Một phương châm khi nghiên cứu Hồ Chí Minh

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

“Các chú đừng vẽ rắn thêm chân”, đó là câu Hồ Chí Minh thường nói với những người sống gần Người khi những người đó miêu tả, đánh giá, nhận định về một người hay một việc nào đấy. Ngay cả việc Hồ Chí Minh thấy người khác nói, viết, nặn tượng, vẽ tranh về mình, Người cũng rất ngại, và thường là Người khuyên người ta đừng có làm điều đó.

Có một số người gây nhiễu thông tin về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh có vợ có con hay không là câu chuyện bị gây nhiễu nhiều nhất. Tôi cho rằng: việc Hồ Chí Minh có vợ con hay không thì chẳng ảnh hưởng gì đến tư cách, đạo đức của Người. Nếu Hồ Chí Minh có vợ, có con, nghĩa là có gia đình riêng, thì với những gì Người đã cống hiến cho đất nước, chúng ta vẫn nhận định được rằng: Hồ Chí Minh đã hy sinh lợi ích riêng tư để dâng hiến cho Tổ quốc thân yêu của mình. Không phải không có vợ con mới là hy sinh chuyện riêng tư. Chỉ có điều là nếu Hồ Chí Minh có vợ thì đấy mới là chính là một con người hoàn chỉnh. Hồ Chí Minh cũng không ít lần nói về cái khiếm khuyết của chính cuộc đời mình, và một trong những khiếm khuyết đó là không có vợ; do vậy ông khuyên thanh niên Việt Nam đừng nên học mình về điều đó. Nếu Hồ Chí Minh có vợ con thật thì ông không thể giấu được trong ngần ấy năm. Có thể có nhiều người con gái đem lòng yêu Hồ Chí Minh. Có như vậy là sự thường. Tình yêu thời trai trẻ, tại sao không? Một thanh niên thư sinh, đẹp trai, hào hoa, phong nhã, lại là con quan, con nhà gia giáo mà lại không có người con gái nào yêu mình, mới là sự lạ. Tôi đã đọc rất kỹ nhiều bài viết của một số người đề cập chuyện Hồ Chí Minh có vợ con. Tôi khẳng định rằng, lập luận và những chứng cớ của những bài viết đó nêu ra không có sức thuyết phục.

Đấy là chưa kể có những người cố tình xuyên tạc, thêu dệt ly kỳ mặt “tình ái” của Hồ Chí Minh với mục đích bôi xấu Người, cho rằng Hồ Chí Minh chính là người bội bạc; rằng không phải Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh đấu tranh giải phóng con người, đặc biệt là đấu tranh giải phóng phụ nữ, mà Hồ Chí Minh chỉ coi phụ nữ chỉ là đồ chơi; rằng, Hồ Chí Minh là con người nói dối, v.v. Tôi đồng ý với nhà văn Sơn Tùng khi đàm đạo với ông về chuyện này. Ông “lý sự” rằng, các ông Trường-Chinh, Phạm Văn Đồng nhà có mấy đời đội mũ cánh chuồn mà khâm phục cái tâm, cái đức của Hồ Chí Minh và được cảm hoá từ nhân cách Hồ Chí Minh thì không phải chuyện vừa; giả sử Hồ Chí Minh là người cứ lăng nhăng, lít nhít về chuyện tình ái thì các ông ấy cạch, không bao giờ đi theo Hồ Chí Minh. Cổ nhân trên thế giới đã nói: Rendez à César ce qui est à César (Hãy trả lại cho Xêda những cái gì thuộc về Xêda). Sự thật bao giờ cũng là sự thật.

Hồ Chí Minh dùng cả những mệnh đề Nho giáo mà người Việt Nam đã nghe quen. Người thường lẩy Kiều những khi có hoàn cảnh tương thích. Người viết về vấn đề gì đó thì thường hay đưa cho một số người gần đó xem, có khi đó là bác lái xe, chị cấp dưỡng, chú cảnh vệ, người làm vườn trong Phủ Chủ tịch, cũng có khi đưa cho đồng chí uỷ viên Bộ Chính trị này, uỷ viên Trung ương Đảng kia, ông bộ trưởng nọ, ông thứ trưởng kia, v.v. xem để góp ý sửa chữa, bổ sung. Và rồi khi nhận được ý kiến phản hồi thì Hồ Chí Minh không phải cứ là chỉ tiếp thu ý kiến của ông uỷ viên Bộ Chính trị, uỷ viên Trung ương Đảng, ông bộ trưởng, thứ trưởng hơn là tiếp thu ý kiến của bác lái xe, chị cấp dưỡng, chú cảnh vệ, người làm vườn. Ý kiến của ai thì Hồ Chí Minh cũng tôn trọng như nhau và nhiều khi Người còn tiếp thu nhiều ý kiến của người cán bộ thường, của người dân hơn là tiếp thu ý kiến của các cán bộ cấp cao hoặc những người có trình độ học vấn cao, vì ông tuân theo cái nguyên tắc đại chúng để đi vào lòng mọi người, hơn là chỉ đi vào được một số người.

Hồ Chí Minh ghét cái thói ba hoa, rỗng tuếch, làm ra vẻ cho oai, theo lối hình thức, ham chuộng hình thức, cái thói hữu danh vô thực, lên mặt dạy đời. Tuyên ngôn của ông là “2 lần 2 là 4, không tô vẽ trang hoàng gì cả”, và “đừng vẽ rắn thêm chân”, tức là hãy tôn trọng sự thật. Sự thật có khi trần trụi, có khi mất lòng người này, người khác, nhưng không thể khác được.

Ấy thế nhưng xem ra, tôi có cảm tưởng rằng, một số người khi viết về Hồ Chí Minh không theo lối đơn giản, dễ hiểu như chính bản thân con người, cuộc đời Hồ Chí Minh. Có không ít người nói và viết về Hồ Chí Minh cứ rối rối thế nào ấy. Chỗ này của Hồ Chí Minh lẽ ra chỉ là thế này, đơn giản như thế này thôi thì người ta lại cứ “phóng” lên, có khi rất đại ngôn. Xem ra không phải. Mà có khi lại hiện đại hoá, thái quá. Có khi lại mang dáng ra vẻ là triết học đây, trừu tượng hoá, điều đơn giản của Hồ Chí Minh phát biểu đấy, nhưng mà lại làm cho ra phức tạp, khó hiểu. Mà như vậy kết quả là chỉ làm cho người đọc đi đến chỗ hiểu sai mà thôi. Có tác giả, tác phẩm tư biện quá, hễ viết thì “nện” những câu, những đánh giá rất cao siêu, từ ngữ hoa lá cành sáo rỗng, rồi ra dáng trừu tượng triết học khó hiểu, thực ra làm cho người đọc hiểu sai về Hồ Chí Minh. Hiện đang có tình trạng lạm dụng khái niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh”, không ít người đã dùng “Hồ Chí Minh về…” nhiều quá.

Hiện nay, không ít người suy diễn về Hồ Chí Minh, trong đó, có cả sự lợi dụng để xuyên tạc, bôi xấu, hoặc lại sang một cực khác, quá đề cao mà thực ra không phải để cộng vào mà lại trừ đi của Hồ Chí Minh những điều mà Hồ Chí Minh đang có.

Ý dân và lòng dân thì đã phong thánh cho Hồ Chí Minh một cách tự nhiên rồi. Tỷ như ông Sơn Tùng đã viết trong tác phẩm Hoa râm bụt của mình (xuất bản nhiều lần, lần gần đây nhất là Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, 2007) ở bài “Một bài học làm người”, trang 388: các cụ đồ Nho năm 1947 ở quê ông Sơn Tùng (Diễn Châu, Nghệ An) luận về đôi mắt Cụ Hồ rằng, “Mắt Cụ Hồ là thiên nhãn, là lưỡng mục trùng đồng đích thị thánh nhân. Thánh nhân chứ không phải thánh thần”. Các cụ nói rằng, Thánh Gióng trong huyền thoại nhưng mang đầy đủ đức tính Con người. Con người hoàn thiện đều thành thánh. Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Đại Vương là bậc nhân tướng, văn võ song toàn, lúc sống ngài cứu nước hộ dân, khi thác ngài hiển thánh. Đó là đức Thánh Trần, là thánh nhân. Ngày nay, cụ Hồ là vị Thánh sống. Dân mình mới thấm thía hơn ai hết cái kiếp làm thân trâu ngựa, dân phong thánh cho người thực sự cứu nước, thương dân chứ đâu phải vua chúa! Vua chúa chỉ nhớ đến dân khi có giặc ngoại xâm, vua chúa thương dân thì ít thấy…

Tôi đồng ý với Sơn Tùng khi ông viết lại lời các cụ đồ Nho trên đây và lời cảm bình của chính bản thân ông. Đọc hồi ký của một số chính khách, một số nhà hoạt động xã hội ở nước ngoài, thấy có một số nhận định liên quan đến Hồ Chí Minh về mặt này. Nhưng, giữa vấn đề dân phong thánh cho Hồ Chí Minh hoặc một số người cho là Hồ Chí Minh là ông thánh với vấn đề trong nghiên cứu tránh việc thần thánh hoá Hồ Chí Minh là hai chuyện khác nhau.

Thường thì ở đời, ngợi ca thì dễ, chê bai thì khó. Khen đúng, chê đúng mới là điều cần làm. Khi đã thiên lệch, thì có khi người ta khen hết lời, dùng những tính từ đẹp nhất, dùng đại ngôn để gán cho một người nào đó mà muốn khen. Cũng có khi thiên lệch thì lúc chê, người ta chê hết lời, bôi đen, nói xấu từ đầu tới chân. Sự thật là tiêu chuẩn cao nhất mà nhà khoa học phải tôn trọng. Trình bày đúng sự thật như con người Hồ Chí Minh vốn có thì không dễ dàng một chút nào. Trong việc này, tôi không bàn đến người nghiên cứu có trong tay số lượng và chất lượng các tài liệu cần thiết, là bột để “gột nên hồ”, tuy rằng điều này là thực sự cần thiết mà thiếu nó thì nhà khoa học không thể dựng lại được một bức tranh toàn cảnh đúng như nó có. Cái phần quan trọng không kém là nhà khoa học không được tô hồng hay bôi đen sự thật. Đây chính là tư cách đích thực của nhà khoa học mà nếu vi phạm thì người đó không còn là nhà khoa học nữa.

Bản chất của cả hai khuynh hướng tô hồng hay bôi đen chỉ là một: đó là sự bóp méo, sự làm sai lệch sự thật lịch sử. Hồ Chí Minh đi vào đời sống tâm linh của nhân dân Việt Nam là bởi cái nhân, cái nghĩa, cái trí, cái dũng, cái tín của Người đã cảm hoá được ý thức văn hoá đa thần của nhiều người Việt Nam. Người ta tôn thờ Hồ Chí Minh, thắp hương trên bàn thờ, treo ảnh Hồ Chí Minh để thờ, lập đền thờ…là lẽ tự nhiên của tâm linh, của thái độ ứng xử của người Việt đối với Hồ Chí Minh. Đó là “văn hoá đền”, văn hoá tâm linh. Đó là sự tự cảm từ mỗi con tim mỗi người, là ý thức cộng đồng với những người đã khuất, mong người đã khuất đi theo chở che những người đang sống.

Hồ Chí Minh đi vào lòng người dân không thần bí, không huyền thoại, tuy rằng, nhiều câu chuyện kể về Người có vẻ đượm màu huyền thoại. Hồ Chí Minh hiện hữu như một nhân vật cùng với hiện tại, khi mà con người ta sống, để người ta cầu mong và hành động như Người, vì những điều thánh thiện.

Trong nghiên cứu Hồ Chí Minh, điều thích hợp hơn cả là tuân thủ nguyên tắc lịch sử – cụ thể, là xem xét một cách toàn diện các mối liên hệ lịch sử cơ bản. Phải xem xét Hồ Chí Minh trong một chỗ đứng cụ thể và sự phát triển của các quan điểm của Người ra sao. Có người nói với tôi rằng, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ nghiên cứu những hệ thống quan điểm của chính bản thân Hồ Chí Minh mà còn nghiên cứu thông qua cả những quan điểm các học trò của ông: Trường-Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, v.v. giống như đối với học thuyết của Khổng Tử thì không chỉ phát tiết từ Khổng Tử mà còn thông qua các học trò của Khổng Tử. Tôi thì chưa chắc lắm có đồng ý hay không với ý kiến đó, nhưng có một điều chắc chắn là Hồ Chí Minh là một thực thể trong một hoàn cảnh lịch sử cụ thể nhất định. Hồ Chí Minh bị thực tế lịch sử chế định, và chính bản thân Hồ Chí Minh cũng chế định lại lịch sử. Đúng là nhân vô thập toàn. Bởi vì Hồ Chí Minh  quan niệm: người đời ai cũng có khuyết điểm cả, không nhiều thì ít, không lớn thì bé; trừ khi người ta nằm trong bụng mẹ và cái lúc người ta nằm trong quan tài, còn lại trong cuộc đời mọi người đều có khuyết điểm.

Trong nhiều bài viết về Hồ Chí Minh, tôi thấy nhiều người đã dùng những từ sau đây để đánh giá Hồ Chí Minh: thiên tài, vĩ đại, lỗi lạc, kiệt xuất. Có lẽ bốn “cặp” này là đã đánh giá Hồ Chí Minh ở vào vị trí tột đỉnh rồi, không có từ nào có thể hơn. Tôi không cho đó là “thần thánh hoá”. Đánh giá như vậy, xét về mặt nào đó, là không sai. Thần thánh là những “nhân vật” không có thực, nếu có thì từ con người có thực nào đó, người ta đã làm cho linh thiêng con người đó lên (tâm linh hoá), con người đã khái quát, trừu tượng hoá theo cảm nhận riêng. Nếu thần thánh hoá Hồ Chí Minh trong nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp của ông thì rất dễ biến những lời nói, những quan điểm của ông thành những công thức định sẵn, xơ cứng, như giáo lý nào đấy – điều mà Hồ Chí Minh rất kỵ và đã không ít lần nhắc nhở là: đối với bất kỳ điều gì, của ai, của nước nào, cũng phải sáng tạo, phát triển, vận dụng cho phù hợp với từng lúc, từng nơi. Thần thánh hoá là lối nghiên cứu dễ dãi nhất và dẫn đến sai lầm lớn nhất.

Cái điều mà nhiều người đã viết Hồ Chí Minh là vĩ đại, là thiên tài, là lỗi lạc, là kiệt xuất hoá ra nhiều khi lại biểu đạt trong những hành động rất bình dị nhưng cũng đầy cảm động mà Người đã làm. Đó là cử chỉ đi dém chăn cho bộ đội ngoài mặt trận để bộ đội có giấc ngủ ngon trong đêm đông. Đó là nỗi nhớ thương của Hồ Chí Minh đối với đoàn dân công đêm phải ngủ ngoài rừng. Đó là những bữa nhịn ăn để dành gạo cứu những người đang đói khi nước nhà mới giành được độc lập. Đó là những bức thư chia buồn, động viên, những buổi Người đi thăm các thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với nước. Đó là những buổi Người lội ruộng cấy lúa bằng máy cấy thí nghiệm, những buổi Người tát nước gầu dai, đạp nước gầu guồng chống hạn. Đó là những buổi Hồ Chí Minh cùng bà con ngư dân Thanh Hoá kéo rùng đánh cá nhân dịp Người đi nghỉ ở biển Sầm Sơn. Đó là những buổi Hồ Chí Minh lội ruộng thăm bà con nông dân, lấy gang tay ước đo rễ cây lúa. Đó là những buổi Hồ Chí Minh trầm ngâm làm thơ khi trăng vào cửa sổ. Đó là hình ảnh Người cầm bó hoa hoặc một bông hoa tặng cho cháu gái và cho khách nước ngoài. Đó là hình ảnh Hồ Chí Minh chẻ củi, hình ảnh Người vác cuốc đi tăng gia sản xuất. Đó là hình ảnh Hồ Chí Minh đang gõ máy chữ tuôn ra những dòng chữ phục vụ cho quốc kế dân sinh. Đó là dáng Hồ Chí Minh cưỡi ngựa thoăn thoắt đi công tác ở chiến khu Việt Bắc. Đó là hình ảnh Hồ Chí Minh đi bài quyền giản lược, những buổi Người tập võ thuật cùng anh em cảnh vệ. Đó là những buổi Hồ Chí Minh đánh bóng chuyền với anh em cơ quan, mà anh em hay đùa bằng cách cứ được bóng là bỏ nhỏ tới vị trí Hồ Chí Minh đang đứng. Đó là hình dáng Hồ Chí Minh lịch thiệp, hào hoa, nhanh nhẹn “vít cổ” những người bạn nước ngoài để ôm hôn thắm thiết. Đó là lần Hồ Chí Minh cầm gậy chỉ bản đồ chiến sự. Đó là dáng hạc của Hồ Chí Minh đích thân đi Chiến dịch Biên Giới năm 1950. Đó là ánh mắt bừng sáng của Hồ Chí Minh khi tiếp các cháu thiếu niên, nhi đồng. Đó là dáng Hồ Chí Minh “nhạc trưởng” hiền hoà cầm đũa chỉ huy dàn nhạc bài “Kết đoàn” ở vườn Bách thảo (Hà Nội) năm 1960. Đó là hình Hồ Chí Minh ngồi khoan thai, đĩnh đạc chủ trì cuộc họp của Bộ Chính trị. Đó là tiếng nói ấm, vang như tiếng chuông của Hồ Chí Minh khi đọc lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Đó là cái nheo mắt nhìn về phương nam xa xôi, là nỗi suy tư, trăn trở của Hồ Chí Minh về miền Nam, Người tự nhận mình là người chưa làm tròn nhiệm vụ đối với đồng bào miền Nam, “đi đến nơi nhưng về chưa đến chốn”. Đó là niềm rạng rỡ trong ánh mắt, nét mặt của Hồ Chí Minh khi nhận được tin chiến thắng miền Nam.

Tôi cảm thấy rằng, viết về Hồ Chí Minh cũng dễ mà cũng khó. Dễ là bởi vì những điều Hồ Chí Minh sống và làm việc, những điều Hồ Chí Minh nói và viết là những lời lẽ của bình dân. Khó là bởi vì, cuộc đời Hồ Chí Minh chính là phản ánh những điều cao cả qua những cái bình dị. Hồ Chí Minh như mọi người chúng ta mà thôi, nhưng cũng khác chúng ta bởi vì Người làm được tất cả những điều bình dị mà cao cả ấy một cách tự nhiên, hầu như dễ dàng như hít thở khí trời, như sinh ra là để làm những điều như vậy. Hồ Chí Minh là con người bằng xương bằng thịt ở ngay trước mắt chúng ta, ở trong tâm khảm của mỗi người Việt Nam yêu nước, chứ không phải là điều tưởng tượng, không phải thánh thần quanh quất đâu đây.

Một số người nước ngoài, trong đó có cả nhà khoa học và nhà bình luận chính trị, không hiểu được hết tấm lòng người dân Việt Nam yêu nước đối với Hồ Chí Minh. Do đó, trong một số bài viết, trong một số sách của họ viết về Việt Nam, viết về Hồ Chí Minh, có lúc họ thiên về cái ý là ở Việt Nam có sùng bái cá nhân Hồ Chí Minh. Đối với Hồ Chí Minh ở Việt Nam, không có sự sùng bái cá nhân, không có sự “thúc ép” của bất kỳ tổ chức nào, mà sự thôi thúc của bao con tim, khối óc của các tầng lớp nhân dân. Tấm lòng của nhân dân Việt Nam đối với Hồ Chí Minh đã được thử thách qua bao nhiêu năm tháng của cuộc đời.

Cuộc đời Hồ Chí Minh là một mảng lịch sử của dân tộc và của nhân loại. Đó là ý của Nêru (Ấn Độ). Do vậy, hiểu đúng về Hồ Chí Minh cũng tức là nhận chân về lịch sử của dân tộc và nhân loại.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: