy- điều mà Hồ Chí Minh rất kỵ và đã không ít lần nhắc nhở là: đối với bất kỳ điều gì, của ai, của nước nào, cũng phải sáng tạo, phát triển, vận dụng cho phù hợp với từng lúc, từng nơi. Thần thánh hoá là lối nghiên cứu dễ dãi nhất và dẫn đến sai lầm lớn nhất.

Cái điều mà nhiều người đã viết Hồ Chí Minh là vĩ đại, là thiên tài, là lỗi lạc, là kiệt xuất hoá ra nhiều khi lại biểu đạt trong những hành động rất bình dị nhưng cũng đầy cảm động mà Hồ Chí Minh đã làm.

Đó là cử chỉ đi dém chăn cho bộ đội ngoài mặt trận để bộ đội có giấc ngủ ngon trong đêm đông. Đó là nỗi nhớ thương của Hồ Chí Minh đối với đoàn dân công đêm phải ngủ ngoài rừng. Đó là những bữa Hồ Chí Minh nhịn ăn để dành gạo cứu những người đang đói khi nước nhà mới giành được độc lập. Đó là những bức thư chia buồn, động viên, những buổi đi thăm các thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước. Đó là những buổi Hồ Chí Minh lội ruộng cấy lúa bằng máy cấy thí nghiệm, những buổi tát nước gầu dai, đạp nước gầu guồng chống hạn. Đó là những buổi cùng bà con ngư dân Thanh Hoá kéo rùng đánh cá nhân dịp đi nghỉ ở biển Sầm Sơn. Đó là những buổi lội ruộng thăm bà con nông dân, lấy gang tay ước đo rễ cây lúa. Đó là những buổi trầm ngâm làm thơ khi trăng vào cửa sổ. Đó là hình ảnh Hồ Chí Minh cầm bó hoa hoặc một bông hoa tặng cho cháu gái và cho khách nước ngoài. Đó là hình ảnh Hồ Chí Minh chẻ củi, hình ảnh vác cuốc đi tăng gia sản xuất. Đó là hình ảnh Hồ Chí Minh đang gõ máy chữ tuôn ra những dòng chữ phục vụ cho quốc kế dân sinh. Đó là dáng Hồ Chí Minh cưỡi ngựa hiền, con ngựa do đích thân ông Vi Văn Định chọn cho, thoăn thoắt đi công tác ở chiến khu Việt Bắc. Đó là hình ảnh Hồ Chí Minh đi bài quyền giản lược, những buổi Hồ Chí Minh tập võ thuật cùng anh em cảnh vệ. Đó là những buổi Hồ Chí Minh đánh bóng chuyền với anh em cơ quan, mà anh em hay đùa Hồ Chí Minh bằng cách cứ được bóng là bỏ nhỏ tới vị trí Hồ Chí Minh đang đứng làm cho Người cứ loay hoay trong sân bóng. Đó là hình dáng Hồ Chí Minh lịch thiệp, hào hoa, rất tây, nhanh nhẹn “vít cổ” những người bạn nước ngoài để ôm hôn thắm thiết. Đó là lần Hồ Chí Minh cầm gậy chỉ bản đồ chiến sự. Đó là dáng hạc của Hồ Chí Minh đích thân đi Chiến dịch Biên Giới năm 1950. Đó là ánh mắt bừng sáng của Hồ Chí Minh khi tiếp các cháu thiếu niên, nhi đồng. Đó là dáng “nhạc trưởng” Hồ Chí Minh hiền hoà cầm đũa chỉ huy dàn nhạc bài “Kết đoàn” ở vườn Bách thảo (Hà Nội) năm 1960. Đó là hình Hồ Chí Minh ngồi khoan thai, đĩnh đạc chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Đó là tiếng nói ấm, vang như tiếng chuông của Hồ Chí Minh khi đọc lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Đó là cái nheo mắt nhìn về phương nam xa xôi, là nỗi suy tư, trăn trở của Hồ Chí Minh về miền Nam, Hồ Chí Minh tự nhận mình là người chưa làm tròn nhiệm vụ đối với đồng bào miền Nam, “đi đến nơi nhưng về chưa đến chốn”. Đó là niềm rạng rỡ trong ánh mắt, nét mặt của Hồ Chí Minh khi nhận được tin chiến thắng miền Nam.

Vân vân và vân vân.

Tôi cảm thấy rằng, phương pháp tiếp cận, nghiên cứu, viết về Hồ Chí Minh cũng dễ mà cũng khó. Dễ là bởi vì những điều Hồ Chí Minh sống và làm việc, những điều Hồ Chí Minh nói và viết là những lời lẽ của bình dân. Khó là bởi vì, cuộc đời Hồ Chí Minh chính là phản ánh những điều cao cả qua những cái bình dị. Hồ Chí Minh như mọi người chúng ta mà thôi, nhưng cũng khác chúng ta bởi vì Hồ Chí Minh làm được tất cả những điều bình dị mà cao cả ấy một cách tự nhiên, hầu như dễ dàng như hít thở khí trời, như sinh ra là để làm những điều như vậy. Hồ Chí Minh là con người bằng xương bằng thịt ở ngay trước mắt chúng ta, ở trong tâm khảm của mỗi người Việt Nam yêu nước, chứ không phải là điều tưởng tượng, không phải thánh thần quanh quất đâu đây.

Một số người nước ngoài, trong đó có cả nhà khoa học và nhà bình luận chính trị, không hiểu được hết tấm lòng người dân Việt Nam yêu nước đối với Hồ Chí Minh. Do đó, trong một số bài viết, trong một số sách của họ viết về Việt Nam, viết về Hồ Chí Minh, có lúc họ thiên về cái ý là ở Việt Nam có sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh. Hiểu sùng bái cá nhân là hiểu theo nghĩa xấu, như ở trên thế giới đã có một số người được sùng bái cá nhân như vậy, rồi thì cuộc đời của họ về sau chẳng ra làm sao cả. Đối với Hồ Chí Minh ở Việt Nam, tuyệt nhiên không có tệ sùng bái cá nhân, không có sự thúc ép của bất kỳ tổ chức nào, mà đó là sự tự thôi thúc của bao con tim, khối óc của đồng bào của mình mà Hồ Chí Minh đã gắn bó.

Lòng người khó đo. Đúng như thế. Chẳng có cái thước nào đo được lòng người. Nhưng tấm lòng của nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chí Minh thì đã được thử thách qua bao nhiêu năm tháng của cuộc đời, có thể đo được một cách rõ ràng. Vì thế, Hồ Chí Minh đã đi vào cõi bất tử. Nói thế cho có văn có vẻ, nhưng nôm na thì hình ảnh Hồ Chí Minh có trong tấm lòng của những người Việt Nam yêu nước qua các thế hệ kế tiếp nhau. Đặc biệt, Hồ Chí Minh – cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, tác phong của Người — đã trở thành giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam. Mà khi đã trở thành giá trị văn hoá thì chúng thẩm thấu và truyền một cách tự nhiên theo chiều dài sự phát triển của dân tộc. Hơn thế, những giá trị văn hoá đó được bảo tồn và phát huy thêm qua bao nhiêu năm tháng như dòng sữa mẹ nuôi con người ta lớn lên. Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hoá trong tài sản văn hoá của dân tộc. Giá trị đó là bất diệt vì nó có ích, nó thẩm thấu, nâng cao nền văn hoá Việt Nam cả trong tương lai. Nghiên cứu Hồ Chí Minh ngoài việc cần phương pháp khách quan khoa học, còn có cả tình cảm, nhưng như thế không có nghĩa là thoát ly khỏi những phương pháp đúng đắn cần có của một chuyên ngành khoa học: Hồ Chí Minh học.

2. Tăng cường giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh

Một điều kiện tiên quyết mà tôi muốn nêu ở đây là giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh phải dựa trên cơ sở khoa học. Nếu không như vậy thì giáo dục, tuyên truyền sẽ phản tác dụng, sẽ có hại, thà rằng đừng tiến hành. Việc giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh nên chú ý trên những mặt sau đây:

Một là, đưa những vấn đề Hồ Chí Minh học vào trường học các hệ, các cấp, theo đặc điểm, yêu cầu phù hợp.

Đây là một chủ trương hiện nước ta đang tiến hành. Song, cái khó nhất là làm như thế nào cho phù hợp với cấp độ của các hệ thống trường học và mức độ như thế nào, phương pháp ra sao. Rõ ràng là cần có sự nghiên cứu tổng thể để đề ra cho từng loại hình, có tính đến đặc điểm của chúng. Không nên như gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo có ý tưởng đưa ra lấy ý kiến về chuẩn cho trẻ em các độ tuổi, trong đó có trẻ em 3 tuổi “phải biết yêu kính Bác Hồ”. Đưa thành các bài học cho các lớp, nhưng không nhất thiết nhất loạt như nhau, không cứng nhắc. Lẽ nào trong chương trình cho học sinh tiểu học chẳng hạn, lại có những bài dài, toàn lý thuyết là lý thuyết về tư tưởng Hồ Chí Minh để rồi lại theo kiểu nhồi nhét, bắt học thuộc lòng. Có khi những tranh vẽ, những thước phim về Hồ Chí Minh, những buổi tham quan di tích lịch sử liên quan đến Hồ Chí Minh lại có tác dụng rất lớn hơn là cứ giảng thao thao bất tuyệt trên bục giảng. Ngay cả ở cấp đại học, ở loại hình trong hệ thống các trường chính trị, trường quân đội, công an cũng vậy. Cần tránh giáo dục theo lối cứng nhắc, thô thiển như không ít trường hợp hiện nay về Hồ Chí Minh. Muốn thế, như tôi đã đề cập ở bên trên: cần có sự nghiên cứu tổng thể, thiết kế chương trình thích hợp với phương pháp giáo dục tiên tiến, khơi động sự hứng thú của cả đội ngũ thày cô giáo và học sinh. Có được và thấm được những tri thức đúng đắn và tình cảm trong sáng vào trong đầu các thế hệ học sinh thì việc nhận thức đúng đắn và tự mình phản bác lại những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh của những người xấu là điều không khó. Khi ai đó có mở mạng internet bắt gặp những thông tin, những bài xuyên tạc Hồ Chí Minh thì người ta có thể tự nhận thức một cách đúng đắn được ngay vì ở họ đã có sức đề kháng do được trang bị những tri thức chính xác, tình cảm trong sáng về Hồ Chí Minh.

Hai là, giáo dục, tuyên truyền trong các tổ chức của hệ thống chính trị một cách thích hợp.

Nên tính tới đặc điểm của từng tổ chức trong hệ thống chính trị, từng lứa tuổi để có cách tuyên truyền thích hợp. Nên có sự tổng kết thật sự khách quan, khoa học, đánh giá thật sự đúng đắn về cách tuyên truyền bằng việc “kể chuyện” về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như vừa qua. Làm như vừa qua, cái hay đã được khẳng định nhiều, nhưng cái không hay chưa được nêu và phân tích một cách thấu đáo. Chính qua những điều chưa hay, chưa đạt đó có phần vô tình tạo thêm kẽ hở để một số kẻ xấu tiếp tục xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Có một số câu chuyện về Hồ Chí Minh không dựa trên cơ sở khoa học và thực tế xác đáng. Vì là những câu chuyện cho nên một số người còn có ý “thêu dệt”, hư cấu…làm cho sức thuyết phục người nghe yếu đi và để kẻ xấu lợi dụng.

Ba là, tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền đối ngoại.

Cần tăng cường giao lưu, hợp tác nghiên cứu khoa học, trao đổi học thuật với những người nước ngoài, nhất là với những nhà nghiên cứu khoa học đang quan tâm tìm hiểu Hồ Chí Minh. Cho đến hiện nay, việc này đang còn nhiều hạn chế. Sự trao đổi học thuật là một trong những biện pháp tốt để tăng cường sự hiểu biết đúng đắn về Hồ Chí Minh, trong đó có việc sưu tầm, xử lý những tài liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh.

Những người nghiên cứu có tâm ở ngoài nước về Hồ Chí Minh không ít. Họ có thể là học giả có phương pháp nghiên cứu khác nhau, dựa trên những tài liệu khác nhau để cho ra những công trình nghiên cứu, trong đó có những nhận định về Hồ Chí Minh khác nhau. Vấn đề là cần trao đổi học thuật thông qua các tổ chức hội thảo, toạ đàm khoa học quốc tế về Hồ Chí Minh; thông qua các cuộc trao đổi song phương, đa phương, trao đổi tài liệu, thông qua nhiều cuộc gặp gỡ, v.v. Thường là những cuộc tiếp xúc trực tiếp của các nhà hoạt động chính trị và nhà khoa học trên thế giới về Hồ Chí Minh cho kết quả tốt nhất trong đánh giá xác thực về Hồ Chí Minh.

Bốn là, hình thành một tổ chức quần chúng rộng rãi về nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền về Hồ Chí Minh.

Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, sau khi Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh, giới nghiên cứu khoa học trong nước đã đề nghị những người có trách nhiệm trong Đảng cho phép thành lập “Hội nghiên cứu Hồ Chí Minh”. Đề nghị này xuất phát từ tình cảm của nhân dân và giới trí thức đối với Hồ Chí Minh; từ xu thế các hội quần chúng, hội nghề nghiệp đang có đà phát triển mạnh; từ yêu cầu phải nghiên cứu cả bề rộng lẫn bề sâu cuộc đời, sự nghiệp Hồ Chí Minh; từ nhu cầu tăng cường hơn nữa việc tuyên truyền sâu rộng Hồ Chí Minh trong các tầng lớp nhân dân Việt Nam cũng như đối với người Việt Nam ở nước ngoài, v.v. Rất tiếc là đề nghị này không được chấp nhận. Rất có thể có nhiều lý do khác nhau, trong đó có cả lý do là vào giai đoạn đó, vấn đề này (cả vấn đề thành lập Hội Triết học nữa) rất nhạy cảm, dễ xảy ra những nội dung liên quan đến đa nguyên chính trị…

Tình hình hiện nay đã có khác trước nhiều. Chúng ta đã có nhiều kết quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh đã được thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam nói chung và của những năm đổi mới chứng minh là rất đúng đắn, thực sự là tài sản tinh thần to lớn, quý báu của Đảng Cộng sản và dân tộc Việt Nam. Trong giai đoạn này, Đảng Cộng sản Việt Nam đang chỉ đạo tiến hành cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cho nên, việc có được một hội như Hội nghiên cứu Hồ Chí Minh là một yêu cầu cần thiết. Hội này cùng sát cánh cùng những hội khác trong hệ thống các hội chính trị-xã hội, như các Hội Sử học, Liên hiệp hội Văn học-Nghệ thuật, v.v. hình thành nên một mạng lưới đắc dụng giáo dục, tuyên truyền Hồ Chí Minh. Tôi tin rằng, nếu Hội này được thành lập thì chắc chắn việc nghiên cứu, giáo dục, tuyên truyền Hồ Chí Minh sẽ có tác dụng tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có hiệu quả hơn.

3. Tăng cường đấu tranh trực diện với các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh

Các công trình khoa học đúng đắn về Hồ Chí Minh cả ở trong nước và ngoài nước được công bố tự nó là những mũi tiến công vào những luận điệu xấu, luận điệu xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Nhưng, chừng ấy thôi chưa đủ. Rất cần có cả những bài viết, những tác phẩm đấu tranh trực diện để chống lại những luận điệu đó.

Có người cho rằng, những luận điệu xuyên tạc với cái tâm xấu ấy, những giọng điệu cực đoan, chửi rủa, “hàng tôm hàng cá” ấy không đáng để chúng ta viết bài chống lại; cách tốt nhất là hãy cứ “lờ” đi, chỉ cần có những công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh, đúng đắn về Hồ Chí Minh là đủ, v.v. Vấn đề không đơn giản như vậy. Tôi nghĩ rằng, trong tình hình hiện nay, rất cần thiết phải có những bài viết trực diện phản bác lại những luận điệu xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đáng tiếc là “mặt trận” này xưa nay ở nước ta còn quá yếu ớt. Do vậy, muốn đấu tranh chống lại những luận điểm xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đẩy mạnh hơn nữa công bố những bài viết phản bác trực diện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Vấn đề còn lại là ở chỗ cách thể hiện như thế nào.

Trong khuôn khổ của chuyên đề này, tôi xin nêu lên một số biện pháp sau đây:

Một là, chú ý đến đối tượng phản bác.

Tôi thấy nhiều bài viết dạng này trong những năm vừa qua ở nước ta thường mắc phải sai lầm là không chú ý đến đối tượng mà mình phản bác. Những người xuyên tạc Hồ Chí Minh, như tôi đã phân tích ở bên trên, thường có cái tâm xấu, thường là những kẻ phản động. Những người này hoàn toàn có quan điểm, lập trường khác chúng ta, hoàn toàn không đứng trên quan điểm của Đảng. Do vậy, không nên và không thể dùng quan điểm, lập trường Mác – Lênin để “đấu” với họ. Về vấn đề tương tự, ngay bản thân Hồ Chí Minh cũng đã có lần phê bình một số cán bộ cải cách ruộng đất của ta khi tuyên truyền, giải thích cho linh mục thường cứ lấy chủ nghĩa Mác – Lênin ra để giải thích. Hai chỗ đứng khác nhau, nhất thiết không thể viết theo kiểu “viết lấy được”.

Hai là, không nên lấy lời lẽ chửi rủa để đối lại lời lẽ chửi rủa của những người xuyên tạc.

Những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh của những người không có tâm lành thường là rất cực đoan, bôi đen, chửi rủa kiểu “hàng tôm hàng cá”. Tôi đã đọc một số bài viết kiểu này ở trong nước. Sự phê bình nào cũng cần cái chất văn hóa, có như thế sự phê bình, phê phán mới ở tầm trí tuệ, mới có tác dụng, và qua đó cũng có thể hy vọng làm cho đối tượng được phê bình, phê phán tâm phục khẩu phục.

Những bài phê phán, phản bác sắc bén bao giờ cũng đi kèm với lối lập luận, với hành văn trong sáng, hấp dẫn, đầy tính nhân văn, hướng thiện, hướng cho người đọc vào cái đẹp của tình và lý. Điều này khác một trời một vực với kiểu lý lẽ không sắc bén, nhưng lại được viết theo kiểu đao to búa lớn, chửi cho bõ tức, “hòn đá ném đi, hòn chì ném lại”. Hơn ở đâu hết, những bài luận chiến này càng phải được đặt trên cái nền của văn hóa. Có như thế, những lời lẽ của người viết mới có sức sống lâu bền. Cái bền và cái lan tỏa của văn hóa chính là ở đó.

Ba là, những bài viết cần kịp thời, có lý lẽ khoa học; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ xung kích đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh.

Những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh thường rải rác cả thời gian và không gian, cho nên cần theo dõi chặt chẽ để có những bài viết phản bác kịp thời. Muốn vậy, phải có bộ phận chuyên trách theo dõi để phối hợp hoạt động nhịp nhàng, chú ý cung cấp tài liệu kịp thời cho người viết. Kịp thời, đúng lúc là một nhân tố bảo đảm sự thắng lợi trong cuộc đấu tranh tư tưởng nói chung, nhất là trong thời buổi công nghệ thông tin phát triển nhanh đến chóng mặt như hiện nay. Với công nghệ này, cần tận dụng các phương tiện một cách phong phú, hiệu quả. Chưa bao giờ mặt trận tư tưởng được mở rộng với nhiều phương tiện, hình thức như giai đoạn hiện nay. Đó là các phương tiện nghe nhìn, là truyền miệng, là báo viết, điện tử, báo hình, là phương tiện lưu truyền không chỉ là trên giấy, v.v. Người chiến sĩ trên mặt trận này hiện nay chưa bao giờ có được những lợi thế hành nghề như thế.  Nhưng, lợi thế đó cũng nằm ở phía bên kia, mà có khi với điều kiện kinh phí, họ lại nhanh nhạy hơn chúng ta. Do vậy, phải có sự đầu tư thêm “vũ khí”, tức là phải chịu bỏ tiền ra để đầu tư “nâng cấp” các phương tiện. Phương tiện không phải là số 1, càng không phải là duy nhất, nhưng chúng có vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng.

Đương nhiên, phương tiện vẫn chỉ là phương tiện; cái phần quan trọng nhất phải là con người sử dụng phương tiện đó. Do vậy, cái lôgíc của vấn đề còn lại là ở chỗ, con người đó phải được đào tạo, phải được luôn luôn được bồi dưỡng, được tu dưỡng. Điều này đòi hỏi chất lượng người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng. Mà chất lượng này được tạo ra từ kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố. Cần có biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ xung kích đấu tranh phản bác lại những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh. Tốt nhất là Ban Tuyên giáo Trung ương đứng ra tổ chức đội ngũ này. Tôi không dùng cụm từ “Đội ngũ cán bộ chuyên trách” mà là “Đội ngũ cán bộ xung kích”. Điều đó có nghĩa là, những chuyên gia trên lĩnh vực này có thể kiêm nhiệm từ các cơ quan, nhưng nên có một bộ phận chuyên trách ở Ban Tuyên giáo Trung ương. Tất cả lực lượng này, tôi nhấn mạnh rằng, phải có tổ chức, không phải là cộng tác viên, mà họ tuy có thể là những người kiêm nhiệm, nhưng đối với họ, việc thường xuyên đấu tranh phản bác lại những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh là một trong những nhiệm vụ chính trị, chính thức trong biểu lịch công tác hằng năm. Đương nhiên, cần có chính sách đãi ngộ phù hợp cho đội ngũ này.

Tôi mới chỉ đề cập một mặt nhỏ của việc này mà thôi. Nhìn một cách toàn diện thì đó là công tác tổ chức của một mặt trận chiến đấu với nhiều nhiệm vụ, với cả một bộ máy quy củ, chặt chẽ của nó từ trên xuống dưới, từ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng đến các đơn vị và cá nhân.

Tôi và một số người có chung một nhận xét rằng, có một số bài viết, bài nói phê phán lại các xuyên tạc của một số người về Hồ Chí Minh không có sức thuyết phục, ngay cả phía chúng ta. Nguyên nhân chủ yếu là do những bài viết đó ít có chất liệu khoa học, lý lẽ không xác đáng, và như vậy dẫn đến không thể thuyết phục được người đọc. Do vậy, vấn đề đặt ra là ở chỗ: người viết phải có trình độ chuyên sâu, với phương pháp tốt. Điều này liên quan đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ như đã trình bày trên đây. Bài viết là sự kết tinh của trí tuệ, trách nhiệm, tình cảm tác giả. Một bài bút chiến dù có dùng bút pháp phù hợp đến đâu nhưng nội dung nhạt nhòa thì không thể có sức thuyết phục, làm cho người ta tâm phục, khẩu phục được.

Cái nền của việc này là ở công tác nghiên cứu. Cần tổ chức lại công tác nghiên cứu về Hồ Chí Minh học. Hiện nay, nước ta có Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng thuộc Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Ở các trường đại học và cao đẳng chỉ có bộ phận giảng dạy môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước đây, chúng ta đã có hẳn một Viện Hồ Chí Minh làm nhiệm vụ nghiên cứu, nhưng tình hình hiện nay có khác. Cái khác ở chỗ:

– Viện Hồ Chí Minh hiện nay thuộc Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh có hai nhiệm vụ chủ yếu là nghiên cứu và đào tạo, nhưng hiện tại vẫn nặng về đào tạo là chủ yếu. Có thể nói rằng, lực lượng cán bộ của Viện chủ yếu hiện nay là đi dạy, ít có thời giờ để tập trung nghiên cứu sâu.

– Đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện hiện nay vừa thiếu, vừa yếu, vừa phân tán nhiệm vụ (như đã viết ở trên là nặng về giảng dạy). Nhận định này có thể làm cho anh chị em cán bộ của Viện tự ái. Song, đó là sự thật. Mà nói sự thật dễ mất lòng. Không thể không nói.

– Hướng chủ yếu hiện nay của Viện vẫn là nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh chứ không nghiên cứu một cách toàn diện với tư cách là chuyên ngành Hồ Chí Minh học (rộng hơn so với tư tưởng Hồ Chí Minh).

– Viện chưa có một chiến lược lâu dài, cơ bản, kể cả xây dựng lực lượng, mà bị hút vào công việc trước mắt.

– Viện chưa có nổi một diễn đàn riêng, ngay cả ở dưới dạng một bản tin khoa học, về Hồ Chí Minh. Về cơ bản, lâu dài, cần có một tạp chí về Hồ Chí Minh học, nhưng nghe ra có vẻ xa vời.

Có thể kể ra nhiều điểm nữa. Tôi kể ra như thế để đi đến một kiến nghị rằng, nên có tổ chức lại. Có thể thành lập một Viện Hồ Chí Minh chuyên làm công tác nghiên cứu, với chức năng, nhiệm vụ nặng hơn, trong đó có việc thường xuyên đấu tranh phản bác lại những luận điểm xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu có được một Viện như thế thì bộ phận chuyên trách như tôi đã đề cập ở bên trên dự định ở Ban Tuyên giáo Trung ương sẽ do Viện này đảm nhiệm. Xây dựng một đội ngũ cán bộ nghiên cứu Hồ Chí Minh thật hùng hậu trong cả nước. Chú trọng hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng, không chỉ “hớt váng” như bấy lâu nay bồi dưỡng để nhanh chóng đi dạy ở các trường đại học và cao đẳng, chất lượng rất thấp. Mạnh dạn mở hệ đại học chính quy 4 năm đào tạo cử nhân ngành Hồ Chí Minh học, trên cơ sở đó đào tạo chuyên sâu thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học.

Viện này đặt ở đâu? Vẫn là ở Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh hay ở chỗ nào khác? Điều này cần tính toán kỹ. Hiện nay, đặt ở Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, như tôi viết trên đây, là bị hút vào giảng dạy, chưa được đầu tư cán bộ và kinh phí nghiên cứu tương xứng. Viện vẫn bị bó hẹp về biên chế, về kinh phí. Thực trạng này khó có thể cải thiện được. Và, như thế, cái nền nghiên cứu Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục bị hạn chế. Cái vòng luẩn quẩn vẫn bị diễn ra như cái lôgíc tất yếu: nghiên cứu yếu kém ® yếu kém trong việc phản bác lại những luận điệu xuyên tạc Hồ Chí Minh  ® yếu kém trong nghiên cứu…

Mỗi năm, mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, đất nước ta đều đứng trước những thời cơ và thách thức mới. Năm 2009 cũng vậy. Phát triển hay là chết. Đó là khẩu hiệu của cả dân tộc Việt Nam. Những phần tử xấu không muốn cho dân tộc ta phát triển trên con đường của chủ nghĩa xã hội. Muốn phát triển nhanh và bền vững, phải dựa trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, do đó, trở thành sự bảo vệ những nhân tố chủ đạo của sự phát triển.

Đặt vấn đề như vậy, đủ để thấy tầm quan trọng và tính cấp thiết của công tác này lớn như thế nào.

Tháng 2 năm 2009


* Chuyên đề được viết theo yêu cầu của TS Dương Minh Đức, Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học các Ban Đảng KH-BĐ (2008)-04: “Một số giải pháp đấu tranh phản bác lại luận điệu sai trái, thù địch về cuộc đời và sự nghiệp của Bác, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh””.

[1] Theo “Phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương”, http://www.bbc.co.uk/vietnamese, 12-2-2009, 11:54 GMT.

[2] Theo Bá Ngọc, Trần Minh Siêu: Chuyện kể bên mộ bà Hoàng Thị Loan, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2007, tr. 74.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 114.

[4] Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 40.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 171-172.

[6] Theo Vũ Đình Hoè: Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Văn hoá Thông tin, Trung tâm Văn hoá Đông Tây, Hà Nội, 2001, tr. 151.

[7] Như trên.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 127.

[9] Nh­ư trên.

[10] Như­ trên, tr. 128.

[11] Như trên, tr. 53.

[12] Như trên, tr. 80.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 83.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 6 – 7.

[15] Theo “Phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương”, http://www.bbc.co.uk/vietnamese, 12-2-2009, 11:54 GMT.

[16] Theo “Phỏng vấn nhà văn Dương Thu Hương”, http://www.bbc.co.uk/vietnamese, 12-2-2009, 11:54 GMT.

[17] Xem Nghiên cứu, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005 (TS Nguyễn Văn Sáu – Chủ biên; GS,TS Mạch Quang Thắng; PGS,TS Nguyễn Khánh Bật; PGS,TS Lê Văn Tích…).

[18] Ngoài bộ Hồ Chí Minh Toàn tập gồm 12 tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia còn xuất bản Hồ Chí Minh Tuyển tập gồm 3 tập dịp Kỷ niệm lần thứ 112 Ngày sinh của Hồ Chí Minh (5-2002). Hiện nay, ở Việt Nam đang xác minh, thẩm định các văn bản tài liệu nghi là những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh để bổ sung vào bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: