Chương 3: TRIẾT LÝ PHÁT TRIỂN QUA CUỘC SỐNG/Sách: Hồ Chí Minh – con người của sự sống

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

Về triết lý phát triển thì quả là còn nhiều điều đáng bàn. Có thể coi rằng, triết lý là lý luận về triết học, tức là quan niệm về con người, về những vấn đề nhân sinh và xã hội. Còn phát triển là làm cho sự vật lớn lên theo chiều tốt đẹp.

Tôi đồng cảm với ý kiến của ông Thành Duy khi bàn về triết lý phát triển Hồ Chí Minh khi ông cho rằng: “Triết lý phát triển của Hồ Chí Minh là triết lý phát triển xuất phát từ cách tiếp cận với văn hóa học, đặc biệt là văn hóa đạo đức và chủ nghĩa nhân văn”[1].

Quan niệm của tôi về triết lý phát triển Hồ Chí Minh là triết lý phát triển qua cuộc sống của chính ông. Đó là lý luận và thực tiễn trong cuộc đời Hồ Chí Minh về sự biến đổi các vấn đề nhân sinh và xã hội theo chiều hướng tốt đẹp. Triết lý phát triển Hồ Chí Minh thể hiện qua ngôn ngữ (nói và viết) và nhất là qua hành động trong cuộc sống của ông. Chính đó là triết lý phát triển qua cuộc sống. Theo đó, tôi lần theo một số khía cạnh, chỉ một số khía cạnh thôi, để cảm nhận về vấn đề này ở Hồ Chí Minh. Sự cảm nhận đó không chỉ một lần là xong, và không phải sự cảm nhận của ai ai cũng giống nhau. Sự cảm nhận đó đúng hay sai, nông hay sâu, đậm hay lạt, là do cái tâm thế và cái trí của từng người. Nói thế để thấy rằng, người đọc đừng vội cho điều này là đúng, điều kia là sai một cách dễ dàng.

Lại có người bày tỏ quan điểm rằng, tiếp cận sự phát triển phải là từ pháp trị, chứ không theo đức trị; rằng, cái mà theo đức thì xã hội đâu có phát triển, phải theo pháp thì xã hội, cả cổ – kim, đông – tây, mới phát triển được.

Nhưng tôi thấy, pháp ở đây do con người làm ra, con người tự quy ước với nhau để hành xử ở đời. Vì vậy, khi nói tới pháp (đúng đắn) thì đã có yếu tố đức rồi. Ngược lại, khi nói tới hành đức (chân chính) thì đã bao hàm cả chấp pháp rồi. Bảo rằng, pháp là duy lý, đúng như vậy. Bảo rằng, đức là duy tình (tâm), không sai. Nhưng, có thật 100% vậy không? Nói vậy nhưng đâu phải vậy. Vấn đề này chắc vẫn còn để ngỏ cho sự luận bàn dài dài chứ chưa có hồi kết.

I. Đạo đức – gốc của cây, nguồn của sông

Trước hết, tôi muốn quy ước rằng, “đạo đức” của Hồ Chí Minh đề cập ở đây là đạo đức mới, có ý nó khác đạo đức cũ, mà Hồ Chí Minh so sánh đạo đức cũ như là con người đầu chạm xuống đất hai chân chổng lên trời. Có khi Hồ Chí Minh gọi đạo đức mới là “đạo đức cách mạng”.

Trong một số lần đến với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng núi phía bắc, khi thử làm một cái điều tra nho nhỏ, tôi có đ­ưa ra một số bức ảnh lãnh tụ cách mạng cho đồng bào xem thì đồng bào nói là không biết ai trong ảnh cả. Nhưng, khi đư­­a ra bức ảnh Hồ Chí Minh thì hầu như tất cả bà con đều biết đó là ảnh Bác Hồ.

Cũng t­ương tự như­­ vậy, tôi dùng ph­­ương pháp đó ở vài nhà mẫu giáo ở Hà Nội (năm 2007) thì hầu hết các cháu 5 tuổi đều biết là ảnh Bác Hồ. Tôi nghiệm ra rằng, đó là một hiện tư­ợng văn hoá thật độc đáo. Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hoá của dân tộc Việt Nam, mà đã trở thành như vậy thì có sức lan toả, thẩm thấu tự nhiên vào trong dòng chảy bất tận của cuộc sống con người, từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Vấn đề đạo đức cách mạng, theo quan niệm của Hồ Chí Minh, là lĩnh vực nhạy cảm của văn hoá và đồng thời là cái gốc của sự phát triển. Từ trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh, nhất là từ trong cuộc sống thường nhật của con người ông, toát lên điều đó. Hình như đó là cái triết lý sống của ông và cũng có thể gọi đó là triết lý phát triển mà Hồ Chí Minh đưa ra cho mọi người, mọi dân tộc, mọi cộng đồng dân cư và cho mọi thời đại.

Trong xã hội hiện đại, luật pháp ngày càng đầy đủ hơn, chặt chẽ hơn, nhưng điều tiết mọi hành vi thì đâu chỉ có luật pháp. Hồ Chí Minh bao giờ cũng chú ý cả “đức trị” và “pháp trị”, xử lý mọi công việc phải vừa có lý, vừa có tình, ngay cả trong việc căn dặn hậu thế giải quyết sự bất đồng trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, khôi phục tình đoàn kết giữa các đảng cộng sản anh em, ông cũng nhắc tới điều đó. Để thực thực hiện tốt luật pháp hay để làm tốt bất kỳ việc gì đi chăng nữa thì trước hết vẫn cần cái đức.

Viết như thế có quá lời? Không quá đâu, tôi nghĩ thế. Con người Hồ Chí Minh, cuộc sống và toàn bộ đạo đức của Hồ Chí Minh là sự biểu hiện tự nhiên, không gượng ép, không sắp đặt, của những điều thánh thiện, hướng thiện, quy thiện, tôn lên cái đẹp của con người, bồi đắp cho những người có lương tri luôn luôn khát khao vươn tới cái tự do thuần khiết trong cái chế định của vũ trụ.

Lạ thay, chúng ta tìm thấy trong Hồ Chí Minh cái đẹp của Thiên chúa giáo, rồi cả cái thiền mỹ của Phật giáo, cái hoà đồng vũ trụ vĩnh hằng của Lão giáo, những viên ngọc của các học thuyết, của các luồng tư tưởng, v.v. Nhưng, con người ông không phải là con số cộng của những cái đó mà là sự tổng hoà, nó kết đúc, chung đúc tất cả lại thành một, thành cái riêng mang tên Hồ Chí Minh.

Điểm trội của Hồ Chí Minh so với nhiều danh nhân khác là toàn bộ cuộc đời của ông là pho sách lớn về đạo đức. Sức mạnh của đạo đức đã lan toả, thẩm thấu, trở thành giá trị văn hoá vĩnh hằng trong các thế hệ ngư­­ời Việt Nam.

Ông thấy rõ vai trò to lớn của đạo đức khi nhìn nhận về V.I. Lênin. Năm 1924, khi V.I. Lênin qua đời, Hồ Chí Minh viết trong một bài báo ở tờ Le Paria (Người cùng khổ), số 27 (7-1924) nh­­ư sau: “Không phải chỉ thiên tài của Ngư­­ời, mà chính là tính coi khinh sự sa hoa, tinh thần yêu lao động, đời t­ư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của ngư­­ời thầy, đã ảnh h­ưởng lớn lao tới các dân tộc châu Ávà đã khiến cho trái tim của họ hư­­ớng về Ng­ười, không gì ngăn cản nổi”[2].

31 năm sau, tức là ngày 13-7-1955, Hồ Chí Minh và Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang thăm Liên Xô, đến thăm nơi làm việc của V.I. Lênin trong Điện Cremli (Mátxcơva). Tại đây, Hồ Chí Minh ghi vào sổ cảm t­­ưởng của Nhà lưu niệm: “Lênin, người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản. Cũng là một vị đạo đức rất cao, dạy chúng ta phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính. Tinh thần Lênin muôn đời bất diệt”[3].

Đạo đức là một giá trị văn hoá tự nó có sức sống vô cùng mạnh mẽ và có sức lan toả vô biên.

Đã từ lâu, Hồ Chí Minh đ­­ược lòng dân Việt Nam tôn vinh là lãnh tụ, ng­ười anh hùng dân tộc vĩ đại, là Bác Hồ kính yêu, được như vậy là bởi vì trư­­ớc hết là từ đạo đức của ông. Ng­ười Việt Nam đã thờ thần trong ý thức tâm linh. Nhưng người Việt Nam còn thờ cả những danh nhân, thờ cả những người có đức, có nghĩa (chẳng hạn thờ cả Quan Vân Trường là nhân vật tiết nghĩa trong truyện Tam quốc chí của Trung Quốc). Hồ Chí Minh được nhiều gia đình Việt Nam thờ ở bàn thờ tổ tiên trước hết là ở cái đức của ông.

Đạo đức cách mạng trong sáng của Hồ Chí Minh đã in đậm vào non sông đất nước Việt Nam, trở thành một giá trị văn hoá vĩnh hằng của dân tộc và là một cái gen truyền vào tinh thần của xã hội, kể cả từ khi ông đã ra đi “gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác” đúng cái thời khắc lịch sử ngày 2-9-1969.

Nói đến đạo đức là nói đến thành tố ý thức đạo đức, hành vi đạo đức, quan hệ đạo đức, hệ thống thiết chế truyền bá và giáo dục đạo đức, v.v.

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức ngư­­ời cách mạng như là cái gốc của cây, nguồn của sông. Trong rất nhiều lần nói và viết về điều này, Hồ Chí Minh cho rằng: “Cũng như­­ sông thì có nguồn mới có n­ước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Ngư­­ời cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo đư­­ợc nhân dân. Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài ngư­­ời là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hoá, xấu xa thì còn làm nổi việc gì ?”[4].

Khi bàn về đạo đức học, một số người cho rằng, đạo đức và chính trị không dung hợp được với nhau, vì đạo đức liên quan đến các giá trị tuyệt đối, trong khi đó chính trị lại gắn với việc sử dụng các phương tiện để thực hiện mục tiêu.

Một số người khác thì cho rằng, đạo đức và chính trị dung hợp được với nhau, trong đó có cả khía cạnh tích cực, làm cho ảnh hưởng của đạo đức đến các hoạt động chính trị ngày càng lớn. Trong các quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức, tôi thiên về loại ý kiến này khi lý giải, phân tích sự phát triển của con người, của xã hội xuyên qua cái trục đạo đức. Bởi vì, đạo đức không thể nào dung hợp được với chính trị khi chính trị là một nền chính trị thối nát, khi chính trị đã sử dụng các biện pháp cực đoan, phi đạo đức… Xét về bản chất chính trị-xã hội, một nền chính trị xã hội chủ nghĩa chính là một sự dung hợp được cả hai: chính trị và đạo đức. Toàn bộ hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức là nằm trên cái nền đó. Chính vì vậy, đạo đức cách mạng, theo Hồ Chí Minh, chính là sự phát triển, và chính đó là văn hoá.

Hồ Chí Minh coi trọng cả đức và tài trong một con ngư­­ời, nhưng xét về thứ tự ư­u tiên thì ông vẫn cho đức là cơ bản hơn cả. Ông “diễn nôm” rằng, có tài mà không có đức thì tài ấy chẳng dùng làm gì; có đức mà không có tài thì như­­ ông bụt ngồi đấy chẳng hại ai nhưng cũng chẳng có ích gì. Đây là quan điểm cơ bản, có ý nghĩa thời sự hiện nay.

Đã không có ít ng­ười cho rằng, bây giờ chỉ cần có tài, có tài thì quẳng đâu cũng sống đ­ược, do vậy làm ăn kinh tế không cần đạo đức. ý kiến đó là sai lầm vì đã tách văn hoá ra khỏi kinh tế và như­­ vậy, con đư­ờng làm ăn kinh tế rất dễ đi vào ngõ cụt. Mọi sự phát triển đều dựa trên một cái nền văn hoá. Kể cả trong kinh tế thị trường, không có đạo đức làm căn bản thì chỉ có chụp giật mà thôi, dù cho đã có luật chơi, mà thậm chí đó là luật chơi chung của thế giới. Thế giới càng phát triển nhanh thì người ta càng báo động mạnh hơn về tính bền vững của sự phát triển, về sự mất đi cái tính văn hoá, về sự phai nhạt dần cốt cách của từng dân tộc, về sự tha hoá của chính bản thân con người.

Đối với người cách mạng, Hồ Chí Minh quan niệm rằng: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nh­ưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi đư­­ợc xa. Ngư­­ời cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành đư­­ợc nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”[5].

Trong năm cuối đời, năm 1969, Hồ Chí Minh còn viết bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đúng dịp kỷ niệm thành lập Đảng để giáo dục cán bộ, đảng viên. Và trong bản Tài liệu bí mật (Di chúc), Hồ Chí Minh viết: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư­­. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là ngư­ời lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân… Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những ngư­ời thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên””[6].

Có thể nói rằng, hầu nh­ư ở đâu và lúc nào Hồ Chí Minh cũng nói hoặc viết, và nhất là làm, có liên quan đến vấn đề đạo đức. Đó là nếp sống văn hoá thư­­ờng nhật của Hồ Chí Minh. Khi cho đạo đức là cái gốc của cây, cái ngọn nguồn của con sông, cái căn bản của ng­­ười cách mạng, Hồ Chí Minh đã trở thành một trong những ng­ười đi tiên phong của cuộc cách mạng về đạo đức và chính ông trở thành một chiến sĩ văn hoá trong hiện thực cuộc sống.

Hồ Chí Minh trình bày vấn đề đạo đức một cách không kinh viện. Ông không phải là ng­­ười chuyên ngồi viết sách lý luận về đạo đức mà cả cuộc đời của ông là một pho sách lớn về lý luận đạo đức. Ngư­­ời ta gọi đó là hành vi “thân giáo”. Tìm những vấn đề lý luận văn hoá đạo đức của Hồ Chí Minh không chỉ ở trong các bài nói, bài viết mà ông để lại, tuy cái đó rất quan trọng nh­ưng ch­­ưa đủ, mà còn phải tìm trong cách đối nhân xử thế, trong cách ăn, ở…và nói chung là trong cuộc sống hằng ngày của ông. Bậc vĩ nhân Hồ Chí Minh là như­­ vậy. Và, đó là điều đặc biệt của Hồ Chí Minh  điểm riêng có của ông so với nhiều bậc vĩ nhân khác trên thế giới.

Hồ Chí Minh xem xét vấn đề đạo đức tới mọi đối t­­ượng, mà chung nhất là đạo đức công dân và đặc biệt nhấn mạnh đạo đức của cán bộ, đảng viên. Ở Hồ Chí Minh, tôi thấy cả những hành vi ứng xử văn hoá-đạo đức đối với mọi người, từ công nhân, nông dân, trí thức, lực lượng vũ trang, phụ nữ, phụ lão, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, mà đối xử với người này, tầng lớp này, giới này không giống với người kia, tầng lớp kia, giới kia, nó thật uyển chuyển, tinh tế. Xem những bức ảnh, xem những thước phim tài liệu Hồ Chí Minh lội ruộng thăm bà con nông dân, cầm nhánh lúa hoặc sử dụng máy cấy, tát nước gầu dai, đạp nước gầu guồng; những bức ảnh ông kéo rùng ở Sầm Sơn (Thanh Hoá), những bức ảnh ông đứng nói chuyện với văn nghệ sĩ, giáo viên, các nhà khoa học, v.v. thấy ông hoà đồng với mọi người nhưng vẫn lộ ra cái dáng vẻ của một nhà Nho thư thái, đúng như thế chứ không ra dáng một lãnh tụ, một ông “quan”.

Tôi khẳng định rằng, ở Việt Nam, Hồ Chí Minh là ng­ười đầu tiên đề cập đạo đức công dân trong chế độ mới, trong đó gắn với nghĩa vụ của công dân đóng thuế “đúng số và đúng kỳ”, mà vấn đề đóng thuế, ở rất nhiều nước trên thế giới, người ta coi đó là vấn đề đạo đức, nhưng ở Việt Nam thì cho đến nay thì chưa đến mức được như vậy. Đề cập cán bộ, đảng viên tức là Hồ Chí Minh đã tác động đúng vào khâu “trọng điểm”, “trung tâm” của xã hội vì trong giai đoạn Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, chính họ là những ng­ười tiên phong trong các phong trào cách mạng, điều mà Hồ Chí Minh coi họ là cái gốc của mọi công việc,­­ là giây chuyền của bộ máy. Điều đó cắt nghĩa tại sao, trong “hàm lượng” Hồ Chí Minh nói, viết về đạo đức thì ông dành nhiều nhất cho cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phạm vi đạo đức mà Hồ Chí Minh đề cập từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng. Phạm vi hẹp mà ông đề cập là trong gia đình, bạn bè, với những ngư­­ời xung quanh, còn phạm vi rộng là quốc gia, quốc tế.

Nói đến đạo đức, một vấn đề không thể không đề cập là các mối quan hệ của con ng­ười. Con người ta có vô vàn các mối quan hệ, nó chồng chéo, phong phú và không kém phần phức tạp. Một con người trong xã hội có thể đóng 1001 “vai” trong một ngày, không thể có một mối quan hệ cố định, chúng không bất biến theo thời gian. Ở trong gia đình, các thành viên phải làm tròn trách nhiệm, vị trí của một thành viên trong gia đình. Mà quan hệ gia đình nhiều lúc đâu có suôn sẻ, nó không kém phần phức tạp. Quan hệ vợ chồng, đó vốn là mối quan hệ hai nửa của nhau, ấy thế mà “bát đĩa” nhiều lúc va nhau và có lúc sứt mẻ. Người Việt Nam đã có tổng kết rồi: lúc cơm đang sôi thì rút bớt củi ra, đừng nhè lúc ấy lại tống thêm củi vào (hiện nay, nhiều nơi, nhất là thành thị, lớp trẻ chỉ thấy nấu cơm bằng nồi cơm điện).

Sự vươn lên theo cái chiều thuận vẫn là một yêu cầu không đơn giản, nhất là trong cái gia đình thời hiện đại. Vẫn đang có sự phấn đấu “Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”, hay tình cảm vợ-chồng trong thời đói kém:

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

Trong sung túc, no đủ, ăn của ngon mà không thuận nghĩa vợ chồng thì vẫn cứ lục đục và thức ăn có ngon đến mấy cũng không thể “Gật đầu khen ngon” được.

Trong gia đình, cũng phải xử lý mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái. Mối quan hệ giữa cha mẹ với con cái có phải là mối quan hệ bạn bè không? Trên báo Tiền phong một thời cũng đã mở chuyên mục diễn đàn về vấn đề này. Về một mặt nào đó, không nhiều, thì đúng là có mối quan hệ bạn bè, nhưng nhìn chung cả ở Việt Nam và cả ở thế giới nói chung thì cha mẹ ra cha mẹ, con cái ra con cái, không thể đánh đồng được.

Để xem cái nếp nhà nào đó có “gia giáo” hay không thì đây là một tiêu chí để xem. Người phụ nữ trong gia đình còn phải đảm nhận thiên chức làm vợ, làm mẹ, nhưng khó hơn cả là làm con dâu, nhất là ở chung trong một căn hộ ba thế hệ (Hồ Chí Minh đã có lúc đề cập giải quyết mối quan hệ này). Một đại tá sư đoàn trưởng có thể chỉ huy sư đoàn của mình rất tài ba, nhưng có khi lại vô cùng lúng túng và có khi xử lý rất vụng về khi gặp phải trường hợp vợ mình và mẹ mình mâu thuẫn với nhau trong cuộc sống vì những việc chẳng đâu vào đâu cả.

Trong quan hệ với cộng đồng dân cư, với láng giềng, con người ta phải xử lý mối quan hệ đúng mực. “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” là cái phương châm xử thế ở đời không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, nhất là khi có những thử thách về lợi ích vật chất, dù lợi ích đó chỉ là một phần rất nhỏ trong cái toàn cục. Làm nhà chẳng hạn, chạm với nhau một ly giáp ranh mà không xử lý tốt thì có khi quanh năm chan hoà nhưng cãi nhau “mất mặt” ngay, thậm chí đổ máu. Cứ động đến tài sản, chẳng hạn quyền thừa kế, có khi con kiện cha, cha kiện con ra tòa án như thường.

Đến công sở, con người ta phải giải quyết mối quan hệ giữa người lãnh đạo, quản lý với nhân viên dưới quyền, mối quan hệ giữa người đồng nghiệp, những người cùng trong một tập thể đơn vị. Mà cái trục quan hệ là “người với người”, tức là cái chuẩn cơ bản nhất, trước khi nói đến cái chuẩn khác. Phải tôn trọng nhau. Nếu người thủ trưởng, dù có cương vị công tác cao hơn, mà xúc phạm đến nhân phẩm của một nhân viên cấp dưới thì mọi mối quan hệ khác sẽ bị hỏng. Người thủ trưởng nào hách dịch, cửa quyền, không tôn trọng nhân phẩm của cấp dưới thì có khi gần cuối đời làm việc chắc chắn sẽ dễ bị nhân viên xa lánh, nhất là khi về nghỉ hưu sẽ lâm vào tình trạng “ngôi sao cô đơn”.

Tiền bạc lúc nhiều lúc ít, lúc có lúc không. Chức quyền lúc có lúc không, và rồi thế nào cũng không còn, vì ai ai rồi cũng đến tuổi nghỉ hưu. Đó là cái luật của tạo hoá. Nhưng, cái còn lại vĩnh viễn là tình người.

Hồ Chí Minh bắt đầu viết Di chúc từ năm 1965. Hàng năm, cứ đến dịp tháng 5, ông lại đem những trang viết ấy ra sửa chữa, bổ sung, năm nhiều, năm ít. Nhưng, không phải ngẫu nhiên mà duy chỉ có năm 1967, Hồ Chí Minh bổ sung đúng một câu: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

Sống trong một xã hội, con người ta cũng phải ứng xử cho phù hợp với chuẩn tắc, đó là Hiến pháp, pháp luật và đó là những chuẩn thiết chế chính trị, xã hội khác của cộng đồng dân cư. Đạo đức gắn với pháp luật là ở chỗ đó, cái lý gắn với cái tình cũng là ở chỗ đó.

Hồ Chí Minh quy tất cả các mối quan hệ phong phú, đan chéo không kém phần phức tạp ấy vào ba mối quan hệ chủ yếu:

– Đối với ng­­ười,

– Đối với việc,

– Đối với mình.

Thực ra, trong ba mối quan hệ đó, tất cả đều là quan hệ con ng­ười. Có thể nói một cách tổng quát là: đạo đức là ứng xử các mối quan hệ giữa người với ng­ười, trong đó có mối quan hệ đặc biệt là tự mình đối với bản thân mình. Nếu tự mình xử lý không đúng, không tốt đối với bản thân mình thì các mối quan hệ khác sẽ không thực hiện tốt đư­ợc. Tự mình bị tha hoá thì các mối quan hệ khác đều bị phá vỡ. Tôi sẽ viết rõ hơn vấn đề này ở những mục sau.

Điều này đặc biệt thấy rõ trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay, khi vấn đề lợi ích đặt ra cho tất cả mọi ngư­­ời. Một cán bộ hải quan ở cửa khẩu chẳng hạn, sẽ tự mình xử lý nh­ư thế nào khi chủ xe hàng lậu hối lộ? Sức cám dỗ về tiền bạc, vật chất cũng như­­ của nhiều thứ khác, kể cả quyền lực, v.v. nguy hiểm có khi hơn cả ma tuý, chúng luôn luôn chứa đựng tiềm ẩn những yếu tố phá vỡ các nguyên tắc, đạo đức của con ng­­ười, làm rối loạn các chuẩn mực đạo đức, những thuần phong mỹ tục.

Tất cả các học thuyết và tư tưởng đạo đức thuộc nhiều luồng triết học và tôn giáo khác nhau đều rất nhạy cảm với vấn đề chủ nghĩa nhân đạo. Nội dung chủ yếu nhất thuộc giá trị của chủ nghĩa nhân đạo thường là: cuộc sống nói chung của con người, trong đó có các quyền con người. Do vậy, có thể nói rằng, chủ nghĩa nhân đạo là bản chất của mọi hệ thống tư tưởng đạo đức.

Nhưng, chủ nghĩa nhân đạo luôn luôn ở vào trạng thái vận động và phát triển, mỗi thời kỳ nó lại được bổ sung định hình những nội dung mới. Chủ nghĩa nhân đạo và chính trị có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Chính vì thế, các giá trị chính trị, chẳng hạn như tự do, dân chủ, công bằng xã hội, nhà nước pháp quyền, sự tham gia của con người vào đời sống chính trị của mỗi quốc gia-dân tộc, vào đời sống chính trị thế giới…lại bao hàm trong đó những giá trị của chủ nghĩa nhân đạo.

Con người chính trị của Hồ Chí Minh gắn với đạo đức cách mạng và chủ nghĩa nhân đạo mà ông theo. Bản chất của đạo đức Hồ Chí Minh chính là chủ nghĩa nhân đạo truyền thống của dân tộc kết hợp và tiếp nối với chủ nghĩa nhân đạo hiện đại tiến bộ. Đó là bản chất thể hiện đậm nét truyền thống nhân ái, thể hiện tính chiến đấu không khoan như­­ợng với cái xấu, cái ác, hướng con người tới cái thiện, cái tốt, cái đúng.

Đây chính là “đạo đức mới” mà Hồ Chí Minh hay đề cập, ông không phủ định sạch trơn đạo đức cũ nhưng bản chất hoàn toàn mới, tiến bộ, có khi ông còn m­­ượn cái vỏ quen thuộc của văn hoá đạo đức cũ để lồng vào nội dung đạo đức cách mạng. Đã có lần, Hồ Chí Minh giải thích, so sánh về “đạo đức mới” và đạo đức cũ”, cho rằng đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, hai chân chổng lên trời.

Đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện đặc tr­ưng bằng sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, nghĩa là ông kết hợp giữa nói và làm, và nhiều khi làm nhiều hơn nói. Ở trong tư­­ duy của Hồ Chí Minh, “học” luôn luôn phải gắn với “hành”, lý luận phải đi liền với thực tiễn, nói đi đôi với làm như những cặp chỉnh thể mà thiếu một vế thì điều đó sẽ trở thành vô nghĩa.

Cũng có thể như vậy mà có lúc Hồ Chí Minh đã lệch đến chỗ đưa ra chủ trương và lời khuyên như thế này chăng: người làm việc trong cơ quan thì một buổi làm việc, một buổi tham gia lao động sản xuất (lao động chân tay); hoặc đối với trường vừa học vừa làm thì “làm” ở đây lại là lao động sản xuất giản đơn chứ không phải là làm những công việc thực hành gắn với lý thuyết của các bài học.

Trong tài liệu Tuyệt đối bí mật, đoạn viết bổ sung vào năm 1968, Hồ Chí Minh còn cho rằng: “Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân (tức là hoàn cảnh khi đất nước có hoà bình – MQT), như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động”[7]. Trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa tỉnh Hoà Bình là Trường lúc đầu theo hoạt động theo kiểu đó, có lẽ vì thế mà không tồn tại được lâu. Ở đây, nói “gắn liền” là gắn giữa cái thực tiễn tương ứng, phù hợp với bài học lý thuyết chứ không phải là cái thực tiễn bất kỳ, là đi cuốc đất, đi cày, nói chung là lao động chân tay.

Thể hiện tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là luôn luôn gắn với đời sống thực tiễn, không tư biện, không có gì ra vẻ cao siêu, chủ quan, không có gì có vẻ có tính kinh viện. Những gì Hồ Chí Minh làm, viết, nói liên quan đến đạo đức là rất rõ ràng, ngắn gọn, súc tích, dễ hiểu.

Hồ Chí Minh rất nhạy cảm trong việc tránh cái điều lý thuyết suông. Trong chương trước của cuốn sách này, tôi đã viết về việc Hồ Chí Minh phê phán một cách gay gắt khuyết điểm của Đảng Cộng sản Pháp trong việc nói và làm về vấn đề dân tộc và thuộc địa như thế nào. Ngay như­ ở những bài học đầu tiên đào tạo, huấn luyện cho cán bộ cách mạng các lớp của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phần nhập môn, Hồ Chí Minh nêu lên “Tư­­ cách của một ngư­­ời cách mệnh” gồm 23 điều, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”[8]. Do vậy, Hồ Chí Minh đư­­ợc coi là nhà triết lý trong hành động và là thể hiện sự thuần khiết trong văn hoá. Điều này thấm vào trong giao tiếp, ứng xử hằng ngày của ông. Hồ Chí Minh đã nhiều lần quan niệm rằng: quyết tâm không chỉ ở hội trư­­ờng, ở lời nói mà còn phải quyết tâm trong công tác, trong hành động. Cuộc đời của Hồ Chí Minh chính là sự biểu hiện sinh động của đặc tr­­ưng đó.

Đạo đức mà Hồ Chí Minh có được, như chúng ta biết, là kết quả của quá trình rèn luyện bền bỉ qua bao tháng ngày gian truân của đường đời. Đời của một con người không dài. Hồ Chí Minh có 79 năm hiện hữu với thế gian, ông có sự khổ ải về thân xác: mặc dù rất cẩn thận và rất giỏi về hoạt động bí mật, nhưng hai lần ông bị bắt vào tù (một lần bị thực dân Anh bắt giam ở Hồng Công đầu những năm 30 và một lần bị quân Tưởng Giới Thạch —  Quốc dân đảng Trung Quốc bắt giam tại các nhà lao ở Quảng Tây  những năm 1942, 1943), một lần bị chính quyền phong kiến Việt Nam kết án tử hình vắng mặt tại Toà án Vinh (Nghệ An) cuối năm 1929.

Hồ Chí Minh cũng đã có lần nói về bản thân mình là có những lúc phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội. Nhưng nỗi khổ về thể xác, về vật chất đối với bậc hiền triết không là gì cả so với nỗi thống khổ, nỗi oan khiên về tinh thần. Có lẽ chính cả hai cái nỗi khổ đó đã làm hao tổn sức khoẻ của Hồ Chí Minh, mặc dù ông là một điển hình về rèn luyện sức khoẻ: tập thể dục đều đặn hằng ngày, ưa hoạt động chân tay, rèn luyện trí lực qua lao động trí óc, đặc biệt là thiền, thích ứng với mọi hoàn cảnh thiên nhiên nắng mưa, nóng ẩm, lạnh giá.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong Hội nghị tại Alma Ata năm 1978 đã ra một Tuyên ngôn, trong đó viết rõ định nghĩa về sức khoẻ: “Sức khoẻ là trạng thái hoàn toàn thoải mái về tâm hồn, về thể xác, về xã hội”. Gần nửa thế kỷ trước khi có Tuyên ngôn Alma Ata của Tổ chức Y tế thế giới thì Hồ Chí Minh đã quan niệm như vậy rồi, tức là sức khoẻ bao gồm cả những tiêu chí thể xác và tinh thần của một con người. Hồ Chí Minh rèn luyện theo cách đó, theo chỉ dẫn của một quan niệm đó chứ không theo kiểu ép xác khổ hạnh.

Đạo đức mà Hồ Chí Minh có được là do sự truyền tự nhiên như là cái giá trị văn hoá từ tinh hoa đạo đức tốt đẹp của nhân loại, từ truyền thống dân tộc Việt Nam, trong đó đặc biệt là từ gia đình của ông.

Có thể có người không chịu ảnh hưởng từ gia đình. Nhưng, mà điều này thì đặc biệt đậm ở phương Đông và ở Việt Nam: mỗi một thành viên trong gia đình đều chịu sự quy toả của cái chất trong gia đình mình. Gia đình chính là yếu tố chi phối đáng kể nhất trong việc hình thành tư cách, đạo đức của mỗi thành viên. Hồ Chí Minh chính là một ví dụ về điều đó.

Gia đình Hồ Chí Minh có những điểm đặc biệt nào chi phối đến quá trình hình thành đạo đức của ông?

Theo tôi, có bốn điểm đáng chú ý nhất:

Một, đó là một gia đình hoà thuận.

Yếu tố này quan trọng lắm đối với các thành viên trong gia đình. Ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng gia đình Hồ Chí Minh đều là những người tôn trọng nhau, quý mến nhau, yêu thương nhau, nói chung đó là một gia đình gia giáo. Chúng ta hãy thử tưởng tượng xem, nếu là một thành viên trong một gia đình lục đục thì cực như thế nào. Gia đình chính là một cơ sở vững chắc nhất, là bệ phóng cho con người ta xông vào trong cuộc đời. Có thể coi đó là một hậu phương cực kỳ quan trọng để con người ta phát triển.

Hồ Chí Minh may mắn có được một gia đình như thế, mặc dù các thành viên trong gia đình Hồ Chí Minh nói chung phải trải qua nhiều khổ ải cả vật chất và tinh thần, nhất là những người trong “tứ thân phụ mẫu”: mẹ – Cụ Hoàng Thị Loan – mất sớm tại Huế (ngoài 30 tuổi – lúc Hồ Chí Minh mới lên 10 tuổi); cha – ông Nguyễn Sinh Sắc – mồ côi bố mẹ từ sớm – sau này đỗ học vị cao là Phó bảng ra làm quan rồi bị bãi chức và sống lang bạt một thời gian, định cư ở Cao Lãnh (Đồng Tháp); chị gái (bà Nguyễn Thị Thanh) và anh trai (ông Nguyễn Sinh Khiêm) đi hoạt động cách mạng và bị tù.

Hai, gia đình của Hồ Chí Minh là một gia đình có lòng thương người sâu sắc.

Họ thương những người ở làng quê nghèo khó Nghệ An và những người lao động lam lũ trên mọi nẻo đường mà họ gặp, thương những người đi phu Cửa Rào, thương những người nông dân một nắng hai sương mà vẫn nghèo, thương những người bị áp bức, bóc lột. Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Hồ Chí Minh, thi đỗ Phó bảng, theo lệ thường, được cấp thêm ruộng đất ở quê nhưng Cụ dành những đất đó cho những người nông dân thiếu ruộng. Cụ làm quan, Cụ thương những người nghèo khó, Cụ là người trong cuộc, hoàn cảnh của gia đình Cụ cũng là những người lao động, chẳng khấm khá gì. Cụ đưa các con mình đi đến nhiều nơi trên đất nước, cũng là dịp “đi thực tế”, và chính đó là những bài học cuộc đời sinh động nhất giáo dục cho các con tinh thần yêu nước, thương dân.

Ba, gia đình Hồ Chí Minh là một gia đình hiếu học.

Đây cũng bắt nguồn từ truyền thống của dân tộc Việt Nam. ảnh hưởng của truyền thống này từ gia đình đến Hồ Chí Minh rất lớn (Sẽ được trình bày kỹ ở Chương thứ tư).

Bốn, gia đình Hồ Chí Minh là một gia đình có chí lớn.

Chữ chí ở đây không phải là duy ý chí (nếu theo nghĩa chữ Hán thì là trên là bộ Sĩ, dưới là bộ Tâm). Có tài kinh bang tế thế mà không “to gan lớn mật”, gan chỉ bằng gan con muỗi thì không làm nổi việc gì. Cho nên, năm 1948 Hồ Chí Minh mới dùng cách “khích tướng” trong một bài gửi cho một cán bộ của mình là ông Nguyễn Sơn đang cầm quân ở Thanh Hoá khi ông này không muốn nhận sắc phong thiếu tướng của Chủ tịch nước Hồ Chí Minh, không phải vì khiêm tốn, mà vì có ý chê quân hàm thiếu tướng là còn thấp so với tài năng và công lao của bản thân mình.

Hồ Chí Minh viết mấy câu sau đây và cho người cầm vào Thanh Hoá đưa cho Nguyễn Sơn:

Tặng Sơn đệ

Đởm dục đại

Tâm dục tế

Trí dục viên

Hạnh dục phương

Nghĩa là:

Tặng chú Sơn

Cái mật phải lớn

Cái tâm phải tế nhị

Cái trí phải đầy

Đức hạnh phải vuông vắn.

Phải có ý chí dời non lấp biển. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, sau khi Đội Thanh niên xung phong đầu tiên ở nước ta được thành lập và hoạt động được 8 tháng, Hồ Chí Minh có ghé thăm Liên Phân đội Thanh niên xung phong 312 lúc đó đang ở cầu Nà Cù, xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông. Khi nói chuyện với Liên Phân đội Thanh niên xung phong ở đây, Hồ Chí Minh đã tặng 4 câu thơ:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên

Cái chí phải lớn, vì vậy mà Hồ Chí Minh đã nói với Võ Nguyên Giáp vào một thời điểm nhạy cảm tháng 8 năm 1945, lúc Hồ Chí Minh đang sốt cao, khi thời cơ đến phải quyết nắm lấy: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập”. Hồ Chí Minh cũng có những quyết tâm, nêu ý chí như thế trong những lúc hiểm nghèo của đất nước. Khi nín nhịn đã đến giới hạn cuối cùng không thể lùi được nữa, đêm 19-12-1946 Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ…Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước…Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước”.

Trong sự nghiệp của nhân dân Việt Nam chống Mỹ xâm lược cũng vậy. Nếu không có quyết tâm, không có cái trí sáng suốt của cả dân tộc thì không thể có được vòng nguyệt quế năm 1975. Quả thực, Hoa Kỳ chưa thua ai bao giờ trong lịch sử lập quốc, lại là một nước không bị sứt mẻ gì trong chiến tranh thế giới thứ hai, không những thế, còn được lợi. Vào thời điểm năm 1965, Hoa Kỳ đưa quân đội của mình trực tiếp tham chiến ở Việt Nam thì nhiều người quan ngại. Mà ngại thật, vì Hoa Kỳ là một đất nước giàu về kinh tế, mạnh về quân sự. Cả thế giới nín thở dõi theo thái độ của Việt Nam. Nhiều nước khuyên Việt Nam buông súng. Việt Nam quyết tâm đánh, quyết tâm đó được dựa vào những cơ sở chắc chắn, và người truyền lửa quyết tâm đó cho cả dân tộc Việt Nam, cho cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình, công lý trên thế giới chính là Hồ Chí Minh.

Tháng 6 năm 1966, sau một thời gian đem máy bay, tàu chiến ra ném bom, bắn phá miền Bắc, Mỹ đã cho máy bay ném bom vào thủ đô Hà Nội. Cần có sự trả lời, cần có một thông điệp. Hồ Chí Minh lên tiếng, ra lời kêu gọi đồng bào cả nước, sau khi đi Côn Sơn đọc bia Nguyễn Trãi trở về Hà Nội: “Giônxơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.

Cả gia đình Hồ Chí Minh đều là những người có chí lớn. Cụ Nguyễn Sinh Sắc – đã đành. Mẹ của Hồ Chí Minh là Cụ Hoàng Thị Loan “thân gái dặm trường” những năm đầu thế kỷ XX gồng gánh cùng gia đình di chuyển vào Huế và định cư ở đó. Mà đâu có xe ô tô, máy bay như bây giờ mà đi, chủ yếu là cuốc bộ, thi thoảng có nhờ xe ngựa được dăm ba đoạn nào đấy. Tại Huế, Cụ Hoàng Thị Loan không an nhàn, vẫn làm nghề dệt vải để cùng với chồng con mưu việc lớn. Đáng thương thay, khi sinh con (Nguyễn Sinh Xin – em trai liền kề Hồ Chí Minh, sau này Nguyễn Sinh Xin chết sớm), Cụ Hoàng Thị Loan bị hậu sản và qua đời. Chị gái và anh trai của Hồ Chí Minh là những người đi nhiều, tôi gọi đó là những người thích dịch chuyển, đi để học, đi để hoạt động cách mạng.

Bản thân Hồ Chí Minh trước khi xuống tàu Latútsơ Tơrêvin của một hãng buôn của Pháp ở bến cảng Nhà Rồng (Sài Gòn – nay là thành phố Hồ Chí Minh) sang Pháp và các nước phương Tây, muốn rủ một người bạn nữa cùng đi. Trong dặm trường xa xứ, có bạn cùng đi thật hay biết bao nhiêu.

Tác giả Trần Dân Tiên trong cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch viết lại câu chuyện kể của một vị trí thức ở Sài Gòn: Hồ Chí Minh hỏi một người bạn là anh Lê:

— “Anh Lê, anh có yêu nước không?

Tôi ngạc nhiên và đáp: Tất nhiên là có chứ!

— Anh có thể giữ bí mật không?

— Có.

— Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, ví như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi không?

— Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?

— Đây, tiền đây — Anh bạn của tôi (tức Hồ Chí Minh) vừa nói vừa giơ hai bàn tay. —  Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì để sống và để đi”[9].

Điểm nhấn ở đây là: “Đây, tiền đây”. Đi ra nước ngoài mà không có một đồng xu dính túi, chỉ có khối óc và hai bàn tay. Như thế, đủ thấy ý chí lớn lao biết chừng nào ở Hồ Chí Minh, một anh thanh niên thư sinh, mảnh mai vóc hạc.

Đúng là hổ phụ sinh hổ tử. Cả gia đình Hồ Chí Minh là như thế. Hồ Chí Minh được truyền từ cái gen chí khí lớn lao.

II.  Lòng nhân ái

Đạo đức trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh tr­­ước hết vẫn là những vấn đề thuộc về thái độ đối với con ng­ười, đó là lòng yêu thương, quý trọng con người.

Con người, chính bản thân con người là một thực thể hết sức phức tạp. Các học thuyết, tư tưởng, các giáo lý của các tôn giáo… của từng dân tộc và trên thế giới đều đề cập vấn đề con người. Hầu như đó là một trong những vấn đề trung tâm. Con người trong các mối quan hệ xã hội lại càng phức tạp hơn. Có con người theo kiểu “nhân chi sơ tính bản thiện”, nghĩa là sinh ra vốn là người hiền, tốt, rồi sau đó là cả một quá trình biến đổi luân hoàn tốt – xấu – tốt, thiện – ác – thiện.

Các giáo lý của nhiều tôn giáo đều rất coi trọng tình thương yêu con người. Tuyên ngôn Tôn giáo năm 1517 do Lude (người Đức) gồm 95 điều, trong đó đã viết rằng: “Khởi nguồn chân lý là sự yêu thương và tha thứ”[10]. Còn Phật giáo cho rằng cuộc sống là từ bi hỷ xả, v.v.

Nhưng, trong thực tế, con người cũng có nhiều cái ác lắm thay. Người ta có lý khi cho rằng, con người là loài sinh vật ác nhất trong các loài sinh vật ở trên thế gian này. Thì đấy, hai cuộc chiến tranh thế giới đã cướp đi bao nhiêu mạng người. Còn trong thời cổ nữa, chiến tranh liên miên. Thời nay cũng vậy, vẫn còn đó những cuộc chiến đẫm máu, hai phe, nhiều phe, nhiều khối, nhiều tôn giáo, nhiều dân tộc, khủng bố, rồi huynh đệ tương tàn. Vẫn còn đó những kho súng khổng lồ, những vũ khí giết người hàng loạt, những nền công nghiệp quân sự với những lợi nhuận kếch sù, v.v. Đó là chiến tranh, nhưng còn những cảnh áp bức, bóc lột làm cho con người ta chết đói, chết nghèo nữa, hoặc nếu không chết thì sống dở chết dở.

Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc có một điểm trội so với một số quốc gia-dân tộc khác là trọng nghĩa tình, cái trục ứng xử là trên tình ng­ười, một dân tộc “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay c­ường bạo” (Nguyễn Trãi đã tổng kết như thế trong Bình Ngô đại cáo vào thế kỷ XV). Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, ngay trong số đầu của báo Le Paria, Hồ Chí Minh đã đề cập giải phóng con người. Hồ Chí Minh nhất quán quan điểm đó, cho đến trong Di chúc, ông không những để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng và gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế, mà còn căn dặn Đảng Cộng sản Việt Nam về những công việc cần làm sau khi đã đánh thắng giặc Mỹ xâm lư­­ợc, trong đó “đầu tiên là công việc đối với con ngư­ời”.

Mọi giải phóng: giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội – giai cấp rồi cuối cùng đều phải đi đến giải phóng con người thì tất cả các giải phóng trước đó mới có ý nghĩa thiết thực.

Tình thương yêu, quý trọng con ng­ười tr­ước hết ông dành cho những ng­ười bị áp bức, bóc lột, những ngư­ời cùng khổ. Ở đâu và lúc nào Hồ Chí Minh cũng có tình th­ương sâu đậm đối với các cụ già, em nhỏ, đặc biệt có tư tưởng giải phóng phụ nữ, có phong cách ứng xử văn hoá đặc biệt đối với phụ nữ. Đó là những những con người dễ bị tổn thương trong các xã hội.

Điều này khác một trời một vực với tư tưởng của Nho giáo vốn coi khinh lao động chân tay, coi khinh phụ nữ. Nho giáo chia con người trong xã hội ra làm hai loại: quân tử, tiểu nhân. Trong quân tử, không có những người lao động chân tay, những người làm ra hạt lúa, củ khoai. Và, trong quân tử cũng không có phụ nữ. Người phụ nữ chỉ được xếp vào loại tiểu nhân. Người phụ nữ chẳng có quyền hành gì cả, buộc phải tam tòng: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (Nghĩa là khi chưa đi lấy chồng thì trong nhà tuyệt đối phải nghe lời cha; cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy trong hôn nhân; khi về nhà chồng rồi thì phải nhất nhất nghe theo lời chồng; khi chẳng may chồng mất thì phải nghe theo lời của người con trai của mình). Tất nhiên, khi vào Việt Nam thì nói chung, tư tưởng Nho giáo nói chung và cái quan điểm đối với phụ nữ nói riêng cũng đã phần nào đã được Việt Nam hoá, nó có biến dạng một phần. Trong truyền thuyết dân tộc Việt Nam, bà mẹ Âu Cơ được tôn vinh lên thành mẹ của cả cộng đồng dân tộc. Trong lịch sử, hàng loạt phụ nữ thực sự có công với nước, được nhân dân tôn thờ, đó là: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Dương Vân Nga, Bùi Thị Xuân, v.v.

Phong kiến Trung Quốc và Việt Nam là vậy.

Còn đối với Phật giáo, trong cái nhân hợp lý triết học, có dương và âm; không thể hoàn hảo trong một vũ trụ nếu chỉ có dương mà không có âm, và ngược lại, nếu chỉ có âm mà không có dương. Người đàn ông là dương, còn người đàn bà là âm. Cả hai là cần thiết cho nhau, thuộc về nhau, làm thành một chỉnh thể trong một vũ trụ của Phật giáo. Tôi cho rằng, điều này của Phật giáo là hoàn bị, đúng đắn nhất. Do vậy, người đi tu để đắc đạo, không bất kể, không phân biệt thiện nam, tín nữ, miễn là phải có chí, có tâm. Về điều này, tôi khẳng định thêm: quan niệm như thế của đạo Phật là hợp với cái tiến bộ nhất trong quan niệm về con người khác giới.

Còn đối với Thiên Chúa giáo, trong sách Kinh thánh, khi giải thích nguồn gốc của vũ trụ và của nhân loại, thì cho rằng, lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo ra trời đất. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. Đức Chúa trồng một vườn cây ở Êđen và đặt con người vào vườn đó. Đức Chúa khiến từ đất mọc lên cây trái, sông suối; lấy đất nặn ra mọi dã thú, chim trời ở với con người. Nhưng, chừng ấy mà con người vẫn không có một trợ tá tương xứng. Cho nên, Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống con người, và con người thiếp đi. Trong lúc con người đang mê, Đức Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt thế vào. Từ xương sườn của con người đó, Đức Chúa làm thành một người đàn bà dẫn đến ở, làm vợ của con người.

Cũng trong Kinh thánh, có viết:

“Con người nói:

“Phen này,

đây là xương bởi xương tôi,

thịt bởi thịt tôi!

Nàng sẽ được gọi là đàn bà,

vì đã được rút từ đàn ông ra”[11].

Về sau, vì nghe lời của một con rắn, người đàn bà ăn “trái của cây cho biết điều thiện điều ác” (trái cây trong vườn mà Đức Chúa cấm, thường gọi là “trái cấm”), cho nên Đức Chúa là Thiên Chúa nói với người đàn bà rằng:

“Ta sẽ làm cho ngươi

phải cực nhọc thật nhiều

khi thai nghén;

ngươi sẽ phải cực nhọc

lúc sinh con.

Ngươi sẽ thèm muốn chồng người,

và nó sẽ thống trị người”[12].

Đối với con người (người chồng), Đức Chúa nói: “Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà Ta đã truyền cho ngươi rằng “Ngươi đừng ăn”,

nên đất đai bị nguyền rủa vì ngươi;

ngươi sẽ phải cực nhọc

mọi ngày trong đời ngươi

mới kiếm được miếng ăn

từ đất mà ra.

Đất đai sẽ trổ sinh

gai góc cho ngươi,

ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng.

Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán

mới có bánh ăn,

cho đến khi trở về với đất,

vì từ đất, ngươi đã được lấy ra.

Ngươi là bụi đất,

và sẽ trở về với bụi đất”[13].

Như vậy, với Thiên Chúa giáo, người đàn bà không được gọi là con người, mà chỉ là từ một cái xương sườn của con người (tức người đàn ông) mà ra, được gọi là vợ, nhưng chỉ được Đức Chúa cho làm bổn phận trợ tá cho người đàn ông mà thôi. Hơn nữa, với đoạn trích dẫn Kinh thánh trên đây, Đức Chúa đã phán rằng, người đàn bà đó sẽ bị con người (người chồng) “thống trị”. Đó là thân phận của người đàn bà theo Kinh thánh của  Thiên Chúa giáo.

Trong chương trước tôi đã viết rằng, Hồ Chí Minh không có vợ. Như vậy, ông thiếu đi nhân cách làm chồng, rất dễ khiếm khuyết trong ứng xử với phái đẹp, phái yếu. Nhưng, Hồ Chí Minh lại là người rất hiểu phụ nữ. Hồ Chí Minh nói theo quy luật và làm theo đúng quy luật. Ông nói: phụ nữ là phần nửa của xã hội, nếu không giải phóng được phụ nữ thì không thể xây dựng được chủ nghĩa xã hội, không thể giải phóng được loài người.

Đúng vậy. Có thể có nơi này hay nơi khác trên trái đất này tỷ lệ dân số nam nhiều hơn nữ hoặc nữ nhiều hơn nam (mất cân bằng giới – hiện tại ở Trung Quốc số dân nam nhiều hơn số dân nữ). Nhưng, quy luật, tiền định của tạo hoá là nữ nhích lên khoảng 51%, nam có 49%. Chung quy lại là một nửa trái đất là nữ. Đúng là không giải phóng được nửa dân số của trái đất thì chớ có nói đến giải phóng phụ nữ, giải phóng con người. Xã hội càng phát triển thì vai trò của phụ nữ càng lớn, phụ nữ có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và có đóng góp thực sự quan trọng vào tiến trình văn minh của nhân loại.

Hồ Chí Minh đã để lại vô vàn những câu chuyện cảm động về tình cảm, những ứng xử văn hoá đối với nhân dân, đối với những lớp người bị thiệt thòi trong xã hội do hậu quả quan niệm không đúng của xã hội thực dân, phong kiến, đặc biệt là đối với phụ nữ.

Tôi chỉ nêu ra đây hai cốt chuyện điển hình nhất mà chỉ riêng Hồ Chí Minh mới có, chỉ riêng Hồ Chí Minh mới làm được, không giống bất cứ một nhà lãnh đạo chính trị nào ở Việt Nam và ở thế giới. Có lẽ vì Hồ Chí Minh vừa là một nhà chính trị vừa là một nhà văn hoá (hai trong một) cho nên mới như thế.

Câu chuyện thứ nhất. Hồ Chí Minh thấu hiểu cuộc sống của người phụ nữ, nhất là cuộc sống riêng về giới lúc khó khăn. Tiếp các chị các Đội Thanh niên xung phong ở đường Trường Sơn trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, Hồ Chí Minh hỏi han tình hình của các chị và dặn ngành Y tế nên nghiên cứu để sản xuất thuốc giúp chị em khi hoàn thành nhiệm vụ trở về nhà lấy chồng có con. Vì trong điều kiện gian khổ ở chiến trường, hầu hết các chị Thanh niên xung phong đều “có vấn đề” về bệnh phụ khoa. Hồ Chí Minh biết điều đó. Ông dặn rằng, ở những nơi đóng quân Trường Sơn, nên chú trọng tìm cách quây thành một số lều để các chị làm vệ sinh thường xuyên, nhất là lúc các chị có hành kinh. Ông cũng dặn gửi bồ kết cho các chị gội đầu.

Hồ Chí Minh chú ý những vấn đề của hậu phương trong kháng chiến. Trong chống Mỹ, cứu nước, hàng loạt lực lượng trai tráng ra chiến trường, còn lại ở hậu phương chủ yếu là các bà, các chị “ba đảm đang” phụ trách những “cánh đồng 5 tấn”. Không ít địa phương không chú trọng đến công tác vận động phụ nữ, không quan tâm đúng mức đến việc đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, đề bạt, đưa các chị vào các bộ máy của hệ thống chính trị cơ sở. Thậm chí, Hồ Chí Minh còn cho rằng, nữ mà làm chủ nhiệm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có khi tốt hơn nam, vì nam “hay bày ra đánh chén”.

Hồ Chí Minh đến thăm tỉnh Thái Bình năm lần. Ngày 1-1-1967, nói chuyện với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Phải đặc biệt chú ý đến sức lao động phụ nữ. Phụ nữ là đội quân lao động rất đông. Phải giữ gìn sức khỏe cho phụ nữ để chị em tham gia sản xuất được tốt. Ví dụ: khi phụ nữ có kinh thì hợp tác xã chớ phân công cho họ đi làm ở chỗ ruộng sâu, nước rét. Các hợp tác xã phải có những tổ giữ trẻ tốt để phụ nữ có con mọn có chỗ gửi các cháu để yên tâm lao động”[14]. Tôi phải trích nguyên văn đoạn này của Hồ Chí Minh, bởi vì, tôi nhấn mạnh một lần nữa rằng, chưa có và không có vị lãnh tụ nào ở Việt Nam và trên thế giới nói được như vậy. Nếu có, xin bạn đọc chỉ dùm cho và tôi sẵn sàng sửa ngay nhận định này.

Câu chuyện thứ hai. Hồ Chí Minh là người hay nêu những truyền thống đạo đức tốt đẹp để mọi người phát huy, nhưng ông cũng không né tránh việc nêu những thói hư tật xấu trong xã hội để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, vận động nhân dân xây dựng nếp sống mới.

Hồ Chí Minh cực lực lên án tệ ngược đãi phụ nữ, tệ đánh vợ. Vấn đề giải phóng phụ nữ, chống lại tình trạng ngược đãi phụ nữ, trẻ em, chống lại việc buôn bán phụ nữ, trẻ em trên thế giới vẫn là chuyện dài dài chưa giải quyết được về căn bản.

Liên hiệp quốc đã nhiều lần lên tiếng về vấn đề này. Hiện nay, ở Việt Nam cũng đang có tình trạng này, đang tích cực phòng và chống nhưng xem ra hiệu quả còn ít quá.

Trong một lần đến thăm một địa phương, tại hội trường, đang nói chuyện phê phán những thói hư tật xấu của một số người, Hồ Chí Minh dừng lại hỏi: “Trong hội trường này, có chú nào đánh vợ thì đề nghị dơ tay lên”. Không có ai dơ tay cả.

Sau đó, Hồ Chí Minh phân tích: “Đánh vợ là xấu“. Đúng là xấu thật. Phụ nữ là phái yếu, phái đẹp, là một bông hoa của tạo hoá, mà lại phũ phàng thì chẳng ai cho đó là hành động đẹp được. Hồ Chí Minh chưa dừng lại. Ông nói tiếp: “Đánh vợ là dã man“. Như vậy là cấp độ của cái xấu đã được “nâng lên” rồi, từ “xấu” đã cụ thể lên “dã man“. Ông cũng chưa dừng, mà phân tích tiếp: “đánh vợ là phạm pháp“. Mà đã phạm pháp thì không còn chuyện nội bộ giữa vợ – chồng nữa mà là chuyện của pháp luật, phải đưa ra pháp luật xử lý.

Điển hình nhất là câu chuyện mà Hồ Chí Minh nói đúng ngày tết dương lịch với đồng bào và cán bộ tỉnh Thái Bình: “Phải kính trọng phụ nữ. Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng, trai gái đều ngang quyền như nhau. Lênin dạy chúng ta: phụ nữ là một nửa xã hội. Nếu phụ nữ chưa được giải phóng thì xã hội chưa được giải phóng cả. Phụ nữ thì phải tự mình phấn đấu giữ gìn quyền bình đẳng với đàn ông. Đàn ông phải kính trọng phụ nữ. Nhưng Bác nghe nói vẫn có người đánh chửi vợ! Đó là một điều đáng xấu hổ. Như thế thì còn gì là tình nghĩa vợ chồng? Như thế là phạm pháp, là cực kỳ dã man. Chi bộ đảng phải giáo dục đảng viên và nhân dân về quyền bình đẳng giữa vợ chồng. Đoàn thể phụ nữ và thanh niên phải bảo ban nhau cách cư xử hoà thuận trong gia dình. Bác mong rằng: từ nay về sau sẽ không còn thói xấu đánh chửi vợ nữa”[15].

Hồ Chí Minh gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội – giai cấp (cũng như ông đã gắn quyền con người vào trong quyền dân tộc). Ông cũng gắn sự nghiệp giải phóng phụ nữ với việc khắc phục những tàn dư của chế độ phong kiến, thực dân trọng nam khinh nữ, “tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư sản trong người đàn ông”.

Sự nghiệp giải phóng phụ nữ vẫn đang còn là nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Công ước năm 1979 của Liên hiệp quốc về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử bất bình đẳng với phụ nữ đã được hơn 154 quốc gia phê chuẩn nhưng còn lâu mới thực hiện được một cách có hiệu quả, và người ta đã có ý tổng kết rằng, trên thế giới, chưa có quốc gia nào phụ nữ đạt được sự bình đẳng với nam giới.

Hiện nay, trên thế giới, có hơn 1,3 tỷ người nghèo khổ, trong đó có hơn 70% là phụ nữ; trong số gần 1 tỷ người trưởng thành bị mù chữ thì có tới 3 phần 4 là phụ nữ, 2 phần 3 trong số 130 triệu trẻ em trên thế giới không được đến trường là trẻ em gái. Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia, số thời gian phụ nữ làm những công việc không được trả lương nhiều gần gấp đôi so với nam giới; giá trị các công việc nội trợ và công việc cộng đồng không được trả lương của phụ nữ năm 1993 ước tính bằng khoảng 10% – 35% GDP trên thế giới, tương đương với 11 000 tỷ đôla Mỹ.

Nước nhà vừa mới giành được độc lập là Hồ Chí Minh nghĩ ngay và chủ trương tiến hành ngay việc bầu cử Quốc hội để bảo đảm quyền làm chủ cho toàn thể nhân dân, trong đó để những nữ công dân tham gia bỏ phiếu. Ông cũng là người luôn luôn muốn khơi dậy tính tự lực, chủ động, tích cực của mỗi một con người. Đối với phụ nữ cũng vậy. Hồ Chí Minh nói: “Về phần mình, chị em phụ nữ không nên ngồi chờ Chính phủ, chờ Đảng ra chỉ thị giải phóng cho mình mà tự mình phải đấu tranh”.

Lòng yêu thư­ơng, quý trọng con ngư­­ời ở Hồ Chí Minh không có giới hạn biên giới quốc gia. Theo Hồ Chí Minh, trên thế giới này ở đâu cũng chỉ có hai giống ng­ười: giống ngư­­ời bị áp bức và giống người đi áp bức. Trong các bài báo, cuốn sách do ông viết, hiện lên số phận của bao nhiêu con ng­ười lao động bị đế quốc đày đọa, từ ng­ười phụ nữ châu Phi, những thuỷ thủ, phu khuân vác Đắcca, Braxin, Xiri, Liban… cho đến những công nhân, nông dân ở Ghinê, Đahômây, v.v. Đến thăm bất cứ nước nào, khi ở địa vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Hồ Chí Minh đều dành thời gian tiếp xúc với nhân dân lao động, đặc biệt là đối với các cháu thiếu niên nhi đồng (Nhiều người nói rằng, mắt Hồ Chí Minh đã sáng rồi lại càng sáng lên khi gặp các cháu thiếu niên nhi đồng, vì ông đặc biệt yêu mến trẻ em).

Điều đó cắt nghĩa tại sao Hồ Chí Minh không những được thiếu niên nhi đồng Việt Nam gọi là “Bác Hồ” mà còn được thiếu niên nhi đồng nhiều nước trên thế giới gọi như thế, không những được nhân dân Việt Nam gọi là “Bác Hồ” mà còn được rất nhiều tầng lớp nhân dân trên thế giới gọi như thế. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh trở thành một biểu t­ượng về tình hữu ái của con ngư­ời trên trái đất (Nhà thơ Liên Xô Ôxíp Manđensơtam viết rằng, ở trong con người Hồ Chí Minh toả ra một thứ ánh sáng, đó là “tình hữu ái giai cấp bao la như đại dương”). Đã có nhiều người bắt gặp Hồ Chí Minh khóc trước anh linh các liệt sĩ, trước những cảnh éo le số phận của nhiều cuộc đời.

Tình thương yêu, quý trọng con người của Hồ Chí Minh không dừng ở lời nói, mà ông tích cực thể hiện tìn thương yêu, quý trọng đó trong cuộc sống. Trong thời kỳ hoạt động ở nước ngoài, ông tìm cách tố cáo tội ác của bọn đế quốc, thực dân đối với phụ nữ.

Trong các bài báo, các truyện, ký, trong tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, Hồ Chí Minh lên án tính vô nhân đạo của những thế lực xâm lược áp bức nhân dân thuộc địa, trong đó một điểm nhấn trong các tác phẩm của ông là tố cáo sự áp bức, đày ải người phụ nữ.

Lên án chủ nghĩa thực dân, trên thực tế, là một biện pháp đấu tranh chính trị sắc bén, một biện pháp “lên men” phong trào cách mạng rất hiệu quả. Bởi vì những kẻ thực dân luôn lừa bịp, tuyên truyền sai sự thật về sự hiện diện của những người đi xâm chiếm các dân tộc nhược tiểu bằng những từ ngữ đẹp đẽ như “khai hoá văn minh”, “truyền bá văn minh”, v.v.

Tố cáo bóc lột về kinh tế là sự “tuyên chiến” với chủ xưởng, còn tố cáo chính trị là lời tuyên chiến với chính phủ, là một phương sách mạnh mẽ nhằm làm tan rã chế độ thù địch. Việc tố cáo tội ác cũng là biện pháp làm cho những người bị áp bức, bóc lột có ý thức rõ ràng và mãnh liệt hơn về sự vùng lên đấu tranh giải phóng mình. Chính vì thế, Hồ Chí Minh sử dụng biện pháp tố cáo một cách hiệu quả nhất.

Không dừng lại ở việc tố cáo đế quốc, thực dân, phong kiến phản động, Hồ Chí Minh còn luôn luôn chăm lo đến việc tổ chức lực lượng nhân dân vùng lên đấu tranh.

Hồ Chí Minh chú ý tới phát triển con người, không những giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, phong kiến mà còn ở chỗ tìm cách nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho con người. Ông thấy được vị trí, vai trò của vấn đề con người, con người là trung tâm của sự phát triển xã hội.

Quan niệm của Hồ Chí Minh cũng giống như quan niệm đúng đắn của các tổ chức xã hội tiến bộ hiện nay trên thế giới, khi cho rằng, phát triển con người là sự phát triển bao gồm tất cả các khía cạnh trong cuộc sống của mọi cá nhân, từ tình trạng sức khoẻ, tới đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá của con người; rằng, phát triển con người theo những mục tiêu đó, là cái đích cuối cùng, tăng trưởng hay phát triển kinh tế là một phương tiện; rằng, mục tiêu cơ bản của phát triển là tạo ra một môi trường khuyến khích con người được hưởng cuộc sống lâu dài, khoẻ mạnh và sáng tạo.

Hồ Chí Minh chú ý đến tính toàn diện của sự phát triển. Chính điều này phù hợp với cách tính về chỉ số phát triển con người (HDI) của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) – kết hợp các chỉ số cơ bản về y tế, giáo dục, tuổi thọ, mức sống. Không biết thời Hồ Chí Minh sống, Việt Nam được xếp vào hàng thứ mấy trên thế giới, có lẽ không thể xếp hạng được do có chiến tranh và do Việt Nam chưa vào Liên hợp quốc, nhưng theo con số năm 2006, HDI của Việt Nam mới chỉ đạt 109/177 nước, tất nhiên cao hơn bảng xếp hạng tăng trưởng GDP.

Hiện Việt Nam đang phấn đấu để đến năm 2020 nâng mức HDI đạt ở nhóm 30 – 40 nước có chỉ số cao nhất thế giới. Đó là yêu cầu đạt được sự đầy đủ, ở mức cơ bản nhất, về vật chất. Trước hết là vật chất đã. Vì như Hồ Chí Minh nói lại câu tục ngữ: có thực mới vực được đạo, nói lại câu của cổ nhân Trung Hoa: dân dĩ thực vi thiên, tức là dân lấy ăn làm trời. Sau nữa là sự giàu có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng trong xã hội với quan hệ của con người với con người, sự đồng thuận của toàn xã hội, sự hài hoà của con người với thiên nhiên.

Trong yêu thư­ơng, quý trọng con ng­ười thì thái độ tích cực nhất là dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng con ngư­­ời chứ không phải kiểu thư­ơng ng­ười từ trên ban xuống. Bản thân ông cũng là một người chịu quá nhiều khổ đau mà ông ít khi kêu ra.

Đối với Hồ Chí Minh, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội-giai cấp kết hợp chặt chẽ với nhau để đi tới giải phóng con người. Là Chủ tịch n­­ước, Chủ tịch Đảng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh tới việc phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Ông nhiều lần nêu lên quan niệm: nếu nư­ớc đã đ­ược độc lập mà dân cứ chết đói, chết rét thì độc lập chẳng để làm gì; dân chỉ biết giá trị của tự do, độc lập khi đư­­ợc ăn no, mặc ấm. Nói như thế tức là ông đã đề cập những vấn đề tối thiểu và về cơ bản nhất của con người: sống có chất lượng tốt, cả về vật chất và tinh thần, con người phát triển toàn diện vươn tới vương quốc của tự do.

Đó cũng là từ quyền của con người, mà Hồ Chí Minh có tiếp thu quan điểm của Tuyên ngôn cách mạng Mỹ và Tuyên ngôn của cách mạng Pháp: quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, rồi Hồ Chí Minh “chuyển” quyền của con người sang nằm trong quyền của dân tộc: quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Quyền con người được quyện chặt vào quyền của dân tộc, quyền của con người đặt dưới quyền dân tộc.

III. Trung với nước, hiếu với dân

Trong Nho giỏo, khỏi ni?m “trung-hi?u” là trung v?i vua, hi?u v?i cha m?. éõy là m?t nguyờn t?c co b?n trong ch? d? phong ki?n ? Vi?t Nam. Thỏi d? ?ng x? van hoỏ trong xó h?i phong ki?n ph?i tuõn theo cỏi tr?c co b?n dú, n?u khụng, s? b? vi ph?m tu­ cỏch, d?o d?c làm ng­u?i.

Sách giáo khoa Luân lý của Trường Đông Kinh Nghĩa Thục Hà Nội năm 1907 có đề cập trung-hiếu, trong đó cho rằng, trung và hiếu cùng một gốc, nghĩa là trung với vua tức là hiếu với cha mẹ và hiếu với cha mẹ tức là trung với vua.

Cũng trong sách đó, khi bàn về có người cho rằng khó có toàn vẹn cả hai: ở nhà mà phụng dưỡng cha mẹ thì không thể đem thân thờ vua được, hoặc chết vì nước thì không thể phụng dưỡng cha mẹ được, thì quan điểm của người viết sách giáo khoa đó cho rằng “sát thân thành nhân”, nghĩa là khi chết cho đất nước (tức là trung với vua) cũng là làm tròn đạo hiếu, thậm chí gọi là đại hiếu.

Sách đó trích Lễ ký của Tăng Tử rằng: “Thân ta là di thể của cha mẹ để lại, há dám không kính trọng sao? Cư xử không trang trọng là bất hiếu; thờ vua không trung là bất hiếu; làm quan không kính là bất hiếu; bạn bè không tin là bất hiếu; ra trận mạc mà nhút nhát là bất hiếu. Năm điều ấy, không cẩn trọng, để cha mẹ mắc tại hoạ, dám không kính sao?”. Như vậy, quan niệm chữ hiếu đã rộng rồi.

Sách đó đầu thế kỷ XX dạy theo tư tưởng canh tân đất nước, vẫn cho rằng: Trung – hiếu “thực là cái gốc lớn của hàng trăm phẩm hạnh, là ngọn nguồn của hàng vạn sự tốt lành. Cho nên, nhất cử nhất động ngày thường, không có cái nào vượt ra ngoài phạm vi trung hiếu”…“Đạo trung hiếu lớn vậy thay! Đức trung hiếu đẹp vậy thay! Nước nhà thịnh vượng hay suy vong, xã hội tiến bộ hay lạc hậu, cho đến bản thân, gia đình ta vinh hiển, hay danh dự bị chôn vùi, không cái gì không do trung hiếu mà ra. Con người há lại không lấy trung hiếu làm điều cơ bản hay sao?”[16].

Trong chữ “trung” như vậy, có cả trung với những ông vua anh minh, nhưng cũng có cả trung với ông vua hèn kém, mà có thể gọi đó là “ngu trung”. Bởi vì, Nho giáo đưa ra nguyên tắc trong quan hệ quân – thần (tức vua – tôi) rất cứng nhắc và sai lầm: “Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung” (Nghĩa là vua bắt bề tôi phải chết thì bề tôi phải chết, nếu không chết thì là không trung với vua).

Chính đây là điều hạn chế của Nho giáo. Lúc đầu, dân Bắc Hà không theo quân Tây Sơn, không theo Quang Trung Nguyễn Huệ bởi vì họ chỉ một lòng trung với vua Lê (ngu trung). Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế tại Huế, lấy niên hiệu Quang Trung ngày 22-12-1788 (25 tháng 11 Mậu Thân) rồi nhanh chóng đem quân ra bắc đánh quân xâm lược nhà Thanh, giải phóng Thăng Long. Trên đường hành quân, Quang Trung dừng quân ở Nghệ An và Thanh Hoá tuyển thêm lính mới, đó là những quân gan dạ, mưu trí. Ngày 20 tháng chạp Mậu Thân (15-1-1789), quân Tây Sơn đã có mặt tại phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn (Ninh Bình). Quang Trung cho quân hạ trại ăn Tết trước, vào đúng ngày cuối tháng chạp Mậu Thân và hẹn ngày 7 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789) sẽ vào Thăng Long hạ cây nêu mừng chiến thắng.

Giữa đêm giao thừa, Quang Trung đọc lời hịch:

Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ

Quân Tây Sơn chia làm 5 đạo rầm rập thần tốc tiến quân về phía Thăng Long với khí thế chẻ tre, đánh đâu thắng đó và giải phóng Thăng Long đúng ngày 5 Tết Kỷ Dậu với trận Đống Đa oanh liệt, vượt mức dự định 2 ngày. Nhưng, bi kịch của nhà Tây Sơn có nhiều. Trong đó đối với Quang Trung chính là ở chỗ: trong chiến bào sạm khói súng, giữa tiếng hô của ba quân: Vạn tuế, reo hò mừng chiến thắng thì không ít dân chúng và sĩ phu Bắc Hà không theo quân Tây Sơn, cho rằng, đây là đội quân giặc cỏ, nhất là khi một số quân Tây Sơn vào Văn Miếu làm đổ vỡ mấy bia tiến sĩ.

Chiếm được thành mà không chiếm được lòng người thì sự nghiệp không thể nào thành công. Lòng người tuy khó mà đo nhưng vẫn là trên hết.

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, điều này đã được nhà Trần thế kỷ XIII (1258) chú ý giải quyết rồi. Khi quân Nguyên-Mông lần đầu tiên tràn vào nước ta với thế mạnh thì một vấn đề được đặt ra là đánh hay không, đánh ngay hay dùng phương kế gì? Sau khi bị vỡ phòng tuyến Bình Lệ Nguyên (Bình Xuyên – Vĩnh Phúc ngày nay), theo kế sách của Lê Tần, vua nhà Trần là Trần Thái Tông (Trần Cảnh) đã dùng kế sơ tán hoàng tộc và quân sĩ từ Thăng Long về vùng sông Hoàng Giang (Lý Nhân, Hà Nam ngày nay) và vùng sông Thiên Mạc (Duy Tiên, Hà Nam ngày nay) để chờ thời cơ đánh lại vì biết rằng, lúc ấy mà đánh ngay chắc là thất bại. Nhà Trần thu phục được dân chúng thành Thăng Long, vận động dân không hợp tác với quân Nguyên-Mông, một lòng chờ thời quân triều đình phản công. Ba vạn quân Nguyên-Mông vào thành Thăng Long ngày một ngày hai bị hoang mang cực độ do gặp rất nhiều khó khăn về hậu cần vì dân không hợp tác, thiếu lương ăn thì chúng cho quân đi cướp bóc lại bị dân đánh từ các xóm làng, hương ấp.

Thừa lúc đó, ngày 24 tháng Chạp năm Đinh Tỵ (29-1-1258), quân đội nhà Trần do vua và hoàng tử Trần Hoảng đích thân chỉ huy từ Hà Nam ngược sông Hồng tiến lên tập kích đánh tan quân giặc ở bến Đông Bộ Đầu (gần dốc Hàng Than hiện nay). Các cánh quân khác cũng tiến đánh thành Thăng Long, buộc quân của Nguyên-Mông rút chạy về nước, phía Vân Nam. Một đội quân hùng mạnh của Nguyên-Mông mà chỉ ở trong Thăng Long được đúng 9 ngày. Rõ ràng là, không có lòng người dân Thăng Long thì kế hay mẹo giỏi của nhà Trần cũng không thể dùng được.

Quang Trung phải dùng nhiều biện pháp thu phục lòng dân, thu phục sĩ phu Bắc Hà, và ông đã thu phục được. Và, dần dần mới phá bỏ được cái “ngu trung” theo tư tưởng Nho giáo đã ăn sâu vào trong xã hội Việt Nam.

Nguyễn Du, một đại thi hào quý tộc phá cách, đã dân gian hoá cái bác học trong thơ nôm lục bát Truyện Kiều. Trong Truyện Kiều, nhiều lúc ông bay bổng, vượt lên trên cả lễ giáo phong kiến của chữ trung, chữ hiếu. Nguyễn Du miêu tả mối tình trong sáng, đẹp đẽ, tự do của chàng Kim Trọng với nàng Thúy Kiều.

Ngòi bút của ông đã lên đến đỉnh điểm của tình yêu tự do đôi lứa, vượt cả thời đại mà ông sống, cứ như là ông đang viết cho thế kỷ XX, XXI và các thế kỷ tiếp theo vậy. Nhưng, đang như vậy thì nhà Thúy Kiều lâm nạn: người ta nghi oan cho nhà Thúy Kiều buôn lậu (buôn tơ) và cho sai nha vào trói bố và em trai Thúy Kiều lại, rồi vơ vét hết của cải trong nhà:

Đồ tế nhuyễn của riêng tây

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham

Theo mách lối, phải có 300 lạng (vàng?) để “tính bài lót đó luồn đây” cứu cha. Lẽ ra không nên bắc lên bàn cân mà cân, nhưng Thúy Kiều buộc phải tính:

Duyên hội ngộ đức cù lao

Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn

Rồi Thúy Kiều (hay Nguyễn Du cũng vậy) mới tự nhủ rằng: “Làm con trước phải đền ơn sinh thành” và đi đến quyết định: “Dẽ cho để thiếp bán mình chuộc cha!”. Từ đó, sau khi bán mình được 400 lạng vàng để lo lót  chuộc cha, Thúy Kiều phải 15 năm lận đận, long đong, nhiều lúc phải ra vào chốn lầu xanh.

Như thế, để nói rằng, dù có bay bổng như thế nào đi nữa, đại thi hào Nguyễn Du cũng phải tuân thủ thuyết Nho giáo “trung-hiếu”, tất cả chữ “tình” dù đẹp đẽ, trong sáng như thế nào đi chăng nữa cũng phải đặt dưới, cũng phải chịu hy sinh cho chữ “trung-hiếu”.

Hồ Chí Minh mư­­ợn khái niệm của Nho giáo, nh­ưng chữ “trung” ở đây có nội dung hoàn toàn mới, đó là “trung với nư­ớc” còn “hiếu” ở đây không chỉ riêng hiếu với cha mẹ mà là hiếu với dân, trong đó có cha mẹ. Đã có người thắc mắc và khuyên Hồ Chí Minh không nên dùng những lời lẽ cổ, những mệnh đề ngôn ngữ cổ của Nho giáo. Hồ Chí Minh thì quan niệm rằng, cổ, nhưng nó như không khí đã có từ lâu đều có ích cho con người và con người vẫn còn dùng được. Theo đó, những mệnh đề ngôn ngữ của Nho giáo về tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, vốn là sự đúc kết lý luận-thực tiễn của Nho giáo, mang đặc trưng “chữ ít ý nhiều” của các mệnh đề Nho giáo được ông dùng lại nhưng với nội dung mới. Điều này thì ngay cả ở Trung Quốc sau này – quê hương của Nho giáo – thì chưa ai có thể dùng được các mệnh đề của Nho giáo vào cuộc sống mới như Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh cho rằng, ng­ười cách mạng phải đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết và tr­ước hết. Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải là những ng­ười “Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo đói không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục” (Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất).

Hồ Chí Minh đặt chữ “trung” lên hàng đầu trong cả cuộc đời của mình và ông viết trong Di chúc khi đề cập việc riêng: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không đư­­ợc phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[17].

Trung với nư­ớc ở Hồ Chí Minh trở thành lẽ sống tự nhiên và ông ý thức đ­ược trách nhiệm phục vụ nhân dân, kể cả khi đã đứng ở đỉnh tháp của quyền lực. Hồ Chí Minh không bị quyền lực làm cho mờ mắt. Ông cho rằng, từ người chủ tịch nước cho đến người cấp dưỡng, quét rác, ai mà làm tròn nhiệm vụ của mình thì đều là người cao thượng, là người làm tròn chữ “trung”. Mỗi một người trong xã hội đều ứng với một công việc cụ thể, một nhiệm vụ cụ thể; hễ người nào hoàn thành và hoàn thành tốt việc đó, nhiệm vụ đó thì đó là trung. Chữ trung đó được đo bằng kết quả cụ thể, bằng hiệu quả công tác, chứ không phải bằng lời nói, bằng việc hô khẩu hiệu cho to, cho lớn, cho dõng dạc, lời lẽ khẩu hiệu cho mỹ miều.

Hiếu với dân là nội dung rất cơ bản trong quan niệm của Hồ Chí Minh trong cái cặp chỉnh thể “Trung với nước hiếu với dân”, trong đó có hiếu với cha mẹ mình, và nói rộng ra là tình họ hàng.

Quan niệm dân của phong kiến có thể diễn tả sơ lược nhất là: Nho giáo Trung Quốc chia xã hội làm hai loại người: quân tử và tiểu nhân. Thường là dân thuộc loại tiểu nhân, những người hèn kém, những người lao động chân tay, những phụ nữ. Còn quân tử là những trí thức quan lại. Vua là Thiên tử (con trời), quan lại là phụ mẫu (cha mẹ) để chăn dắt dân. Nho giáo vào Việt Nam cũng đã “Việt Nam hoá” một phần do điều kiện chi phối của hoàn cảnh. Nguyễn Trãi cho rằng, chở thuyền và lật thuyền đều do dân. Trần Hưng Đạo nói rằng, phải nới sức dân để làm kế rễ sâu bền gốc, v.v. Tư tưởng của hai ông là tư tưởng tiến bộ, vượt thời đại, và nó không thể nào được thực hiện trong các thời kỳ phong kiến. Rốt cục, dân chỉ là đối tượng để các quan “phụ mẫu” chăn dắt phục vụ cho quyền lực của giai cấp phong kiến.

Quan niệm về dân của hệ tư tưởng tư sản Việt Nam có tiến bộ hơn phong kiến, nhưng không đầy đủ. Đáng chú ý là cách nhìn nhận của họ về dân thiếu lực lượng cơ bản nhất trong xã hội là công nhân và nông dân. Chẳng hạn, Phan Bội Châu đưa ra một quan điểm tập hợp lực lượng cách mạng như sau: 1. Phú hào; 2. Quý tộc; 3. Sĩ phu; 4. Lính tập; 5. Tín đồ đạo Thiên chúa; 6. Du đồ hội đảng; 7. Nhi nữ anh sĩ; 8. Thông ngôn; 9. Ký lục; 10. Bồi bếp. Về cuối đời, Phan Bội Châu cũng đã nhìn thấy lực lượng công nông nhưng lực bất tòng tâm, lực đã tàn, sức đã kiệt.

Vượt lên trên những hạn chế đó, từ quan điểm chủ nghĩa dân tộc, Hồ Chí Minh muốn tập hợp tất thảy những người yêu nước vào sự nghiệp cách mạng. Cho nên, theo Hồ Chí Minh, dân là những người yêu nước, không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc, giàu nghèo, gái trai…, là “đồng bào” (cùng một bọc của bà Âu Cơ), những “con Rồng cháu Tiên”. Như vậy, biên độ về dân theo Hồ Chí Minh rất rộng, cốt lõi là công nông, nhưng không chỉ là công nông trong việc xây dựng mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và dân trong sự nghiệp cách mạng nói chung và trong cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nói riêng.

Mục đích của Đảng là dân là một – đó là tư tưởng xuyên suốt của Hồ Chí Minh trong suốt cả quá trình hoạt động cách mạng. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, mục đích của Đảng đã được xác định rất rõ ràng: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đó là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân để giải phóng dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc, đưa đất nước đi lên theo con đường cách mạng vô sản.

Cuộc cách mạng đó đưa lại quyền lợi cho toàn thể nhân dân lao động, thậm chí cả một bộ phận giai cấp bóc lột. Chính vì thế, trong Cương lĩnh đầu tiên, Đảng Cộng sản Việt Nam nêu một chương trình tập hợp lực lượng cách mạng là không những tập hợp công nông mà còn “lôi kéo tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản; Đảng tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung”, đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng.

Như vậy là, 500 năm sau Nguyễn Trãi, đã có một con người như Hồ Chí Minh nhìn nhận về dân, tuy khác thời đại, nhưng chung một ý. Nhưng, cái biện chứng của Hồ Chí Minh là ở chỗ: ông không sa vào chung chung, mà ông đề cập vấn đề dân trong thang bậc của ý thức giác ngộ chính trị.

Hồ Chí Minh, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947), chia dân làm ba loại hoặc ba hạng: tiên tiến, vừa vừa, lạc hậu. Nhiệm vụ của những người hiếu với dân là phải làm cho dân giác ngộ để đưa dân lên hàng “dân tiên tiến”. Ba hạng dân như vậy có chuyển hoá lẫn nhau trong một cá nhân, cũng có thể chuyển hoá trong các khối dân cư. Dân thật đấy, nhưng có lúc vác búa vào rừng chặt hết rừng đầu nguồn thì đã trở thành lâm tặc, trở thành dân lạc hậu. Dân, nhưng ra biển cắt hết cáp quang thì không thể coi đó là dân vừa vừa được, càng không thể là dân tiên tiến. Một bà mẹ Việt Nam dâng hiến ba người con của mình ra trận chống giặc ngoại xâm, và có người con mãi mãi không về, lúc ấy đang là “dân tiên tiến”. Cũng bà mẹ đó, mấy hôm sau cãi nhau với hàng xóm vì mấy con gà sang bới nát vườn rau, mà bà ấy dùng những ngôn từ trong từ điển không có, thì lúc ấy bà mẹ đã rớt xuống hàng lạc hậu trong tình làng nghĩa xóm, trong đời sống văn hoá của cộng đồng dân cư.

Gần dân, hiểu dân, vì dân, đó là phong cách Hồ Chí Minh, đó là sự hiếu với dân của Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền, càng đứng ở vị trí cao của quyền lực (tuy quyền lực đó là do dân trao cho), càng dễ bị xa dân. Nhất là bị “cơ chế” trói buộc.

Đi thăm các địa phương, ngành chẳng hạn, tất nhiên phải bố trí lộ trình, phải định kế hoạch, nói chung là phải được sắp đặt, v.v. Và như thế, với chương trình lập sẵn, được bố trí, dễ bị loè, dễ bị dối, thật khó mà gần dân. ấy vậy mà Hồ Chí Minh nhiều khi “thoát” được “cơ chế” đó. Nhiều lúc ông đến không báo trước, không theo lộ trình định sẵn, ông hoà đồng vào dân chúng, tìm hiểu cặn kẽ cuộc sống của nhân dân, nói tiếng nói hoà đồng cùng nhân dân. Hồ Chí Minh không muốn đến với dân chúng khi người ta tiền hô hậu ủng, băng cờ khẩu hiệu, đón rước linh đình.

Hiếu với dân ở Hồ Chí Minh là ông coi cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo đồng thời là người đày tớ, là trâu ngựa của nhân dân.

Ngày 15 tháng 10 năm 1949, Hồ Chí Minh đăng bài “Dân vận” với bút danh X.Y.Z. trên báo Sự Thật, số 120. Về sau, bài này đư­ợc in trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 698 – 700.

Trong bài này, Hồ Chí Minh đưa ra một thông tin đầu tiên cho người đọc rằng: “Vấn đề Dân vận nói đã nhiều, bàn đã kỹ như­ng vì nhiều địa phương, nhiều cán bộ ch­ưa hiểu thấu, làm chưa đúng, cho nên cần phải nhắc lại”. Chúng ta biết rằng, trước bài này, Hồ Chí Minh đã viết rất nhiều bài hoặc nói chuyện ở nhiều địa phương, cơ quan, trong đó đề cập công tác vận động quần chúng. Trư­ớc bài “Dân vận” này 2 năm, cũng với bút danh X.Y.Z., Hồ Chí Minh đã công bố tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” khá dài, trong đó đề cập kỹ vấn đề mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, và đư­ơng nhiên có công tác vận động quần chúng của Đảng (Dân vận).

Dân vận là vấn đề lớn trong quá trình hoạt động của bất kỳ chính đảng nào, nó càng cực kỳ quan trọng đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn Đảng cầm quyền. Giải quyết tốt vấn đề này có tính chất quyết định thành công đến sự tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư­ cách là một tổ chức đ­ược nhân dân, đư­ợc dân tộc giao phó trách nhiệm thay mặt mình gánh vác trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh cho thắng lợi của cách mạng. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm này rằng: “Lực lượng của dân rất to. Việc dân vận rất quan trọng. Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.

Vấn đề dân vận tư­ởng đơn giản, dễ làm, như­ng thực tế, không phải chỉ cuối những năm 40 của thế kỷ XX lúc Hồ Chí Minh viết bài “Dân vận” này, mà cả cho đến hiện nay, ở Việt Nam vẫn ch­ưa làm tốt, vẫn còn nhiều vấp váp, do đó làm tổn hại đến uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam trước nhân dân, ảnh hư­ởng xấu đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Trong lịch sử hàng chục năm đứng ở vị trí cầm quyền (“Cầm quyền” với nghĩa là lãnh đạo chính quyền và lãnh đạo toàn xã hội), ở đất nước Việt Nam vừa qua xuất hiện những hiện t­ượng rất mới lạ làm cho mọi người lo lắng, cảm thấy có vấn đề bất ổn. Đó là có những phản ứng gay gắt, không phải đơn lẻ mà có tính chất phổ biến, của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền cấp xã, cấp huyện mà điển hình là ở tỉnh Thái Bình trong những năm 1997, 1998.

Đó là hàng loạt “điểm nóng” chủ yếu xuất phát từ khiếu kiện giải quyết vấn đề nhà, đất ở hầu khắp các địa ph­ương. Chính phủ đã từng thành lập nhiều đoàn công tác đi tìm hiểu, giải quyết, như­ng giải quyết không xuể, “hầu hết ý kiến của dân phản ánh là đúng”, “dân kêu chịu không xiết” (Báo Lao Động, 24-5-2004). Đó là tình trạng dân kéo đến tụ tập ở nhiều trụ sở Đảng, chính quyền ở trung ư­ơng, ở các thành phố, tỉnh khiếu kiện kéo dài. Đó là những vụ bạo loạn ở Tây Nguyên những năm 2001, 2004, trong đó do có cả nguyên nhân từ những khuyết điểm của công tác dân vận tích tụ lại trong nhiều năm sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975 ở địa bàn trọng yếu này, v.v.

Một thực tế hiển hiện đã lâu là Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền với sự ra đời của n­ước Việt Nam mới từ ngày 2-9-1945 – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà — và thực sự phát huy vai trò cầm quyền ở miền Bắc khi miền Bắc đư­ợc hoàn toàn giải phóng sau ngày 20-7-1954, rồi thực hiện trách nhiệm cầm quyền lớn lao hơn đối với phạm vi cả nư­ớc sau khi hoàn toàn giải phóng miền Nam, thống nhất đất nư­ớc, sau ngày 30-4-1975.

Hệ quả của vị trí và vai trò này đã chế định một thực tế là tuyệt đại đa số những ng­ời có chức, có quyền là đảng viên cộng sản, do đó, dễ làm cho đảng viên có chức, có quyền đó xa dân, hách dịch, cửa quyền đối với dân. Đồng thời, trên thực tế khi vận hành cơ chế thực thi quyền lực của xã hội trong vai trò cầm quyền, nhiều tổ chức Đảng và đảng viên lại không chú trọng bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của dân. Sự “cầm quyền” của Đảng Cộng sản Việt Nam lẽ ra phải đ­ược nhận thức và phải đư­ợc thực thi là cái quyền mà Đảng Cộng sản Việt Nam cầm là quyền từ dân giao cho, uỷ thác cho Đảng, nh­ưng trên thực tế không phải lúc nào cũng được nhận thức và được thực thi theo nghĩa như­ vậy. Về vấn đề quyền lực của Đảng, của lãnh tụ do dân giao phó, chúng ta thấy Hồ Chí Minh nói rất rõ khi ông quan niệm đó là từ cái gốc, từ quyền lực của nhân dân trao cho ông.

Hiện nay, với tất cả sự tỉnh táo của một đảng tiền phong, cầm quyền, chúng ta càng thấy rõ hơn một điều rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đứng trư­ớc nguy cơ thoái hoá, biến chất, mà một trong những biểu hiện rõ ràng nhất là mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với dân bị giảm sút sự bền chặt đến mức đáng lo ngại. Hiện đang vừa có tình trạng dân giảm sút lòng tin đối với Đảng, vừa có tình trạng Đảng trên thực tế của một số địa phương, một số cấp giảm lòng tin vào dân. Hai tình trạng này đang song hành và đang có tác hại xấu như­ nhau đến sự nghiệp đổi mới.

Từ trư­ớc đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có rất nhiều nghị quyết, chỉ thị về tăng c­ường mối quan hệ giữa Đảng đối với dân. Đã có cả một cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nư­ớc quản lý, nhân dân làm chủ” (về sau có lúc đổi vế thứ tự là “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý”); có cả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” (và có ngư­ời bổ sung là “…dân hưởng”); có cả bài học quan trọng mà Đại hội VI nổi tiếng năm 1986 rút ra là “Lấy dân làm gốc”; có cả các ban chuyên trách, tham mưu của các cấp uỷ Đảng từ Trung ư­ơng xuống đến tận cấp huyện là các Ban Dân vận.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Nghị quyết 8B Khoá VI chuyên về công tác vận động quần chúng. Nhà n­ước có một loạt luật để điều chỉnh quan hệ xã hội của các tổ chức chính trị-xã hội. Cuối những năm 90 của thế kỷ trư­ớc, Ban Bí thư­ Trung ­ ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 8-2-1998 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Theo đó, Chính phủ đã ban hành các Quy chế dân chủ ở cơ sở t­ương ứng với các loại hình ở nông thôn, cơ quan…

Bấy nhiêu chủ trư­ơng, biện pháp, song hiệu quả vẫn còn thấp, mối quan hệ giữa Đảng với dân vẫn đang ở vào tình trạng “có vấn đề”. Nguy cơ Đảng xa dân, dân xa Đảng vẫn hiện hữu, nó đang cảnh báo cho Đảng Cộng sản Việt Nam rằng, nếu không tiếp tục đẩy mạnh, củng cố mối quan hệ bền chặt giữa Đảng với nhân dân thì Đảng sẽ bị suy yếu, thậm chí đi đến tan rã. Đó cũng là bài học từ sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như­ các đảng cộng sản cầm quyền ở các n­ước Đông Âu cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX.

Toàn bộ bài báo “Dân vận” của Hồ Chí Minh công bố ngày 15-10-1949 chỉ gồm 611 từ, tương ứng với 2 trang in, 4 mục gọn, chặt chẽ. Tuy Hồ Chí Minh quan niệm bài báo này là chỉ “nhắc lại” những vấn đề “đã nói nhiều, bàn đã kỹ” như­ng người đọc thấy toát lên quan điểm toàn diện, có tính chất rất cơ bản, có ý nghĩa chỉ đạo cho công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền, đoàn thể… ở nư­ớc ta. Bài báo toát lên văn phong theo phong cách Hồ Chí Minh, nghĩa là: không cầu kỳ, mà giản dị, dễ hiểu, đi thẳng vào những nội dung chính yếu nhất của chủ đề.

Hồ Chí Minh chỉ rõ nền tảng của công tác dân vận bằng quan điểm:“Nước ta là nư­ớc dân chủ”, và nêu cụ thể như sau:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ­ ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ­ ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lư­ợng đều ở nơi dân”.

Từ những điều trên đây, có thể rút ra một số quan niệm về nền tảng của công tác dân vận như­ sau:

Một: nhân dân có vai trò cực kỳ to lớn trong đời sống chính trị-xã hội của Việt Nam.

Có thể nói rằng, quyền lực của dân đứng ở vị trí tối thư­ợng trong hệ thống quyền lực của đất nư­ớc. Về vấn đề này, nếu liên hệ với thực tế thì trong cấu trúc quyền lực Nhà nước mới ở Việt Nam từ tháng 9 năm 1945 đến nay đã đ­ược ghi vào bốn bản Hiến pháp là: tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Hồ Chí Minh hay nêu lên rằng, nhân dân lao động là người làm chủ, còn Đảng, Chính phủ cũng như cán bộ, đảng viên, công chức chỉ là công bộc, là đầy tớ của nhân dân mà thôi. Điều này cũng được không ít người phản ánh khi đề cập, bàn luận về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân d­ưới sự lãnh đạo của Đảng phải đi đôi xây dựng một xã hội công dân (hoặc xã hội dân sự). Lập luận của quan điểm này cho rằng, trong hai cái đó thì cái này là điều kiện tiên quyết của cái kia, và ngư­ợc lại, hoặc chúng gắn với nhau như­ hình với bóng.

Hai: tất cả quyền lực trong xã hội Việt Nam đều đ­ược cấu tạo trên cơ sở quyền lực của nhân dân và đều xuất phát từ vị trí, vai trò của nhân dân.

Vấn đề quyền con ngư­ời đã đư­ợc ghi trong các văn bản pháp lý của nhiều nước mà trong bản Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời n­ước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đọc tại vư­ờn hoa Ba Đình ngày 2-9-1945 đã dẫn Tuyên ngôn độc lập của nư­ớc Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791.

Từ rất sớm, ngay trong những bài giảng đầu tiên cho cán bộ Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên (những năm 1925-1927) để gây dựng lực lượng tiến bước theo con đư­ờng giải phóng dân tộc với xu hư­ớng cộng sản, Hồ Chí Minh đã nêu Tuyên ngôn của Mỹ có câu: “Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sư­ớng… Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ Chính phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác”[18]. Hồ Chí Minh cũng nhắc lại ý này trong bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá khi ông đến thăm Thanh Hoá vào tháng 2 năm 1947: “Chính phủ Cộng hoà Dân chủ là gì? Là đày tớ chung của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải là để thăng quan, phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”[19].

Nh­ư vậy, Hồ Chí Minh có quan điểm nhất quán: mọi quyền hạn đều của dân; chính quyền từ cơ sở đến trung­ ương đều do dân cử ra. Điều này hoàn toàn phù hợp với cấu trúc xã hội dân chủ hiện đại, điều đã được ghi vào Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946, một Hiến pháp rất đặc sắc, tiến bộ. Quá trình tồn tại và phát triển của nhiều nhà n­ước hiện nay trên thế giới cho chúng ta thấy một hệ quả: quyền lực của nhà nước chính là quyền lực lấy từ nơi dân.

Hồ Chí Minh quan niệm là Đảng do dân lập ra. Trong bài “Dân vận”, Hồ Chí Minh dùng từ “Đoàn thể” để thay cho từ “Đảng”. Sở dĩ như­ vậy là do từ cuối năm 1945, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán (như­ng kỳ thực là rút vào hoạt động bí mật). Trong các văn bản của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước từ cuối năm 1945 đến tháng 2 năm 1951, tức là đến lúc Đảng ra hoạt động công khai, từ “Đảng” cũng th­ường được thay bằng từ “Đoàn thể”. Quan điểm Đảng do dân lập ra (mà trong bài “Dân vận”, Hồ Chí Minh viết: “Đoàn thể từ Trung­ ương đến xã do dân tổ chức nên”) là quan điểm thoạt tiên nghe rất mới và rất lạ, như­ng xét đến cùng thì cũng là do kết quả của những luận điểm nhất quán của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với nhân dân.

Hồ Chí Minh cũng chú ý rằng, dân có lợi ích và đồng thời phải có trách nhiệm (tức là quyền lợi và nghĩa vụ đi đôi với nhau). Theo quan điểm này của Hồ Chí Minh thì tất cả mọi hoạt động của hệ thống chính trị đều phải nhằm vào lợi ích của dân. Đây là quan điểm mà Hồ Chí Minh nói và viết rất nhiều trong tất cả các thời kỳ của cách mạng (Chẳng hạn, những câu nh­ư: việc gì có lợi cho dân, dù nhỏ cũng cố gắng làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng phải hết sức tránh; phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân được học hành; Đảng không có mục đích nào khác là vì lợi ích của nhân dân; nếu dân đói là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi; chúng ta đã giành được độc lập rồi mà dân vẫn cứ đói rét thì độc lập chẳng có nghĩa gì; Đảng và Chính phủ phải lo tương cà mắm muối cho nhân dân; Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, v.v.).

Như­ng quyền lợi phải luôn luôn đi đôi với nghĩa vụ, mà trong tác phẩm “Dân vận”, Hồ Chí Minh dùng những từ “trách nhiệm của dân”. Đây là vấn đề xuất phát từ quan điểm của Hồ Chí Minh về dân chủ: dân là chủ và dân làm chủ, cả hai vế này đều quan trọng như­ sau, chúng làm thành một thể thống nhất. Dân là chủ là nói về vị thế của dân, còn dân làm chủ là nói về trách nhiệm của dân.

Hồ Chí Minh nêu lên quan niệm thế nào là dân vận? Hồ Chí Minh viết: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”. Quan niệm như­ vậy phản ánh tính chất quần chúng trong hành động cách mạng mà Hồ Chí Minh đã sử dụng trong tất cả các lời hiệu triệu toàn dân (đồng bào) tr­ước những nhiệm vụ trọng đại của dân tộc. Những lời kêu gọi tổng khởi nghĩa, lời kêu gọi kháng chiến toàn quốc tháng 12 năm 1946, lời kêu gọi chống Mỹ, cứu nước ngày 17-7-1966…là sự phản ánh rõ ràng nhất quan điểm của Hồ Chí Minh sử dụng sức mạnh của cả toàn dân tộc.

Hồ Chí Minh xác định cán bộ phụ trách dân vận là cán bộ chính quyền, cán bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, các hội viên của tổ chức nhân dân (mặt trận) và nhấn mạnh những yêu cầu của công tác dân vận, bao gồm:

Một là: phải chống quan liêu.

Hồ Chí Minh viết: “Những ngư­ời phụ trách dân vận cần phải có óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”. Trên thực tế, làm công tác dân vận hoàn toàn khác với những công tác sự vụ trong công tác Đảng, chính quyền, bởi vì đối t­ượng vận động là tất cả mọi người dân. Ở đây, không thể chấp nhận lối làm việc “chỉ tay năm ngón” (từ mà Hồ Chí Minh hay dùng), do vậy làm công tác dân vận phải áp sát, “nhúng tay vào việc”. Bệnh quan liêu là bệnh thường hay mắc phải trong điều kiện Đảng cầm quyền nếu cán bộ, đảng viên không chịu rèn luyện phong cách công tác cũng như­ nâng cao tinh thần trách nhiệm. Chính là bệnh quan liêu cộng với bệnh tham ô, bệnh lãng phí đã bị Hồ Chí Minh coi là “giặc nội xâm”, “thứ giặc ở trong lòng”, nó “nguy hiểm hơn bọn Việt gian, mật thám”. Quan liêu hiện nay không chỉ có ở cấp cao mà nó xẩy ra ngay ở cấp cơ sở, cấp chi bộ.

Với vị trí quyền lực cao, con người ta dễ trở nên độc tài, mất dân chủ, quên đi cội nguồn quyền lực mà bản thân mình có. Trong suốt 21 năm đứng ở đỉnh tháp của quyền lực, Hồ Chí Minh luôn luôn ý thức được của mình do đâu mà có và ông sử dụng quyền lực đó cho ích quố lợi dân. Ông hay nói đến vị trí, quan hệ của người cán bộ, đảng viên đối với dân, đặt người cán bộ vào vị trí vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân. Nhưng, có một quan niệm độc đáo hơn của ông. Khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng kết thúc, trong buổi Lễ ra mắt Đảng Lao động Việt Nam, ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh nói:

“Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, nghĩa là những người thợ thuyền, dân cày và lao động trí óc kiên quyết nhất, hăng hái nhất, trong sạch nhất, tận tâm tận lực phụng sự Tổ quốc và nhân dân. Những người mà:

– Giàu sang không thể quyến rũ

– Nghèo khó không thể chuyển lay,

– Uy lực không thể khuất phục.

Nói về người cách mạng và đảng cách mạng, nhà đại văn hào Trung Quốc là ông Lỗ Tấn có câu thơ

“Hoành my lãnh đối thiên phu chỉ,

Phủ thủ cam vi nhũ tử ngưu”.

Xin tạm dịch là:

“Trợn mắt xem khinh nghìn lực sĩ,

Cúi đầu làm ngựa kẻ nhi đồng”.

“Nghìn lực sĩ” có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: lũ thực dân Pháp, bọn can thiệp Mỹ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ.

“Các nhi đồng” nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành, đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích nước, lợi dân.

Đảng Lao động Việt Nam không sợ kẻ địch nào dù cho chúng hung tợn đến mấy, không sợ nhiệm vụ nào dù nặng nề nguy hiểm đến mấy, nhưng Đảng Lao động Việt Nam sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa (Tôi nhấn mạnh – MQT), làm tôi tớ trung thành của nhân dân”[20].

Làm “tôi tớ”, làm “đày tớ”, làm “công bộc”, thì đã đành, và Hồ Chí Minh đã không ít lần dùng những cụm từ đó, nhưng lần này, ông dùng cụm từ bắt mắt, bắt tai hơn: “Làm trâu ngựa” trung thành của nhân dân. Tôi muốn nhấn mạnh điều này là bởi vì trong cuộc sống hiện nay, vẫn còn có nhiều người khi ở vào địa vị lãnh đạo thì hành dân, ức hiếp nhân dân, mà không tự đặt mình vào vị trí đày tớ, trâu ngựa của dân. Những giá trị phản văn hoá như nhũng nhiễu, tham lam trong cuộc sống hiện đại vẫn còn rất nhiều, đến mức trở thành những chuyện tiếu lâm thời nay khi người ta nhìn về “đày tớ” của dân, khi thấy dày tớ ăn chơi trác táng, tham nhũng không có điểm dừng (Vụ việc PMU 18 thuộc Bộ Giao thông vận tải bị phanh phui năm 2006 và đem ra xét xử năm 2007 chỉ là một trong rất nhiều vụ việc đã xảy ra về việc này). Những người này không bao giờ cảm nhận được quyền lực mà họ thực thi là do nhân dân – là những người chủ – giao cho.

Trong cuộc sống số hiện nay, khi mà những tiến bộ của khoa học và công nghệ cho phép giao tiếp của con người nhanh hơn, phong phú hơn thì chính bi kịch lại diễn ra: người lãnh đạo dễ bị xa dân nhất. Cách đây mấy chục năm thôi, ít ai có thể hình dung được những cầu truyền hình trực tiếp, những mạng viễn thông toàn cầu giúp cho con người nói và nhìn thấy nhau một cách trực tiếp. Ngồi ở Việt Nam những tối thứ bảy, chủ nhật xem vô tuyến truyền hình trực tiếp những trận đấu bóng đá của Anh, Italia…thì thật tuyệt vời. Có trận đá bóng dưới trời mưa, tôi đã nghe thấy tiếng mưa tí tách vào thời khắc đó truyền trực tiếp từ Rôma, nghe cả tiếng hắt xì hơi trong khu chỉ đạo của ban huấn luyện đội Liverpool. Mạng internet lại càng tuyệt diệu hơn nữa trong việc đưa lại thông tin trực tuyến, phong phú, nhiều chiều, nhanh nhạy cho con người. Với những tiến bộ của khoa học và công nghệ như hiện nay, đặc biệt là công nghệ tin học, thế giới như được thu nhỏ lại, thời gian như được thu hẹp lại. ấy vậy, bệnh quan liêu không những không thuyên giảm mà lại có xu hướng nặng thêm. Trong xã hội hiện đại, trình độ dân chủ ở Việt Nam đã được nâng lên, nhưng văn hoá dân chủ của một số cấp lãnh đạo, một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, thậm chí của cả người dân vẫn không theo kịp*.

Hai là: phải sâu sát, tỷ mỉ, có ph­ương pháp tốt.

Liên quan đến yêu cầu trên đây, Hồ Chí Minh cho rằng:

1. Phải giải thích cho mỗi một ngư­ời dân hiểu rõ lợi ích và trách nhiệm của mình;

2. Sau đó, phải bàn bạc với dân để hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân;

3. Đặt ra kế hoạch thiết thực;

4. Tổ chức toàn dân thực hiện kế hoạch, trong đó có việc tổ chức nhân công, sắp xếp việc làm, v.v.;

5. Trong quá trình thực hiện kế hoạch, phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích nhân dân giải quyết những việc khó khăn (Đối với nông nghiệp, Hồ Chí Minh nhấn mạnh các chi tiết là phải thiết thực bày vẽ cho dân cách trồng trọt, chăn nuôi, cách chọn giống, ủ phân, làm cỏ, v.v.);

6. Khi thực hiện xong, phải cùng với dân xem xét lại công việc đã làm, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng (sơ kết).

Đây là một quy trình hợp lý, khoa học, nếu áp dụng một cách nghiêm túc trong thực tế công tác dân vận thì chắc chắn sẽ thành công. Rất tiếc, trong thực tế, bệnh hám thành tích diễn ra khá nặng, và đó là căn bệnh trầm kha, do đó để xẩy ra tình trạng ham chuộng hình thức; nhiều phong trào thi đua yêu n­ước được phát động như­ng xét về thực chất hiệu quả không có. Trong bình bầu, số đạt danh hiệu thi đua chiếm tỷ lệ cao như­ng phong trào cách mạng không phát triển tương ứng với các con số tỷ lệ đó.

Đã có ý kiến cho rằng, Việt Nam là một nước có tỷ lệ người được khen thưởng huân chương, huy chương, huy hiệu, kỷ niệm chương các loại nhiều nhất trên thế giới. Hồ Chí Minh không có một huân chương nào của Việt Nam. Đúng ra là có một lần Quốc hội định tặng cho Hồ Chí Minh Huân chương Sao Vàng, huân chương bậc cao nhất của Việt Nam, nhưng ông không nhận, ông chỉ muốn nhận khi nào sự nghiệp chống Mỹ thành công, đồng bào miền Nam thay mặt đồng bào cả nước trao tặng ông. Có lẽ làm như vậy để thúc dục tích cực hơn cho sự nghiệp giải phóng miền Nam chăng, hoặc đó chỉ đơn thuần là tình cảm của Hồ Chí Minh đối với đồng bào miền Nam quá sâu nặng, hay là gì nữa để dè chừng trao tặng huân chương tràn lan?

Ba là: Hồ Chí Minh l­ưu ý những điều cần tránh.

Hồ Chí Minh l­ưu ý trư­ớc hết là tránh mắc khuyết điểm xem khinh công tác dân vận. Vì có tư tưởng coi khinh công tác dân vận cho nên “thường cử những cán bộ kém” phụ trách công tác dân vận. Trong thực tế, đây là khuyết điểm dễ mắc nhất. Ngay cả việc phân công cấp uỷ viên phụ trách cơ quan chuyên trách công tác dân vận thì có nơi có tâm lý là cấp uỷ viên đó không muốn nhận. Hồ Chí Minh cũng lưu ý chống căn bệnh khoán trắng công tác dân vận cho một ban và cho một vài ngư­ời. Hồ Chí Minh cho rằng: “Đó là sai lầm rất to, rất có hại”. Khi đã khoán trắng thì “vận đư­ợc thì tốt, vận không được cũng mặc. Những cán bộ khác không trông nom, giúp đỡ, tự cho mình không có trách nhiệm dân vận”.

Nhiều chiến sĩ cách mạng biết rằng: đi hoạt động cách mạng thì rất có thể sẽ bị tù đày, bị lên máy chém, đứng trư­­ớc pháp trường của đế quốc, hoặc gia đình họ bị tan nát. Như­­ng họ sẵn sàng chấp nhận, coi cái chết tựa như­­ lông hồng, bởi vì có tấm lòng trung với n­ước, hiếu với dân, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Ngày nay, hoàn cảnh đó không còn, như­­ng chữ  “trung-hiếu” vẫn còn đó. Có những ng­­ười không chết bởi “mũi tên hòn đạn” của đế quốc trong thời kỳ chống ách ngoại bang mà “chết” bởi sự cám dỗ của vật chất, đồng tiền, của sự đam mê quyền lực và nhiều vấn đề khác.

Chữ hiếu của Nho giáo cũng quá cứng nhắc và có nhiều mặt sai lầm. Nho giáo coi quan hệ cha – con (phụ tử) là người con nhất nhất phải phục tùng cha, đến mức cực đoan là “Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu” (Nghĩa là cha bắt con chết thì con phải chết mới được coi là hiếu, nếu không thì không có hiếu với cha).

Đối với quan hệ huynh — đệ (anh – em), Nho giáo đề cao chữ “thuận”, nhưng trong cuộc sống, chữ “thuận” phải tuân thủ nguyên tắc “quyền huynh thế phụ” (Nghĩa là người anh thay cha bắt người em phải theo). Trong quan hệ bằng hữu (bạn bè), Nho giáo đề cao chữ “tín” (tin tưởng) nhưng thực tế của xã hội phong kiến đi theo nguyên tắc bất bình đẳng do mức độ mạnh – yếu, giàu – nghèo, sang – hèn, chức vụ cao – thấp, v.v. Có lẽ do cả “ngu trung”, do cả những quan niệm cứng nhắc, có nhiều mặt sai lầm của Nho giáo như trên, cho nên ở Trung Quốc, quê hương của Nho giáo có cả người khen, người chê các quy định của Nho giáo. Quan hệ đẳng cấp, tôn ti trật tự của Nho giáo, nhất là thái độ, nguyên tắc hà khắc đối với phụ nữ, mà Đại văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc cho rằng đạo đức của Nho giáo là “đạo lý ăn thịt người”.

Có người tỏ ý nghi ngờ về chữ “hiếu” đối với cha mẹ, tình huynh đệ của Hồ Chí Minh. Họ có quyền đặt ra nhiều nghi vấn. Chẳng hạn: tại sao Hồ Chí Minh về quê hai lần (người ta cho là quá ít, trong khi đó đến thăm địa phương khác nhiều gấp bội – nhưng thôi, không bàn đến chuyện đó), cả hai lần ông không lên mộ thắp hương cho mẹ mình và viếng mộ những người thân? Thật ra thì quan niệm của Hồ Chí Minh là về tới đất nước cũng tức là về quê rồi[21].

Tại sao Hồ Chí Minh không về quê chăm sóc anh trai của mình là ông Nguyễn Sinh Khiêm lúc ốm nặng và không về lo liệu đám tang cho người anh khi người anh qua đời, lúc trong gia đình chỉ còn lại hai anh em? Tại sao Hồ Chí Minh không có một liên lạc gì với gia đình, họ hàng, nhất là đối với chị gái và anh trai của mình khi về nước từ năm 1941, và nhất là khi đã trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mà để mọi người trong gia đình đoán già đoán non Hồ Chí Minh có phải chính là người của gia đình mình không? Tại sao trong Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng hiện được in rất đẹp thường được dán trang trọng ở góc học tập của các em học sinh, không thấy có một điều nào dặn học sinh, thiếu niên nhi đồng phải có hiếu với mẹ cha? v.v.

Vô vàn câu hỏi nữa có thể được đặt ra. Nhưng, để nói rằng, Hồ Chí Minh không quan tâm chữ hiếu đối với cha mẹ, không quan tâm tình cảm anh em họ hàng, thì hoàn toàn không đúng.

Hồ Chí Minh đề cập chữ “hiếu” rộng hơn và tích cực hơn so với chữ “hiếu” của Nho giáo. Rộng hơn là bởi vì ông cho rằng hiếu là hiếu với dân, trong đó có hiếu với cha mẹ mình và rộng ra nữa là tình anh em, họ hàng.

Đã có thời những người hận thù cộng sản ra sức xuyên tạc về “chân dung” của người cộng sản khi cho rằng, ng­ười cộng sản là ngư­­ời không có tình cảm, không có tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em, v.v. Thậm chí, cực đoan hơn, họ còn vẽ tranh tuyên truyền ng­ười cộng sản mồm ngậm con dao găm mặt đằng đằng sát khí.

Sự thực ra sao? Trong chuyến công du sang thăm Pháp với tư cách Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946, trong một buổi tiếp xúc với báo chí, với ý định nhấn mạnh sự không cảm tình cộng sản, có nhà báo đã hỏi Hồ Chí Minh: “Thưa Chủ tịch, Chủ tịch có phải là cộng sản không?”. Hồ Chí Minh trả lời bằng cách đến bên lẵng hoa, vừa rút từng bông hoa tặng mỗi nhà báo đứng gần kèm theo câu trả hóm hỉnh: “Tôi là người cộng sản như thế này này” (Je suis communist comme ca).

Ngư­ời cộng sản cũng như­­ bao con ngư­­ời khác, cũng có trạng thái tâm lý hỷ, nộ, ái, ố, cũng có tình cảm, cũng có tình nghĩa, cũng có một cuộc sống gia đình bình thường. Có khác chăng là nếu cách mạng cần thì họ sẵn sàng hy sinh những cái riêng để phục vụ Tổ quốc, biết ứng xử mối quan hệ gia đình trong mối quan hệ chung với Tổ quốc.

Chữ “hiếu” theo quan niệm của Hồ Chí Minh tích cực hơn quan niệm Nho giáo là bởi vì hiếu với dân không ngăn trở con ngư­­ời ta làm tròn đạo hiếu đối với ông bà, cha mẹ cũng như­ tình huynh đệ. Rất nhiều lần Hồ Chí Minh dặn dò các cháu thiếu niên, nhi đồng phải biết kính yêu ông bà, cha mẹ, “biết vâng lời cha mẹ”. Cuộc sống vận động không ngừng. Chúng ta lên án những cán bộ xa dân, coi khinh dân, trù dập, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những ngư­­ời “vác mặt quan cách mạng” để “đè đầu c­ưỡi cổ nhân dân”. Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề gia đình, coi gia đình là hạt nhân của xã hội. Trong tình hình hiện nay, vẫn có những ngư­­ời không coi trọng yếu tố gia đình trong các mối quan hệ, họ sống thiếu trách nhiệm, hắt hủi cha mẹ. Họ t­­ưởng rằng, có tiền là giải quyết được tất cả. Trong việc giữ gìn và phát huy cốt cách văn hoá dân tộc, có cả việc giữ gìn chữ hiếu đối với dân, với cha mẹ theo quan điểm của Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh mồ côi mẹ lúc lên 10 tuổi. Khi mẹ qua đời vào tuổi 33, một bên Hồ Chí Minh là thi hài của mẹ mình, một bên là em trai nhỏ khát sữa, gầy còm, lắt lay; cha, chị và anh người thì đi công cán, người thì đang ở quê Nghệ An. Thật là tứ cố vô thân. Hồ Chí Minh phải cùng bà con xóm giềng đưa tang, chôn cất mẹ mình, mà phải đi sớm, theo luật, tránh qua đoạn cấm.

Đó thực sự là một cú sốc lớn trong tâm hồn trẻ thơ và Hồ Chí Minh mang đi suốt cả một cuộc đời của mình. Sau đó, dù đi đâu, ở đâu, dù ở chân trời góc bể nào, lúc hàn vi cũng như lúc đã có quyền cao chức trọng, ông không bao giờ quên. Nguyễn Khánh Toàn, người đã có một thời gian hoạt động cùng Hồ Chí Minh trong Quốc tế Cộng sản (làm Giáo sư trong các trường của Quốc tế Cộng sản) kể lại rằng, những lúc anh em lưu học sinh và những người Việt Nam đang có mặt tại Mátxcơva tụ tập với nhau nhớ về quê hương đất nước, những lúc đó Hồ Chí Minh nói rằng, bản thân ông rất nhớ cha mẹ, anh chị, nhất là nhớ người mẹ tần tảo, đảm đang không may mất sớm.

Hồ Chí Minh luôn nhớ về người cha thân yêu, đáng kính có số phận long đong, lận đận ở chốn quan trường. Khi gặp cha mình ở Bình Khê, Hồ Chí Minh nhớ lời cha dặn về chữ hiếu: “Con muốn hiếu với cha thì không phải cứ ở bên cạnh cha để chăm sóc cha thì mới là có hiếu; con phải mưu việc lớn giúp ích cho đất nước”. Sau này, đi sang Pháp và các nước phương Tây để tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh luôn tìm cách nắm tin tức của cha mình, và có lần gửi tiền về cho cha.

Với người chị gái, không chồng con, yêu nước nhiệt thành, tham gia cách mạng và bị tù, Hồ Chí Minh luôn nhớ. Tình cảm của hai chị em thật cảm động trong cuộc hội ngộ tại Phủ Chủ tịch (Hà Nội) sau khi nước nhà độc lập, Hồ Chí Minh trở thành người đứng đầu Chính phủ cách mạng, đã được ông Sơn Tùng miêu tả trong một tác phẩm của mình.

Đối với người anh, cũng là một người yêu nước nhiệt thành, tham gia nhiều hoạt động yêu nước, cách mạng, không vợ con, Hồ Chí Minh cũng luôn luôn thương nhớ theo cách riêng của mình. Những lúc nước sâu lửa nóng, trăm công nghìn việc bộn bề, lo chèo chống con thuyền cách mạng, Hồ Chí Minh chưa thể nghĩ và làm được gì cho người anh trai của mình. Trong Chiến dịch Biên Giới cuối năm 1950, vì một số lý do quân sự – đối ngoại, Hồ Chí Minh đi thị sát. Và, ngày 9-11-1950, sau khi đi công tác về, Hồ Chí Minh nhận được tin anh trai mình là ông Nguyễn Sinh Khiêm qua đời ở quê (25-8 năm Canh Dần, tức là ngày 6-10-1950 dương lịch).

Ông Nguyễn Sinh Khiêm qua đời, nhưng hơn một tháng sau Hồ Chí Minh mới nhận được tin. Trong ánh chiều tà của núi rừng đại ngàn Việt Bắc, ngập dòng lệ, Hồ Chí Minh thảo một bức điện gửi về quê:

“Gửi họ Nguyễn Sinh

Nghe tin anh Cả mất, lòng tôi rất buồn rầu. Vì việc nước nặng nhiều, đường sá xa cách, lúc anh đau yếu tôi không thể trông nom, lúc anh tạ thế tôi không thể lo liệu.

Than ôi! Tôi xin chịu tội bất đệ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho cho một người con đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước.

Ngày 9 tháng 11 năm 1950

Chí Minh”[22]

Như vậy là, chữ hiếu và chữ đệ ở đây được Hồ Chí Minh đặt dưới “việc nước”. Việc nước là trên hết thảy, việc nhà phải tuân thủ và phải chịu sự hy sinh vì việc nước, biết rằng bản thân mình có tội bất đệ và Hồ Chí Minh đã nhận tội trước linh hồn của người anh trai. Hồ Chí Minh còn cho rằng, hiếu là hiếu với nhân dân, không những ta thương cha mẹ ta mà còn thương cha mẹ người khác, phải làm cho mọi người biết yêu thương cha mẹ; rằng, người kiên quyết cách mạng nhất lại là người đa tình nhất, vì nếu không làm cách mạng thì chẳng những bố mẹ mình mà hàng chục triệu bố mẹ người khác cũng bị đế quốc, phong kiến dày vò.

Có một lần, biết được tin ông Nguyễn Sinh Mợi, người anh thúc bá của mình, đang ốm nặng ở quê Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An, Hồ Chí Minh viết thư gửi Bí thư Tỉnh uỷ Nghệ An Võ Thúc Đồng:

“Thân gửi đồng chí Võ Thúc Đồng,

Được tin cụ Mợi đau nặng, tôi không có điều kiện về thăm nom chăm sóc. Tôi nhờ đồng chí giúp đỡ chữa chạy.

Thân ái”.

Hồ Chí Minh nhờ ông Lê Hữu Lập, người phụ trách bộ phận văn thư của mình, cầm bức thư vào Vinh đưa tận tay cho ông Võ Thúc Đồng. Một thời gian sau, khi biết cụ Mợi không qua khỏi, Hồ Chí Minh rút 200 đồng trong sổ tiết kiệm gửi góp phần vào lo liệu công việc mai táng[23].

Đối với các em học sinh, thiếu niên nhi đồng, Hồ Chí Minh dặn phải siêng năng, chăm chỉ, biết vâng lời cha mẹ, “biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan”, chứ không phải như ai đó nói rằng, trong mấy điều Hồ Chí Minh dạy không đề cập chữ hiếu của trẻ em đối với cha mẹ, ông bà. Năm điều Bác Hồ dạy thiều niên nhi đồng chỉ là một văn bản trong rất nhiều văn bản mà Hồ Chí Minh đã nêu ra mà thôi.

Lúc sắp sửa cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tái chiếm, Hồ Chí Minh khuyên các cháu thiếu niên nhi đồng, đăng ở báo Cứu quốc ngày 24 tháng 10 năm 1946[24]:

Thư gửi các cháu thiếu nhi;

Cùng các cháu nhi đồng yêu quý.

Bác đi Pháp mấy tháng. Nhớ các cháu luôn luôn. Các cháu cũng luôn luôn nhớ Bác.

Khi Bác về đến Tổ quốc, từ Hải Phòng đến Hà Nội, các cháu đi đón Bác, có lẽ hơn mười vạn cháu, tay cầm cờ đỏ sao vàng, đứng chật hai bên đường, hai bên bờ ruộng. Reo cười ca hát vui vẻ như một đàn chim. Bác thấy cháu nào cũng mặt mũi vui tươi, áo quần sạch sẽ.

Hỏi, thì cháu nào cũng biết chữ quốc ngữ. Bác mừng lắm. Nay Bác viết mấy chữ, để cảm ơn các cháu và khuyên các cháu.

  1. Phải siêng học.
  2. Phải giữ sạch sẽ
  3. Phải giữ kỷ luật
  4. Phải làm theo đời sống mới
  5. Phải thương yêu, giúp đỡ cha mẹ, anh em

Bác lại nói cho các cháu biết rằng: Anh em nhi đồng Pháp có gửi lời thăm hỏi các cháu.

Thân ái

Bác Hồ

Như thế thì đây lại là một bản Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên và nhi đồng nữa. Thường thì những ý tứ của Hồ Chí Minh phát biểu không tập trung vào một văn bản nào. Do vậy, cứ bảo rằng, trong Năm điều Bác Hồ dạy thiếu niên và nhi đồng được phổ biến rộng rãi hiện nay không có điều nào dạy các cháu có hiếu với cha mẹ, là không phải. Một người đề nghị Hồ Chí Minh cho đổi điều thứ hai “Phải giữ sạch sẽ” thành “Phải giữ vệ sinh”, thì ông cho rằng: Tôi không chỉ khuyên các cháu phải tắm giặt cho sạch sẽ. Tôi khuyên các cháu “phải giữ sạch” từ thân thể đến tâm hồn, không nghĩ điều xấu, không làm việc xấu, không nói tục, chửi bậy, v.v.

Hồ Chí Minh còn cho rằng, dạy các cháu ở nhà thì đã có cha mẹ các cháu, lúc ở trường học thì đã có các thày cô giáo. Tôi khuyên các cháu nghĩ điều hay, làm việc tốt. Người lớn chúng ta phải làm gương tốt cho các cháu noi theo.

Chữ hiếu của người Việt Nam, ở phương Đông sâu sắc lắm. Đó chính là lời tâm sự của Hồ Chí Minh đối với một số cán bộ lãnh đạo ngành Tuyên giáo khi vào nhà sàn làm việc với Hồ Chí Minh đầu tháng 6-1968 về biên soạn và xuất bản loại sách Người tốt việc tốt.

Tại buổi làm việc này, Hồ Chí Minh nói: “Bác gần tám mươi tuổi vẫn còn nhớ chuyện ông Lão Lai, vợ chồng Quách Cự, chú bé Hán Lục Tích…hiếu thảo với cha mẹ như thế nào. Những chuyện như thế ngày xưa cả những người không biết chữ cũng thuộc. Các chú phải biết rút kinh nghiệm. Học tập cách giáo dục của ông cha ta. Các chú có thể làm tốt hơn, vì đạo đức ngày nay cao rộng hơn: không phải chỉ có hiếu với bố mẹ, mà trung với nước hiếu với dân”[25].

IV. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là một nội dung của cái gốc đạo đức, cái gốc của sự phát triển trong triết lý hành động của Hồ Chí Minh. Người mà nói và viết về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư nhiều nhất, người mà kêu gọi mọi người thực hành và tự mình “xắn tay áo” lên để thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư nhiều nhất chính là Hồ Chí Minh.

Trong những mục trước, tôi đã viết về các mối quan hệ phong phú, phức tạp của mỗi con người trong cuộc sống hằng ngày và Hồ Chí Minh phân các mối quan hệ đó thành ba loại: đối với người, đối với việc, đối với mình. Tôi nghiệm thấy rằng, mối quan hệ tự mình đối với bản thân mình là khó xử lý nhất. Tự thấy, tự phê bình, tự xử…vẫn là đòi hỏi bản thân mình nhìn lại mình. Nhìn lại chính mình khó lắm, đánh giá bản thân mình khó lắm.

Trong quân sự, người ta nói rằng, biết người, biết mình, trăm trận đánh trăm trận thắng. Biết người thì không khó bằng biết mình. Cái bệnh chủ quan thường thấy ở nhiều người là từ cái khó này mà ra. Người ta khen mình thì dễ, tự mình thấy mình tốt, giỏi giang thì không khó. Nhưng người ta chê mình thì nghe thấy khó lọt cái lỗ tai vô cùng. Và tự mình thấy cái dở, cái xấu của mình lại càng khó hơn.

Và, đề cập vấn đề cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là đề cập mối quan hệ tự mình đối với bản thân mình, gắn với chủ thể của con ng­ười hành động, nó bộc lộ hàng ngày, hàng giờ. Đức tính này đòi hỏi tự mình phải làm chủ mọi hành vi của bản thân mình.

Đối với người có chức, quyền, nói chung, làm chủ bản thân mình còn khó hơn nữa, bởi vì người này bị nhiều cám dỗ hơn ai hết. Người đứng ở đỉnh tháp của quyền lực của một đảng, của một quốc gia như Hồ Chí Minh (Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) thì lại có sự thử thách về làm chủ bản thân mình cực lớn.

Trong các cám dỗ đối với con người, thì người có quyền cao chức trọng trước hết bị hai điều lớn nhất, rõ nhất: một là cám dỗ về quyền lực; hai là cám dỗ về vật chất. Đó là chưa kể các cám dỗ khác vốn là hệ lụy của hai cái cám dỗ kia, tỷ như về tình ái, về ăn chơi (cả vật chất lẫn tinh thần sa đọa, v.v.). Quyền lực có nhiều khi như ma túy, nó có sức hút ghê gớm lắm, nếu không tự làm chủ bản thân mình thì rất dễ bị sa đọa.

Không phải ai cũng cảm nhận được quyền lực mà bản thân mình đang có là do đâu và sử dụng quyền lực ấy như thế nào cho đúng. Không phải ai cũng ý thức được đến lúc nào thì sẵn sàng rời bỏ quyền lực để vì cái chung của sự phát triển. Có người không muốn rời quyền lực, cứ cố đấm ăn xôi, khi buộc phải rời quyền lực thì huyết áp tăng vọt phải đi cấp cứu ở bệnh viện. Bởi vì quyền lực gắn với đặc quyền, đặc lợi, để có thể kiếm chác về vật chất, để ăn chơi sa đọa. Quyền lực gắn với đặc quyền đặc lợi như hình với bóng, nếu không tỉnh táo thì sẽ dễ bị sa đọa, thoái hoá. Trong một “cơ chế” không đúng đắn, những vấn đề này lại được kích thích làm trầm trọng thêm. Chính vì thế, có không ít trường hợp bản thân người đó rất tốt, rất thanh liêm đạo đức, nhưng khi đã vào guồng máy của quyền lực, có chức, có quyền, và bị “cơ chế” nghiền nát, người đó bắt đầu một quá trình trượt dài vào cái hố tiêu cực tham nhũng để rồi không gỡ được ra.

Hồ Chí Minh là người làm chủ được mọi hành vi của bản thân mình, nói chung là thế. “Nói chung” là bởi Hồ Chí Minh cũng là người cùng chịu trách nhiệm đối với một số sai lầm, hạn chế của tập thể lãnh đạo khi đề ra và thực hiện những chủ trương phát triển, chẳng hạn: cải cách ruộng đất, cũng bị giáo điều theo hình mẫu J. Xtalin, hình mẫu Liên Xô trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam; trong một phần nào chủ quan của con đường, tốc độ cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế quốc dân, trong nhịp độ, thời gian muốn miền Bắc Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội, trong xử lý đối với một số vụ thuộc về tư tưởng, v.v. Nhưng, điểm trội nhất là Hồ Chí Minh biết vượt qua chính mình, thấy sai thì kiên quyết sửa, sửa cho bằng được. Và ông giữ được mình cho đến phút giây cuối đời, vẫn là một con người trong sạch, vì nước, vì dân, không vụ lợi.

Tôi đã viết ở các mục bên trên, Hồ Chí Minh có cuộc sống vật chất thật cực (ông thuộc về “Người cùng khổ” như tờ báo ở Pari Le Paria do ông làm chủ bút đầu những năm 20 của thế kỷ XX). Hồ Chí Minh đã chịu mọi khổ ải của chúng sinh, nhất là lúc hoạt động bí mật và đặc biệt thời gian ở trong tù, không những bị mất tự do mà còn bị cuộc sống vật chất khổ ải làm hao mòn sức lực (một ngày tù nghìn thu ở ngoài).

Hồ Chí Minh nhiều lúc thi vị hoá cuộc sống gian khổ của mình. Trong tù của Tưởng Giới Thạch, ông có thể thi vị hoá tất cả các cảnh khổ ải của một người tù như ông phải trải qua: ăn đói, mặc rét, bị trói giải đi hết nhà lao này đến nhà lao khác, bị rụng răng, bị ghẻ lở, bị rệp cắn, v.v. Hồ Chí Minh ghi vào thơ:

Đầy mình đỏ tím như hoa gấm,

Sột soạt luôn tay tựa gẩy đàn;

Mặc gấm, bạn tù đều khách quý,

Gẩy đàn, trong ngục thảy tri âm.

Ông đã bị:

Bốn tháng cơm không no,

Bốn tháng đêm thiếu ngủ,

Bốn tháng áo không thay,

Bốn tháng không giặt giũ.

Cho nên:

Răng rụng mất một chiếc,

Tóc bạc thêm mấy phần,

Gầy đen như quỷ đói,

Ghẻ lở mọc đầy thân.

Rồi Hồ Chí Minh  đầy lạc quan, tự khuyên mình:

Ví không có cảnh đông tàn

Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân.

Nghĩ mình trong bước gian truân,

Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.

Khi về nước đầu năm 1941, Hồ Chí Minh ở Pác Bó (Cao Bằng), mà là ở trong hang, cuộc sống còn nhiều gian khó, nhưng ông thi vị hoá cuộc sống đó:

Sáng ra bờ suối tối vào hang,

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng,

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng,

Cuộc đời cách mạng thật là sang.

Khi miền Bắc được giải phóng, ngày 10-10-1954, quân cách mạng về tiếp quản thủ đô Hà Nội “trùng trùng quân đi như sóng, lớp lớp đoàn quân tiến về”. Sau đó ít lâu, Hồ Chí Minh cùng cơ quan Đảng và Chính phủ về Hà Nội. Những ngày “cháo bẹ rau măng”, những ngày làm việc ở “bàn đá chông chênh” không còn. Một cuộc sống mới đến với Hồ Chí Minh, ít ra là đời sống vật chất không còn kham khổ nữa. Ông có quyền hưởng những tiện nghi vật chất, được ăn ngon, mặc đẹp mà không ai có thể suy bì được.

Người ta đã định sắp xếp cho Hồ Chí Minh ở ngôi nhà của Toàn quyền Đông Dương (cũ), một ngôi nhà theo lối kiến trúc Pháp, rất đẹp, trang trọng, nơi đã từng có 29 viên Toàn quyền Pháp ở, từ Toàn quyền đầu tiên Pôn Bô (Paul Beau) đến Toàn quyền cuối cùng là Đờcu (Decoux). Đây là ngôi nhà có phong cách thời Phục Hưng, do kiến trúc sư người Pháp gốc Đức Líchten Fenđơ thiết kế, được xây dựng từ năm 1900 đến năm 1906, tổng diện tích sử dụng của ngôi nhà gần 1300 mét vuông.

Khi được mời ở ngôi nhà đó, Hồ Chí Minh chối khéo mà nói rằng: “Cái nhà ấy thối lắm”. Mọi người ngạc nhiên, thì ông hóm hỉnh giải thích: “Nó thối là thối cái mùi thực dân”. Hồ Chí Minh đề nghị dùng ngôi nhà này làm nơi tiếp khách của Nhà nước. Từ đó ngôi nhà có tên là ngôi nhà Phủ Chủ tịch.

Hồ Chí Minh tình nguyện sống và làm việc trong một ngôi nhà cấp 4 gần bờ ao, có 3 phòng nhỏ: phòng giáp ao cá là phòng làm việc và cũng là nơi ông tiếp khách; phòng ở giữa là phòng ăn; phòng trong cùng là phòng ngủ. Đây là ngôi nhà vốn là nơi ở của một người thợ điện nằm trong khu vực dành cho các nhân viên phục vụ Phủ Toàn quyền Đông Dương cũ. Hồ Chí Minh sống và làm việc tại ngôi nhà này từ tháng 12 năm 1954, cho nên ngôi nhà này được gọi là Nhà 54.

Suốt mấy năm liền sau đó, cơ quan vận động làm nhà cho ông ở. Hồ Chí Minh nói rằng, Trung ương đề nghị xây cho Bác một ngôi nhà mới, Bác nghĩ nên làm một căn nhà nho nhỏ ở phía bên kia bờ ao theo kiểu nhà đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Bắc, giống như ngôi nhà Bác đã từng ở trong những năm kháng chiến chống Pháp. Hồ Chí Minh trao đổi việc thiết kế với ông Nguyễn Văn Ninh, là kiến trúc sư chịu trách nhiệm thiết kế ngôi nhà này. Hồ Chí Minh đề nghị với ông Nguyễn Văn Ninh thiết kế ngôi nhà chỉ đủ cho một người ở, không nên dùng gỗ quý, hành lang nên làm rộng để vừa ngồi đọc sách vừa thuận tiện cho việc đi lại, cầu thang đủ rộng cho hai người đi, v.v. Ngày 17-5-1958, ngôi nhà được khánh thành. Hồ Chí Minh đã ở tại nhà sàn này 11 năm (1958 – 1969).

Ngôi nhà của Hồ Chí Minh giữa thủ đô Hà Nội lộng gió bốn phương, không có máy điều hoà nhiệt độ, giường đơn trải chiếu mộc, không có buồng vệ sinh, không có phòng ăn riêng. Những buổi trưa mùa hè oi ả của đất trời Hà Nội, thường thì Hồ Chí Minh lau sạch sàn để ngả lưng tý chút và chiều làm việc tiếp, lâu dần chỗ nằm ấy có vệt mờ mờ (Rất tiếc là hiện nay khi phục chế để bảo vệ hiện vật gốc, sàn đã đánh vécni bóng loáng rồi).

Cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ đến năm 1967 diễn ra ác liệt. Bầu trời thủ đô Hà Nội vẩn đục bởi máy bay oanh tạc của Mỹ, còi báo động vang lên nhặt hơn trùm lên các phố phường. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định xây ở phía sau ngôi Nhà sàn một ngôi nhà kiên cố, bê tông cốt thép cho Hồ Chí Minh. Ngày 1-5-1967, nhân dịp Hồ Chí Minh đi công tác nước ngoài, ngôi nhà này được gấp rút xây dựng. Nó được đặt tên theo năm xây dựng, gọi là Nhà 67.

Ngày 30-6-1967, Hồ Chí Minh về Hà Nội sau chuyến đi công tác, thấy ngôi nhà, ông tỏ ý không vui. Hồ Chí Minh đề nghị sử dụng ngôi nhà này thành nơi họp Bộ Chính trị và nơi làm việc với các đồng chí Trung ương, các ngành chứ ông không ở. Đến ngày 18-8-1969, theo đề nghị của bác sĩ khi thấy sức khoẻ của Hồ Chí Minh đã rất yếu, ông chuyển hẳn xuống Nhà 67 và khoảng hai tuần lễ sau qua đời ở đó ngày 2-9-1969.

ở thì đã vậy, còn ăn thì về cơ bản Hồ Chí Minh thường dùng 4 món: rau, giá, cá, đậu phụ. Tất nhiên, còn một số món nữa, nhưng chủ yếu nhất vẫn là những món ấy. Hồ Chí Minh ăn đủ chất, thanh đạm, sạch sẽ, tiết kiệm, vừa đủ, không muốn bày ra cho thừa, kể cả ăn tiệc ở đâu cũng vậy. Điều này đúng như đức tính của ông khi phục vụ bàn trong một khách sạn ở Luân Đôn năm 1915. Hồi đó, thức ăn còn thừa, như những người khác thì họ vứt hết tất cả vào sọt rác, còn ông thì không làm như vậy; ông gói gém một số thức ăn thừa vào một tờ giấy sạch sẽ rồi đưa ra ngoài đường phố Luân Đôn cho những người vô gia cư.

Mặc thì về cơ bản Hồ Chí Minh có hai bộ quần áo chính, có lúc sờn cổ và tay, nhưng ông không cho thay. Hồ Chí Minh đi dép lốp cao su, mòn vẹt đế, ông gá miếng cao su vào chỗ bị vẹt chứ không thay đôi dép khác. Đôi dép của ông đã trở thành bài ca, bởi vì chúng cùng ông đi theo năm tháng của cuộc đời, đi đến những làng quê, đường phố, trường học, cơ quan, trận địa.

Điều đáng nhấn mạnh ở đây là có điều kiện để hưởng vật chất no đủ và không ai có thể tỵ nạnh, nhưng Hồ Chí Minh không ham. Hồ Chí Minh dành dụm tiền lương và tiền nhuận bút (gửi sổ tiết kiệm) để tặng quà cho các cháu thiếu niên, nhi đồng – lớp người mà ông cực kỳ yêu quý, tặng quà cho các cụ già. Có lúc, ông rút hết không còn một xu trong số tiết kiệm năm 1967 (tương đương với mấy chục lạng vàng) ủng hộ các đội tự vệ sao vuông Hà Nội trực chiến pháo 12 ly 7 trên các nóc nhà khu Ba Đình và các đơn vị trực chiến khác mua nước giải khát mùa hè ác liệt đạn bom quân xâm lược.

Hồ Chí Minh làm những việc đó một cách tự nhiên, có ý thức rõ ràng về cuộc sống của một vị Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước ở một đất nước còn nghèo. Ông làm không một tý gượng ép, không ra vẻ cao đạo, ra vẻ ta đây, mà đã thành nếp sống tự nhiên. Ông đã tự làm chủ mọi hành vi của bản thân mình và thực hành cái đạo cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Hồ Chí Minh tự hành xử những điều đó trong cuộc sống hằng ngày, tuy giống, nhưng về bản chất thì không theo kiểu của tôn giáo, nghĩa là không ép xác khổ hạnh. Hồ Chí Minh cho rằng: tôn chỉ, mục đích của đạo Phật nhằm xây dựng cuộc đời thuần mỹ, chí thiện, bình đẳng, yên vui và no ấm; Đức Phật là đại từ, đại bi, cứu khổ, cứu nạn. Trong Đạo giáo và Phật giáo mà Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn ngay từ thời phong kiến, thì cuộc sống có tham, sân, si, có lục căn, tức là sáu căn của con người: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Thường thì trong cuộc sống hằng ngày, con người ta ai cũng phải xử lý lấy cái lục căn đó để không rơi vào lục tặc, tức là không để chúng bị tha hoá biến thành giặc (tặc). Chẳng hạn: tai nghe những lời nịnh hót; lưỡi được cho ăn ngon; mắt bị quyến rũ, mê mẩn bởi nhan sắc, v.v.

Xét theo đạo Phật thì Hồ Chí Minh cũng giống như bao nhiêu con người khác trên thế gian, không có gì đặc biệt cả, nghĩa là cũng có lục dục (sáu loại dục vọng); lục cảnh (sáu loại cảnh giới: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp); lục tình (sáu loại biểu lộ tình cảm: hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc). Con người đi tu, khi đã tu đắc đạo, chân tu, đã thành chính quả, thì trở thành người ung dung, tự tại, không bị bất cứ mọi cám dỗ nào từ bên ngoài lung lạc được cả. Đó là sự ngộ của người tu hành ở phương Đông, đạt đến trình độ giác ngộ được tám chính đạo (chính kiến; chính tư duy; chính ngữ; chính nghiệp; chính mệnh; chính tinh tiến; chính niệm; chính định). Lúc đó, người tu hành sẽ đạt tới chân lý tuyệt đối của đạo Phật.

Hồ Chí Minh là người đi hoạt động cách mạng, tự làm chủ những hành vi của bản thân mình, theo lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, của một người giác ngộ chính trị trên cơ sở của chính bản thân nền văn hoá của nhân loại và của dân tộc Việt Nam, có cái gì đó không cùng chung bản chất nhưng hao hao như là thoát khỏi lục tặc của Đạo giáo và Phật giáo vậy.

Do làm chủ được hành vi của bản thân mình, cho nên Hồ Chí Minh sống một cuộc sống ung dung, thư thái, tự tại, lúc gặp muôn vàn khó khăn, kể cả đối mặt với cái chết, ông vẫn bình tĩnh; lúc ở vào cái cao trào sự mừng vui nào đó của dân tộc và của cá nhân mình, ông không lạc quan tếu, không chủ quan, không tự kiêu, tự mãn mà phóng tầm mắt xa hơn để biết những sự việc sẽ diễn ra đang chờ đợi bản thân mình và dân tộc mình sắp tới. Điều này đặc biệt rõ ở Hồ Chí Minh giai đoạn 1945 – 1946 khi chính quyền cách mạng Việt Nam đang non trẻ, đứng trước muôn vàn thách đố của tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Hoặc ở vào thời điểm Chiến dịch Trần Đình (Điện Biên Phủ) đã toàn thắng, khi mọi người trong đại bản doanh Phủ Chủ tịch ở Việt Bắc nhận được tin quân đội Nhân dân Việt Nam đã bắt sống tướng Đơ Catơri và Bộ Chỉ huy quân Pháp ở Điện Biên Phủ thì đêm 7-5-1954 cán bộ của cơ quan đốt đuốc reo hò váng trời kéo nhau đến nhà sàn của Hồ Chí Minh ở Việt Bắc chung vui thì Hồ Chí Minh nói rằng: thắng lợi này mới chỉ là bước đầu, trước mắt dân tộc Việt Nam còn phải đương đầu với thế lực đế quốc Mỹ.

Còn nhiều minh chứng về vấn đề này lắm ở Hồ Chí Minh. Làm chủ được bản thân mình, đó cũng là một dạng của cái thiền. Trong cuộc sống của con người ta, không phải cứ chỉ ngồi thiền thì mới được gọi là thiền, mà thiền có thể được diễn ra ở nhiều tình huống, trạng thái. Khi người ta dồn tâm trí làm một việc gì thì đó chính là thiền. Đang đếm tiền thì lúc đó là thiền. Đang dồn tâm lực để viết một bài văn, bài thơ thì lúc đó cũng là đang thiền. Đang tập trung trí lực làm bài thi, thì lúc đó là thiền. Cả cuộc đời dồn tâm, dồn trí, dồn lực chăm lo cho nước cho dân, đó cũng là thiền. Thoát khỏi mọi sự cám dỗ quyền lực, tiền bạc, phú quý, thì đó cũng là thiền, v.v.

Hồ Chí Minh là con người chế định được cái tôi trong muôn sự biến thiên của cuộc đời con người. Hồ Chí Minh biết cái đủ và biết điểm dừng. Hồ Chí Minh thiền giữa cái bao la khôn cùng của vũ trụ. Ông thiền nhưng biết tất cả những gì sẽ diễn ra để hướng vào giải quyết cho kỳ được những điều cần đạt tới cho hợp lẽ phải, cho hợp lẽ trời.

Hồ Chí Minh hao hao như Trần Nhân Tông, vị vua sáng lập ra Phật Trúc Lâm (Thiền phái Trúc Lâm) thế kỷ XIII của Đại Việt. Thiền phái Trúc Lâm lấy cái Tâm làm gốc, lấy sự giác ngộ trong lòng làm căn bản. Theo Thiền phái Trúc Lâm, Phật là trong mỗi người, trong mỗi nhà, là tu tại tâm, và tu không thoát khỏi trần thế mà lại gắn với sự đời, với thực tại, với vận mệnh của đất nước.

Trần Nhân Tông quan niệm: “lấy tâm truyền tâm, không dùng văn tự”, “Phật ở trong lòng, lòng lặng lẽ và sáng suốt, đó chính là chân Phật”, người nào mà giác ngộ được bản tâm thì có thể thành Phật. Vị tổ sư Phật Trúc Lâm Đại Việt thế kỷ XIII Trần Nhân Tông cho là thiền tu như thế thì chính như bản thân ông viết là:

Chẳng còn bỉ thử, tranh nhân chấp ngã

Trần duyên rũ hết, thị phi chẳng nề

Nghĩa là:

Thân này chẳng quản bữa đói, bữa no

Công danh chẳng trọng, phú quý chẳng màng

Giữa bộn bề việc nước, vị vua anh minh triều Trần thế kỷ XIII trút bỏ hoàng bào, mặc áo nâu sồng, đi chân đất lên núi vắng đi thiền nhưng vẫn thông tuệ sự đời, đau đáu nỗi niềm dựng xây và bảo vệ đất nước, lòng vẫn nặng với Thăng Long, ngày ngày dõi về Thăng Long để tường thế sự. Khác với vị vua đời Trần phải lên núi thiền tu, Hồ Chí Minh thiền ngay giữa dân gian, giữa đất trời của dân chúng, giữa cái bao la đất trời ngổn ngang đại sự. Hồ Chí Minh thiền để ngộ. Hồ Chí Minh ngộ để hành. Hồ Chí Minh hành để đáp ứng cái yêu cầu phát triển của đất nước, của nhân dân Việt Nam, của nhân loại cần lao.

Hồ Chí Minh chính là kẻ sĩ đi làm chính trị có nhân, nếu đối chiếu theo các luận điểm về kẻ sĩ của Khổng Tử mà Phan Bội Châu đề cập trong tác phẩm Khổng học đăng của mình. Kẻ sĩ làm người hoạt động chính trị có nhân, theo Khổng Tử, có năm đức tính:

1. Cung: tự mình đặt ra yêu cầu nghiêm túc đối với bản thân mình về cả ý thức cũng như hành vi, biết tự mình quản lý lấy bản thân mình;

2. Khoan: khoan dung, độ lượng, có tấm lòng khoan thứ đối với mọi người;

3. Tín: có lòng tự tin, tin ở quần chúng, tin cấp dưới, giữ đúng chữ tín, đã nói thì phải làm bằng được, không nói một đằng làm một nẻo, không lừa dối nhân dân để trục lợi;

4. Mẫn: là cần mẫn, siêng năng, làm việc có hiệu quả thực sự;

5. Huệ: biết đưa lại lợi ích cho nhân dân, thực sự thông cảm với dân, không tráo trở với dân, cùng dân mưu sự nghiệp chứ không dùng sức dân, mưu dân, tiền thuế của dân để mưu đồ làm giàu cho bản thân mình.

Cái thuyết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” của Khổng giáo đã có từ khoảng 2 500 năm trước nói lên tầm quan trọng từ bản ngã, từ chính cá nhân con người trong quan hệ cộng đồng. Trước hết là tu thân đã. Đó là cá nhân. Cá nhân, do đó, trở thành cái cực kỳ quan trọng. Ai đó nói rằng, phương Đông không coi trọng cá nhân, mà chỉ có phương Tây coi trọng cá nhân là không đúng.

Hồ Chí Minh có lẽ tiếp thu cái cá nhân đó của phương Đông để luôn có sự tự xử với người, với việc, với mình — và nhất là tự mình đối với bản thân mình — một cách đúng đắn nhất. Hồ Chí Minh là người nói nhiều đến cá nhân nhưng ông không sa vào chủ nghĩa cá nhân. Cũng tựa như Hồ Chí Minh nói nhiều đến dân tộc mà không sa vào chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi; nói nhiều đến quyết tâm làm một việc gì đó nhưng không sa vào chủ quan, duy ý chí, duy tâm; nói nhiều đến đạo đức và sự nghiêm minh của pháp luật nhưng không tuyệt đối hoá một cái nào mà ở ông có sự gắn kết nhuần nhuyễn giữa “đức trị” và “pháp trị”, vừa có lý vừa có tình; v.v.

Cần

Theo Hồ Chí Minh, cần là cần cù, siêng năng, chăm chỉ trong mọi công việc. Ông đòi hỏi bản thân mình và mọi ng­ười đều cần và cho rằng, từ chủ tịch nư­­ớc đến ngư­­ời cấp dưỡng, quét rác, ai mà hoàn thành nhiệm vụ đều là ngư­ời cao thư­­ợng. Trong các biện pháp kinh tế, Hồ Chí Minh chú ý đến xây dựng kế hoạch: “Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc”, vì “công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trư­­ớc, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm tr­ước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đ­ưa làm trư­ớc, như­ thế thì sẽ hao tốn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít…Vì vậy, siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau”[26].

Trong quan niệm về Cần của Hồ Chí Minh, ngoài những nội dung trên đây, tôi thấy có hai điểm đặc sắc:

Một, Cần còn là kiên trì, bền bỉ, dẻo dai trong mọi công việc.

Đó là đức tính kiên tâm, quyết tâm làm bằng được những việc mà mình coi là đúng. Hồ Chí Minh cả những lúc hòa bình, cả những lúc khẩn trương của chiến tranh, thường có kế hoạch công việc thật tỷ mỷ và ông cố gắng hoàn thành theo đúng kế hoạch; nếu hôm nay chưa xong thì hôm sau phải làm bù trở lại. Kiên trì sẽ không làm cho người ta nản lòng, nản chí; dù có 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa vẫn kiên trì đánh đuổi quân xâm lược Mỹ. Làm việc gì thì quyết tâm, kiên nhẫn, đời này chưa xong thì đời tiếp làm cho xong. Đây là sự thi gan của một đức tính dẻo dai.

Đến thăm Khu Di tích Phủ Chủ tịch ở Ba Đình, Hà Nội, chếch phía tây không xa nhà sàn Hồ Chí Minh, chúng ta thấy có cây đa mà có rễ rất độc đáo. Từ trên nách cây đa, có một cái rễ đâm chéo xuống sân vườn được cuộn to một vòng và cắm xuống đất, rất đẹp. Chả là trước đây, một số người định cắt cái rễ đa ấy đi khi thấy rằng, nếu để thì lâu ngày rễ sẽ đâm thẳng xuống lối đi. Hồ Chí Minh, tình cờ, nghe thấy và khuyên không nên cắt mà nên cho nó men theo một đoạn tre xuống bên vệ cỏ. Có người nói với Hồ Chí Minh rằng, như thế thì lâu lắm! Hồ Chí Minh nói: nên kiên trì, không năm này thì năm khác thế nào rễ cây đa sẽ dài ra, mà muốn nó nhanh dài thì ở đoạn tre đầu rễ nên có lọ nước kích thích dài nhanh hơn. Quả nhiên đến một thời gian nào đó (không biết bao nhiêu năm sau?), rễ cây đa dài ra chạm đất. Hồ Chí Minh lại bảo là, không nên để cho rễ xuống đất ngay mà nên để nó dài hơn nữa, cuộn lấy một vòng to rồi mới cho nó chui xuống đất. Rễ lâu ngày cứng cát, sẽ trở thành một vòng tự nhiên rất đẹp, để khi các cháu thiếu niên nhi đồng vào thăm, có chỗ chơi chui qua chui lại.

Cũng như vậy, có một cây cổ thụ (cây bụt mọc – theo cách gọi tên của Hồ Chí Minh) cạnh cầu qua ao cá gần nhà sàn Hồ Chí Minh bị sâu bệnh khoét thân có nguy cơ bị đổ, người ta định đốn đi vì sợ cây đổ gây hư hại nhà cửa và công trình gần đó, nhưng Hồ Chí Minh khuyên đừng đốn cây mà đề nghị lấy xi măng trộn với thuốc sâu đắp vào.

Hình như Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng khá đậm của Lão, bởi vì ông yêu, ông quý từng ngọn cây, vạt cỏ, ông sống hoà đồng với cây trời, hoa lá, chim nuông, với khí trời muôn năm của vũ trụ. Người ta đã đặt tên rễ cây đa đó là Rễ đa kiên trì, đặt tên theo đúng tư tưởng của ông. Nhìn thấy cái rễ đa đó trong Phủ Chủ tịch nước ở Ba Đình, Hà Nội, chúng ta thấy thêm chữ Cần của ông.

Hai, Cần còn là tăng năng suất lao động, là làm việc có hiệu quả, có kết quả tốt.

Không phải cứ làm hùng hục là siêng năng, tích cực, là Cần. Làm hùng hục cả tuần, cả tháng mà không có kết quả, không có hiệu quả, không có năng suất lao động cao thì không bằng làm chỉ có một ngày mà có kết quả tốt. Cái năng suất lao động quan trọng lắm đối với thành quả lao động của từng cá nhân và cả xã hội. Thật ra, xét theo quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội của V.I. Lênin thì chủ nghĩa xã hội chỉ chiến thắng được chủ nghĩa tư bản ở chỗ có năng suất lao động xã hội cao hơn.

Mấy năm qua, trừ năm 2008 trở đi đang gặp khó khăn về tài chính, Việt Nam tự hào có tốc độ phát triển tương đối cao với chỉ số tăng trưởng GDP cao hằng năm, nhưng vẫn phải dè chừng khắc phục được tính chưa bền vững của sự tăng trưởng, trong đó có năng suất lao động xã hội thấp, thấp không những so với nhiều nước trên thế giới mà còn so với các nước trong khu vực. Việt Nam đang nằm ở tốp cuối trong bảng xếp hạng năng suất lao động xã hội. Muốn tăng năng suất lao động xã hội thì cần có nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố con người, yếu tố nguồn lực, là ở chất lượng dân số, chất lượng lao động.

Kiệm

Kiệm trước hết là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí. Thời của Hồ Chí Minh sống và hoạt động, đất nước Việt Nam còn quá nghèo, hầu như khắp hàng chục năm đất nước phải cầm súng đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ và giải phóng, thống nhất Tổ quốc. Đó là những năm tháng gạo châu củi quế, mọi người phải thắt lưng buộc bụng dồn sức tất cả vì sự nghiệp chống giặc ngoại xâm. Khi đó, tiết kiệm là một chủ trương và biện pháp hữu hiệu trong mọi hành xử của con người và tổ chức. Những cái gì liên quan đến cái ăn, nhất là lúa gạo, liên quan đến tiền là phải dè chừng.

Vì thế, Hồ Chí Minh về bản chất đã đành, nhưng do cả thời cuộc nữa, đi công tác thăm nơi này nơi nọ không muốn ăn cơm ở đó mà tự mình mang cơm nắm đi ăn, vì ông ngại nơi đó làm cơm linh đình, mổ gà, giết lợn “khách ba chủ nhà bảy” vừa bị mang tiếng, vừa hoang phí trong lúc đang nghèo. Ông kêu gọi mọi người không nấu rượu và làm các loại bánh trái liên quan đến gạo. Ông kêu gọi mọi người tiết kiệm từng đồ vật, từng mảnh giấy ở công sở và ông là người gương mẫu thực hành. Ông thường chơi chữ rằng, đừng biến tiết kiệm thành tiết canh. Tiết kiệm, theo Hồ Chí Minh, còn là tiết kiệm cả thời gian, là ở tăng năng suất lao động chứ không phải bớt xén thời giờ làm việc.

Hồ Chí Minh tiết kiệm trong ăn, ở, mặc, chi tiêu hằng ngày. Ông vẫn thường xuyên có sổ tiết kiệm từ dành dụm lương, tiền nhuận bút để mua quà tặng mọi người, nhất là quà cho các cháu thiếu niên, nhi đồng. Ông là tác giả của “Thịt Việt Minh”, loại thịt được chế biến là một phần thịt, một phần muối và ớt để đi công tác đường xa, dùng dần những ngày thiếu thốn, không phiền nhiễu dân, không tiêu phí đồng tiền của Chính phủ, lại hoà đồng cùng anh em đi cùng.

Hồ Chí Minh thường viết trên những tờ giấy viết hoặc in một mặt còn một mặt trắng. Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tháng 12 năm 1944 được Hồ Chí Minh viết trên vỏ bao thuốc lá. Đó là một chỉ thị cực kỳ quan trọng, và đúng như dự đoán của ông trong những lời viết ở vỏ bao thuốc lá đó: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Những trang viết của Tài liệu bí mật (Sau này được gọi là bản Di chúc) bắt đầu từ năm 1965 của Hồ Chí Minh nhiều tờ được viết trên mặt giấy của bản tin Thông tấn xã Việt Nam. Hồ Chí Minh ăn cơm không để rơi một hạt, thức ăn vừa đủ là ở ý thức tiết kiệm và ở tôn trọng sức lao động của người dân.

Tiết kiệm của Hồ Chí Minh có cái gì đấy như là hà tiện chăng? Không phải. Ông không ưa sự hà tiện, bủn xỉn. Trong công việc đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ — một công việc đầu tư cho con người, công việc đòi hỏi có sự tốn kém rất lớn — ông liệu trước và sợ nhiều người không dám chi cho công việc này đúng mức, ông dặn rằng, “chớ coi đồng tiền to như cái nống” (cái nống là phương ngữ của miền trung, nghĩa là cái nong).

Tiết kiệm hiểu theo nghĩa của Hồ Chí Minh thật biện chứng. Ngay trong thời kỳ kháng Pháp, ông đã nêu ra quan điểm về quản lý tài chính, quản lý ngân sách. Hồ Chí Minh cho rằng: việc gì đáng chi phải chi. Việc gì chưa đáng chi khoan hẵng chi. Việc gì không đáng chi dứt khoát không chi. Đó là ba đoản luận có tính nguyên tắc mà những nhà kinh tế, những nhà quản lý tài chính, quản lý ngân sách, kể cả cá nhân, kể cả các bà nội trợ tay hòm chìa khoá trong từng gia đình có khi học cả đời chưa thuộc bài.

Nó giống như sinh viên ngành y học ra làm nghề thầy thuốc vào trường y đọc lời thề Hypôcrát rất hùng hồn, thông hiểu những quan điểm của Hải Thượng Lãn Ông, đọc vanh vách quan điểm của Hồ Chí Minh, trong đó có lời dặn “Lương y phải như từ mẫu” (Thầy thuốc giỏi phải như người mẹ hiền), đọc thuộc làu làu, rồi y thuật rất giỏi, nhưng y đức thì cả cuộc đời chưa chắc đã thuộc, nhất là trong cái thời buổi kinh tế thị trường này cái vòi bạch tuộc ở cái mặt trái của nó lại cuốn hút cả công việc y tế vào vòng xoáy của nó.

Y thuật giỏi, nhưng y đức kém có khi người nghèo đau nặng mà không có tiền thì không chữa đến nơi đến chốn, người không có tiền thì bị tiêm đau lắm. Y thuật giỏi nhưng y đức kém thì cái mặt giỏi của y thuật sẽ bị chế ngự, sẽ bị che lấp, bị thôn tính, và người thấy thuốc cầm dao mổ rồi để quên cả gạc, cả kéo trong bụng người bệnh. Sinh viên ngành tài chính, ngân hàng học lực giỏi, được tấm bằng ưu, nhưng không cẩn thận hành nghề thì vẫn bị mắc vào cái tật việc đáng chi không chịu chi, việc chưa đáng chi, việc không đáng chi cứ quyết chi.

Sẽ biết con người ta khôn hay không khôn khi người đó cầm tiền và chi xài như thế nào. Tiết kiệm, theo Hồ Chí Minh, là còn ở nghĩa như trên đây, chứ không phải cứ ki bo kẹt xỉ. Cần và kiệm phải gắn chặt với nhau và nó liên quan chặt chẽ với việc chống tham ô, lãng phí, quan liêu. Trong đối ngoại, Hồ Chí Minh cho rằng, nếu chúng ta “thi” với nhiều nước về cái giàu sang qua những việc đãi khách, qua xe cộ, qua trang phục của những cán bộ tiếp khách thì chúng ta thua. Chúng ta không nên thi về những cái đó, mà nên thi về tiết kiệm; về khoản thi này nếu chúng ta làm tốt thì chúng ta vẫn thắng.

Liêm

Liêm là không tham lam, là liêm khiết, trong sạch. Hồ Chí Minh dẫn cả Nho giáo để nói về điều này. Ông bảo rằng, người mà không liêm thì không bằng con vật, do đó, liêm chính là thước đo tính người. Ông lại nói: một dân tộc biết cần, kiệm, liêm sỉ là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh, tiến bộ”.

Trong các cuộc đấu tranh thì tự mình đấu tranh với chính mình là điều khó khăn nhất, tức là con ngư­­ời phải biết chế ngự bản thân mình, thoát khỏi sự ham hố hàng ngày. Những cái tham thường có của con người được Hồ Chí Minh chỉ ra: tham tiền của, tham ăn ngon mặc đẹp, nh­ưng ông còn chỉ ra: tham địa vị, tham danh tiếng, tham quyền lực để cậy thế làm bậy.

Hồ Chí Minh nghiêm khắc nêu: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”[27]. Hồ Chí Minh coi tham ô, lãng phí, quan liêu là “giặc nội xâm”, thứ giặc ở trong lòng, nó nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm. Đây không đơn thuần là cách gọi tên mà liên quan đến phương pháp xử lý. Nếu chỉ gọi là “nạn”, hoặc “quốc nạn” thì chúng ta chỉ dùng phư­ơng pháp chống nạn và chống quốc nạn. Còn đã gọi là giặc thì đương nhiên phải dùng phư­ơng pháp chống giặc, giết giặc, tiêu diệt giặc.

Do vậy, ở đây không có lối xử lý kiểu hành chính, xử lý nội bộ, mà phải nghiêm, xử đúng người, đúng tội, đúng luật pháp, không nhẹ trên nặng dưới, không ô dù bao che. Đã coi đó là giặc thì phải có tinh thần tiến công, có trận tuyến rõ ràng, chứ không phải mờ mờ ảo ảo, miệng mình thì hô xung phong nhưng bản thân mình lại kiếm cớ đảo ngũ, thậm chí thậm thụt với giặc để kiếm chác.

Có người không ưng cách hành xử của vị Chủ tịch nước Hồ Chí Minh trong vụ y án tử hình Trần Dụ Châu, nguyên đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, Cục trưởng Cục Quân nhu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp xâm lược. Người ta cho rằng, mấy cái tham ô, ăn chơi của vị đại tá này chả là gì so với sau này người ta con tham ô, tham nhũng nhiều hơn. Đừng tách sự việc ra khỏi hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nó. Trong lúc đất nước còn nghèo, trong lúc cả nước đang kháng chiến, trong lúc cả nước đang chắt chiu từng đồng tiền, bát gạo, củ khoai cho chiến trường thì có một ông kễnh ăn chơi xa hoa, lấy của công làm của riêng như thế, thì phép nước không để yên.

Hồ Chí Minh làm như vậy là làm theo ý dân, theo luật, là thực hiện cái ý nguyện của đất nước. Lại có người cho rằng Hồ Chí Minh chỉ mạnh về “đức trị” chứ không coi trọng “pháp trị”. Đâu phải. Tìm ở Hồ Chí Minh sự rạch ròi cái điều này khó lắm, bởi vì ông đã quyện chặt chúng lại làm một, không thể bứt xé ra được. Điều này thì đúng là phong cách của Hồ Chí Minh: con người cương nghị, kiên quyết, nghiêm khắc, nhưng lại là một con người độ lượng, bao dung, hiền hoà, một con người luôn luôn giải quyết bất cứ việc gì đó thì đều nhìn ở cả hai bình diện vừa có lý, vừa có tình.

Chính

Chính có nghĩa là thẳng thắn, là không tà, là việc gì mà tốt thì dù nhỏ cũng cố làm, việc gì mà xấu thì dù nhỏ cũng cố tránh. Muốn chính thì, như Hồ Chí Minh viết: “phải có công tâm, có công đức. Chớ đem của công dùng vào việc tư­­. Chớ đem ngư­ời tư­ làm việc công. Việc gì cũng phải công bình, chính trực, không nên vì tư­ ân, tư­­ huệ, hoặc tư­­ thù, t­ư oán. Mình có quyền dùng ng­ười thì phải dùng những ngư­ời có tài năng, làm được việc. Chớ vì bà con bầu bạn, mà kéo vào chức nọ, chức kia. Chớ vì sự mất địa vị mà dìm những kẻ có tài năng hơn mình. Phải trung thành với Chính phủ, với đồng bào. Chớ lên mặt làm quan cách mệnh”.

Hồ Chí Minh còn cho rằng, tự mình phải chính trước mới giúp được người khác chính; mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý.

Vốn là nhà thơ, hay viết thơ kiểu “tổng kết”, Hồ Chí Minh nêu cái tính chỉnh thế của các đức tính cần, kiệm, liêm, chính trong một con người rằng:[28]

Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Đất có bốn ph­ương: Đông, Tây, Nam, Bắc.

Ngư­ời có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Thiếu một mùa, thì không thành trời.

Thiếu một phương, thì không thành đất.

Thiếu một đức, thì không thành người.

Hồ Chí Minh viết về cần, kiệm, liêm, chính trong một cuốn sách mỏng, gọn, viết xong khoảng tháng 6 năm 1949, bút danh Lê Quyết Thắng, Uỷ ban Kháng chiến hành chính Liên khu I xuất bản năm 1949. Đây là cuốn sách tập hợp các bài của ông đăng trên báo Cứu quốc: Thế nào là cần, đăng ngày 30-5-1949; Thế nào là kiệm, đăng ngày 31-5-1949; Thế nào là liêm, đăng ngày 1-6-1949; Thế nào là chính, đăng ngày 2-6-1949. Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 5, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, in lại trong các trang từ 629 đến 645. Tôi cho rằng, những lời mà Hồ Chí Minh viết phản ánh rất rõ quan điểm của ông về vấn đề đó, cho nên tôi trích lại các bài đó ở Phần phụ lục cuối cuốn sách này.

Chí công vô t­ư

Đây là một yêu cầu nữa đối với đạo đức của người cách mạng, nó trái ngược với chủ nghĩa cá nhân mà Hồ Chí Minh coi chủ nghĩa cá nhân như là “bệnh mẹ” đẻ ra hàng loạt các căn bệnh khác. Nếu cuộc sống bị chủ nghĩa cá nhân hoành hành thì đạo đức bị xuống cấp một cách nghiêm trọng. Do đó, nhiều ng­­ười bị sa vào tham ô, lãng phí, xa hoa, tham danh, trục lợi, thích địa vị, quyền hành, tự cao tự đại, coi th­ường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền, xa rời thực tế, quan liêu.

Những nơi bị chủ nghĩa cá nhân xâm hại thì xẩy ra mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chủ tr­ương, chính sách của Đảng và Nhà n­ước.

Hồ Chí Minh cho rằng, có chí công vô tư thì lòng dạ mới trong sáng, đầu óc mới sáng suốt để chăm làm những việc ích quốc lợi dân. Ông giải tích: lòng mình chỉ biết vì Tổ quốc, vì đồng bào thì sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư; có chí công vô tư thì mới có năm đức tính tốt là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm – là những phẩm chất đạo đức của người cách mạng.

Có thể coi bài báo áp chót trong hàng nghìn bài báo trong cuộc đời của Hồ Chí Minh là bài Nâng cao dạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (Bút danh T. L.) đăng ở báo Nhân Dân, số 5409, ngày 3-2-1969, nhân dịp kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Bản thảo bài này được Hồ Chí Minh đưa cho nhiều người xem để góp ý, sửa chữa, bổ sung, đúng theo cách thường làm của ông. Hồ Chí Minh không sợ mất thì giờ vào chuyện này, bởi vì ông tôn trọng mọi người, quý trọng công lao động của mọi người, kể cả công việc viết bài của anh chị em thư ký, giúp việc. Hồ Chí Minh khi lấy ý kiến về một vấn đề gì đó, thì khi có những ý kiến phản hồi, bất kể ý kiến đó của ai, ở vào địa vị nào, từ các vị uỷ viên Bộ Chính trị, uỷ viên Trung ương Đảng, bộ trưởng, thứ trưởng, nhà văn, nhà khoa học hay là anh chị em lao công, cấp dưỡng, lái xe, v.v. thì ông đều tôn trọng, đều quý như nhau, chứ không phải là ông chỉ nghe ý kiến của mấy vị uỷ viên Bộ Chính trị mà không nghe ý kiến của các vị lái xe, cấp dưỡng, lao công, không phải ông cho ý kiến của người uỷ viên Trung ương Đảng, uỷ viên Bộ Chính trị, bộ trưởng đúng đắn hơn ý kiến của một người dân bình thường. Nhiều khi ông nghe ý kiến của người lái xe hơn, là bởi vì những bài báo ông viết là để cho mọi người đều hiểu, hiểu rồi để hành động chứ không phải bài báo đó chỉ dành cho những vị uỷ viên Bộ Chính trị, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo hiểu.

Có lúc Hồ Chí Minh thoả hiệp. Chẳng hạn, ông đặt tên bài báo là Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, nhưng một số người góp ý, ông có lý lẽ “cãi lại”, nhưng rồi phải đổi về lại là Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nhưng bên trong nội dung bài báo, ông vẫn để cái vế Quét sạch chủ nghĩa cá nhân lên đầu (Chữ “cãi” là từ dân giã mà Hồ Chí Minh hay dùng. Chẳng hạn, trong buổi làm việc với các đồng chí trong Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đầu tháng 6 năm 1968 về biên soạn và xuất bản loại sách Người tốt việc tốt, Hồ Chí Minh nói: “Bác muốn bàn luận dân chủ, các chú có ý kiến gì trái với Bác thì cứ cãi, nhất trí rồi về làm mới tốt được”).

Bài báo vẻn vẹn có chưa đầy 2 trang (698 chữ) đăng lại trong Hồ Chí Minh Toàn tập. Trong bài báo này, bên cạnh việc dành khoảng 200 chữ để khen cán bộ, đảng viên, còn lại ông kể “tội” chủ nghĩa cá nhân và nêu rõ: phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh ghét chủ nghĩa cá nhân mạnh đến nỗi trong buổi làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng đầu tháng 6 năm 1968 về việc biên soạn và xuất bản loại sách Người tốt việc tốt, ông nói xoáy sâu vào vấn đề đó và ý kiến lược ghi có những đoạn rất hay.

Chẳng hạn, Hồ Chí Minh cho rằng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”[29].

“Cái tôi” quả thật là phức tạp, có cái tôi đáng ghi nhận, đáng khuyến khích, nhưng cái tôi nếu bị trượt dài sang chủ nghĩa cá nhân, nghĩa là trong cuộc sống chỉ bo bo nghĩ đến mình thì cái tôi đó đáng bị lên án. Cuộc sống càng phát triển thì ranh giới giữa cái tôi đúng đắn với chủ nghĩa cá nhân thật khó phân biệt, nhất là nó được biến tướng và bị trốn, bị ẩn dấu dưới dạng này hay dạng khác của sự khẳng định cốt cách cá nhân.

Rất tiếc là loại sách Người tốt việc tôt này hiện nay không được làm mà dường như các câu chuyện về tiêu cực, về chuyện các vụ án trên một số báo lại quá nhiều, đồng thời có hiện tượng “bùng phát” huân chương, huy chương, huy hiệu, kỷ niệm chương, v.v. Hễ cứ đến dịp kỷ niệm thành lập bất cứ đơn vị nào (thường là chẵn năm), người ta xin tặng huân chương. Không dừng lại ở đó, khi đón nhận huân chương, danh hiệu, là dịp để người ta xài tiền công, là tiệc tùng, là lãng phí vô kể.

Hồ Chí Minh kể “tội” chủ nghĩa cá nhân nhiều nhất, mạnh nhất là ở bài viết với bút danh Trần Lực đăng ở Tạp chí Học tập, số 12 năm 1958. Trong bài viết đó, ông cho rằng: chủ nghĩa cá nhân đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm; nó là kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội; thắng lợi của chủ nghĩa xã hội không thể tách rời thắng lợi của cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Hồ Chí Minh phân loại rằng, tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta có ba loại kẻ địch:

1. Chủ nghĩa đế quốc, mà ông gọi đó là kẻ địch nguy hiểm;

2. Thói quen và truyền thống lạc hậu, mà ông gọi là kẻ địch to;

3. Chủ nghĩa cá nhân, mà Hồ Chí Minh gọi đó là bạn đồng minh của hai loại kẻ địch trên. Ông còn cho rằng, vết tích xấu nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ là chủ nghĩa cá nhân; nó là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, nó khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc.

Hồ Chí Minh hay dặn những người xung quanh, trong đó có Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Phải dĩ công vi thượng, nghĩa là trên hết là việc công, mọi việc riêng phải phục tùng việc công, hay quyền lợi của Tổ quốc là trên hết.

Hồ Chí Minh ít khi kể về mình. ít chứ không phải là không kể. Những câu chuyện tự bạch của ông không đầu không cuối, ông kể có lúc ngẫu nhiên, nhưng có lúc chủ ý. Có lúc mượn ngôi thứ ba, hoặc lấy bút danh để viết ký, viết bút ký, ghi chép, nhất là những lúc Hồ Chí Minh đi công tác, đặc biệt là đi công tác nước ngoài (Chứ không phải như nhiều người, nhất là các ca sĩ hiện thời tự mình xưng, tự nói trên vô tuyến truyền hình mà cứ đem cái thân mình làm ngôi thứ ba).

Giữa vô vàn cái sự kiện của một Nhà nước mới toanh ở Việt Nam – Việt Nam Dân chủ Cộng hoà — mà có một vị Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vị Chủ tịch này như thế nào, lai lịch ra làm sao, phải cho bàn dân thiên hạ biết cái lý lịch chứ. Nhất lại là đối với quốc tế. Liệu có làm khác cái thông lệ quốc tế là khi một vị nguyên thủ quốc gia nào đó nhậm chức, phải có “xưng danh” trước quốc dân đồng bào, trước quốc tế không?

Tôi theo dõi, cho đến nay, chưa thấy, chưa thấy báo nào lúc bấy giờ, ngay sau ngày 2-9-1945, đăng tiểu sử Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh, kể cả về sau khi trở thành Chủ tịch Chính phủ chính thức (nguyên thủ quốc gia). Có thể Hồ Chí Minh lấy bút danh Trần Dân Tiên viết cuốn sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Có thể lắm. Mà nếu đúng như thế thì chẳng có gì lạ cả. Đó có khi lại là một ý thức, một trách nhiệm đối với thời cuộc. Nếu có hơi lạ là từ tư duy của chúng ta nghi ngại về mấy lời viết có vẻ hơi quá trong cuốn sách ấy.

Nói như thế để thấy rằng, không phải muộn, mà là từ sớm, Hồ Chí Minh đã trả lời các nhà báo nước ngoài khi được hỏi về bản thân mình, về cái chức Chủ tịch Chính phủ của mình. Tháng 1 năm 1946, ông trả lời các nhà báo nước ngoài rằng (báo Cứu quốc, số 147, ngày 21-1-1946, đăng lại):

“Nhân dịp các bạn tân văn ký giả ngoại quốc hỏi đến, tôi xin đem câu trả lời của tôi công bố ra cho đồng bào trong nước và nhân sĩ các nước ngoài đều biết:

Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào. Bây giờ phải gánh chức Chủ tịch là vì đồng bào uỷ thác thì tôi phải gắng sức làm, cũng như­­ một ngư­­ời lính vâng lệnh của quốc dân ra trư­ớc mặt trận. Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho n­ước ta đư­­ợc hoàn toàn độc lập, dân ta đư­ợc hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”[30].

Hồ Chí Minh không có “đầu óc lãnh tụ”, không ham phú quý, công danh. Ông tự nói nhiều lần như thế và ông hành động đúng như thế. Ông sẵn sàng chung vai gánh việc nước, quyền cao chức trọng là do dân trao cho cái quyền, cái chức ấy và ông biết sử dụng cái quyền đó như thế nào cho hợp lẽ phải. Ông bảo là bao giờ đồng bào cho lui thì ông vui lòng lui. Cái thần, cái ý tứ thật hay ở đây được “gói” vào hai chữ “vui lòng”.

Có người trở thành người đứng đầu chính phủ, người đứng đầu nhà nước (hoặc gọi cách khác là nguyên thủ quốc gia) bằng đảo chính, bằng lật đổ, bằng tranh giành quyền lực (có khi đổ máu). Còn Hồ Chí Minh trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới bằng lòng dân, dân uỷ thác cho ông nắm quyền. Điều này diễn ra đúng như Êrích Giônhanxơn, một họa sĩ người Thụy Điển gặp và ký họa bức chân dung Hồ Chí Minh ngày 15-9-1924 trong dịp triển lãm nghệ thuật tạo hình Đức tổ chức tại Mátxcơva mà ấn tượng đọng sâu mãi đến nhiều năm sau Êrích Giônhanxơn viết trên báo Buổi chiều (Thụy Điển) ngày 26-12-1967: “Cử chỉ văn hoá và thân mật của ông (tức là Hồ Chí Minh) gây một ấn tượng là ông có uy tín. Ông có thể trở thành lãnh tụ không phải bằng một cái vẻ bề ngoài, mà là bằng học thức, bằng trí tuệ của mình”.

Có người khi lui khỏi chức vụ thì “ấm ức” lui chứ không phải vui lòng lui bởi vì trong thâm tâm của họ, chức quyền là để kiếm chác, là cái “cần câu cơm”, là phương tiện để “làm quan phát tài”, là ra oai, ra lệnh, thét ra lửa, là để bòn rút mồ hôi, xương máu, tiền bạc, của cải của nhân dân, không những lo kiếm chác cho bản thân mình mà còn lo kiếm chác, gầy dựng sự nghiệp cũng như của cải cho những đời sau của họ (chăm lo thế hệ đời sau!). Họ không quen làm dân và khi đã ở vào vị trí chức quyền rồi thì khi về nghỉ hưu, họ cứ không muốn làm dân.

Cái hội chứng “quan cách mạng” ấy, cái ma túy quyền lực ấy cứ bám lấy họ dai dẳng. Đó cũng là một dạng của chủ nghĩa cá nhân. Chính vì thế mà, lần đầu tiên trong lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, tại một Đại hội đại biểu toàn quốc như Đại hội X, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IX về công tác xây dựng Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, cho thấy rằng: “Vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp””[31]. Thực tế thì trong cuộc sống có nhiều cái “chạy” nữa, nhưng về cơ bản thì có 4 cái “chạy” đó.

Tưởng nói là nói vậy thôi, nhưng quả đúng thật. Các báo chí, cả báo viết và báo mạng, trong tháng 4 năm 2008 đồng loạt đưa tin vụ dùng tiền “chạy chức” ở tỉnh Cà Mau. Trong cuộc họp Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Cà Mau, ngày 8 và 9-4-2008, về việc sắp xếp tổ chức và bố trí nhân sự lãnh đạo các cơ quan thuộc Uỷ ban Nhân dân tỉnh, Uỷ ban Nhân dân các huyện và phân công cán bộ thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý, ông Bí thư Tỉnh uỷ Cà Mau Võ Thanh Bình đã cho người lái xe riêng mang vào phòng họp giao nộp lại 100 triệu đồng gói trong một tờ giấy báo, nói là tiền chạy chức của cán bộ cấp dưới.

Một số Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ trong cuộc họp đó, về sau, kể lại rằng: “Trong cuộc họp Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Cà Mau hôm 8 và 9-4-2008, tôi hết sức bất ngờ khi đồng chí Bí thư nói về tình hình chạy chức, chạy quyền của cán bộ cấp tỉnh. Đồng chí không nói suông mà đưa ra bằng chứng đàng hoàng. 100 triệu đồng được gói trong giấy báo. Đồng chí nói rằng, đó là tiền mà người ta đưa cho người nhà đồng chí vào chiều hôm trước để hòng chạy chức, chạy quyền trong sắp xếp, bố trí cán bộ lần này. Đồng chí còn nói, trong hai tuần trước đó, nếu chịu nhận tiền chạy chức thì đồng chí đã nhận trên 1 tỷ đồng”.

Một Uỷ viên Ban Thường vụ khác kể lại: “Tôi đã thắc mắc và đề nghị đồng chí Bí thư tiết lộ danh tính những kẻ đã dùng tiền đến đặt vấn đề chạy chức với đồng chí. Bởi đó là hành động thể hiện sự thoái hoá, biến chất của cán bộ. Về mặt luật pháp, hành vi đó đã vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, đồng chí Bí thư đã không tiết lộ bất kỳ một danh tính nào”. Thêm một Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ khác kể: “Tôi đã chất vấn thẳng đồng chí Bí thư: đồng chí Bí thư đã có cộng thử mới biết nếu nhận sẽ được trên 1 tỷ đồng, tức là đồng chí chắc biết rõ bao nhiêu người đã đến và ngã giá chạy chức với đồng chí. Đề nghị đồng chí chỉ rõ, vì đó không phải là những vi phạm nhẹ, mà là hành vi vi phạm pháp luật”.

Nhiều người trong cả nước, nhất là những người tại tỉnh Cà Mau, hết sức bất bình về chuyện này, bất bình đối với những người chạy chức, chạy quyền và cả đối với Bí thư Tỉnh uỷ Võ Thanh Bình. Báo chí còn tiếp tục nêu lên những sai phạm khác của ông Võ Thanh Bình trước đó trong chuyện nhà đất. Luật sư Lê Thanh Thuận, Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau khi được hỏi, cho biết: Đưa tiền chạy chức được quy là tội hối lộ. Mà số tiền hối lộ có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 30 triệu đồng sẽ bị phạt tù từ 3 năm đến 20 năm, theo Khoản 3, Điều 289 Bộ Luật Hình sự. Còn người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác thì “phạm tội không tố giác tội phạm”, theo quy định tại Điều 314 Bộ Luật Hình sự nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam . Sau đó, ông Võ Thanh Bình đã bị thi hành kỷ luật và bị thôi chức Bí thư tỉnh uỷ[32].

Liệu còn bao nhiêu trường hợp như ở Cà Mau? Đó là những việc làm nhức nhối, mà Hồ Chí Minh đã cảnh báo từ lâu rồi khi nghiêm khắc lên án những kẻ vào Đảng, những kẻ giữ chức này, quyền nọ chỉ lo kiếm chác, “để được thăng quan phát tài”.

Nhưng, tôi xin nói thêm cho rõ: chống chủ nghĩa cá nhân chứ không phải là không chú ý đến cá nhân. Ông Việt Phương có một nhận định rất hay: Hồ Chí Minh là người cực kỳ cá nhân để cực kỳ cộng đồng. Nghĩa là Hồ Chí Minh rất tôn trọng cá nhân con người. Chính cái này cũng là một cái hồn tinh tuý của nhiều học thuyết tiến bộ, trong đó hướng tới con người, tôn trọng con người. Chẳng thế mà trong Khổng Tử cách đây hơn 2 500 năm, trước hết là “tu thân” đã rồi mới đến “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.

Cũng như vậy, trong tư tưởng của nhà bác học C. Mác được thể hiện trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản viết cách đây hơn 160 năm (1848), rõ ra một ý lớn là: sự tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Hồ Chí Minh, tiếp nối những tư tưởng đó, cho rằng: “Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”. Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu.

Nhưng lại phải thấy rằng chỉ ở trong chế độ xã hội chủ nghĩa thì mỗi người mới có điều kiện để cải thiện đời sống riêng của mình, phát huy tính cách riêng và sở trường riêng của mình. Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa… Lợi ích của cá nhân gắn liền với lợi ích của tập thể. Nếu lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích tập thể, thì đạo đức cách mạng đòi hỏi ợi ích riêng của cá nhân phải phục tùng lợi ích chung của tập thể”[33].

Nhìn trở lên bên trên, rồi cho đến đây, chúng ta thấy rõ hơn cái triết lý phát triển trong hành động của Hồ Chí Minh ở 8 chữ: “Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư”.

V. Vì dân tộc, vì thế giới, quảng giao để phát triển

Đó là tinh thần quốc tế của Hồ Chí Minh. Cái gốc của sự phát triển, triết lý phát triển của Hồ Chí Minh còn là ở cái tinh thần quảng giao trên một tinh thần “tứ hải giai huynh đệ” (bốn biển đều là anh em). Đó cũng là cái nền của đạo đức.

“Tình anh em bốn bể”? Nghe có vẻ như phi giai cấp, như  có vẻ là mất lập trường giai cấp công nhân. Trước đây, tôi có viết một bài về vấn đề này của Hồ Chí Minh rồi gửi cho một tạp chí khoa học. Nhận được, một vị trong Ban biên tập của tạp chí đó tỏ ra ái ngại khi thấy tôi nêu lên và phân tích quan điểm “Tứ hải giai huynh đệ” của Hồ Chí Minh. Ngay trong Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, ở trang 554, có câu: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà (Tôi nhấn mạnh- MQT)”.

Truy ngược trở lại thời gian thì tôi thấy Hồ Chí Minh đã có tư tưởng đổi mới, canh tân đất nước từ lâu rồi. Bây giờ mà nói câu ấy thì là sự thường bởi vì cánh cửa cho Việt Nam ra quốc tế trong cách nhìn của người Việt Nam hiện nay đã mở hết cỡ.

Có thời Việt Nam đóng cửa trong sự dòm ngó của quốc tế. Đóng cho chặt lại vì sợ người ta nhòm thấy mà hùa vào xâm lược. Thời nhà Nguyễn đấy. Tuyệt giao thì không thể phát triển. Trâu ta ăn cỏ đồng ta. Đèn nhà ai nhà nấy rạng. Có chăng thì chỉ giao lưu với cái ông phong kiến bên cạnh, mà cái ông ấy người ta ví như con sư tử đang ngủ say, chẳng mở cửa giao lưu với ai. Ngủ rồi thì giao lưu với ai!

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở châu Á thì chỉ có Nhật Bản là mở, mở ra với thế giới và phát triển vùn vụt. Cho nên, Nhật Bản trở thành một điểm đến vô cùng hấp dẫn của Cụ Phan Bội Châu, với đồng chủng đồng văn canh tân đất nước. Cụ Phan Bội Châu liền chiêu tập thanh niên Việt Nam đầy nhiệt huyết sang đó học tập (Phong trào Đông Du đầu thế kỷ XX).

Quốc tế hoá thì đã có từ lâu mà con người Việt, đất nước Việt cứ khoanh tròn mấy chục vạn dặm vuông cửa đóng then cài. Đến nỗi thỉnh thoảng hé cửa ra một chút xíu, tự mình ra ngoài hóng gió tý chút thì  như người bị cảm, ngỡ ngàng quá đỗi: thấy bóng đèn điện thì ngạc nhiên sao đèn treo ngược mà vẫn sáng, thấy xe đạp hai bánh thẳng nhau mà sao đạp tròn vẫn chạy được.

Hồ Chí Minh đã đưa đất nước Việt Nam mở cửa ra với thế giới. Ông quan niệm rằng, cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, nước Việt Nam là một quốc gia bình quyền và bình đẳng với tất cả các nước trên thế giới (cái quyền tự quyết của dân tộc mà Hồ Chí Minh nhắc lại ý của chủ nghĩa Uynxơn – Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ —  trong Bản yêu sách gồm 8 điểm của nhân dân An Nam do ông ký tên Nguyễn ái Quốc gửi Hội nghị Vécxây (Pháp) năm 1919. Cái ý tưởng đó vẫn chỉ là ý tưởng, chỉ loè thiên hạ, và chẳng bao lâu sau năm 1919, Nguyễn ái Quốc cho rằng, chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn). Nói là như vậy, quyết là như vậy, nhưng rồi nhiều thế lực trên thế giới không ưng. Hồ Chí Minh nói: Không có gì quý hơn độc lập, tự do là nói lên cái ước nguyện và mục tiêu bình quyền và bình đẳng của con người Việt Nam, đất nước Việt Nam.

Sau này, đất nước Việt Nam, bởi nhiều nguyên nhân, cũng có lúc “co” về chủ yếu quan hệ với mấy nước trong “hệ thống”, trong “phe” xã hội chủ nghĩa. Ngay Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức mở ra thời kỳ đổi mới là Đại hội VI cuối năm 1986 là cái thời điểm nhiều đảng cộng sản cầm quyền trên thế giới mới bắt đầu bước vào những năm đầu khủng hoảng, thì chỉ mới xác định được rằng: ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dương, góp phần tích cực giữ vững hoà bình ở Đông Nam á và trên thế giới, tăng cường quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Sau Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam, tình hình phong trào cộng sản quốc tế diễn biến ngày càng phức tạp và nhanh chóng xấu đi. Đảng Cộng sản Liên Xô và các đảng cộng sản cầm quyền ở Đông Âu bước sâu vào công cuộc cải tổ, nhưng lại mắc phải nhiều sai lầm trong đường lối cũng như trong quá trình thực hiện. Cuối năm 1991 là cái thời gian Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xôviết (được ví như trụ cột của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới) bị tan. Một loạt chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu bị rã.

Trong hoàn cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991, họp vào tháng 6, tháng 7 – là thời gian mớm vào những sự kiện nhạy cảm bên châu Âu, trước 2 tháng xẩy ra chính biến ở Mátxcơva, đã lưu ý cho toàn Đảng rằng, cần nhạy bén nhận thức và dự báo được những diễn biến phức tạp và thay đổi sâu sắc trong quan hệ quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và xu thế quốc tế hoá của nền kinh tế thế giới để có những chủ trương đối ngoại phù hợp. Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu chuyển thực sự trong quan niệm về chính sách đối ngoại: “Chúng ta chủ trương hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau trên cơ sở các nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình”.

Từ năm 1991 trở đi, Việt Nam đã từng bước điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế vốn bấy lâu bị bó lại. Năm 1987, Nhà nước Việt Nam ban hành Luật đầu tư nước ngoài nhưng chưa có đối tác nào mặn mà. Việt Nam đi tới một giải pháp chính trị về Campuchia và tự phê bình rằng, khi tình hình thế giới và quan hệ quốc tế đã có sự thay đổi, có việc chưa đánh giá đầy đủ và kịp thời để có chủ trương sát đúng. Do đó, đến năm 1991, quan hệ giữa ba nước Đông Dương có những biến đổi tích cực rõ rệt. Việt Nam đã nỗ lực trong việc giải quyết vấn đề chính trị Campuchia mà bấy lâu nay chưa có tiến triển, phù hợp với cả lợi ích của hai nước và cả khu vực cũng như trên thế giới. Hiệp định hoà bình về Campuchia ký tháng 10-1991 là một bước đi quan trọng góp phần “giải toả” sự bao vây, cô lập đối với Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đối với Trung Quốc, mối quan hệ bị “đóng băng” từ cuối những năm 70 thế kỷ XX cũng dần dần được làm “tan băng” vào đầu những năm 90. Cái thế quan hệ không bình thường, không đáng có giữa Việt Nam và Trung Quốc làm tổn hại sự phát triển của cả hai nước trong khoảng 20 năm có lẻ.

Hồ Chí Minh chú trọng đến mối tình hữu nghị giữa hai Đảng Cộng sản, hai Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc trên nguyên tắc của quan hệ quốc tế “vừa có lý, vừa có tình”.

Song, cuộc sống phức tạp hơn. Nay thì Việt Nam và Trung Quốc đang tuyên bố thực hiện phương châm 16 chữ vàng: “Láng giềng hữu nghị. Hợp tác toàn diện. ổn định lâu dài. Hướng tới tương lai”. Trung Quốc còn nêu phương châm 4 tốt: “Láng giềng tốt. Bạn bè tốt. Đồng chí tốt. Đối tác tốt”. Trong những cuộc gặp gỡ cấp cao, lãnh đạo của hai nước còn nêu lên những kinh nghiệm để phát triển là: “Tôn trọng lẫn nhau. Hiểu biết lẫn nhau. Tin cậy lẫn nhau. Hợp tác cùng nhau”. Và ông Hồ Cẩm Đào, với cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa còn nêu mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam là: “Sơn thuỷ tương liên. Văn hoá tương thông. Lý tưởng tương đồng. Vận mệnh tương quan”. Tháng 5 năm 2004, trong chuyến thăm Trung Quốc, Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải đã đưa ra ý tưởng “Hai hành lang, một vành đai”(Nghĩa là hai hành lang kinh tế: 1. “Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng”; 2. “Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng”; một vành đai là “Vành đai kinh tế vịnh Bắc Bộ”). Trong tháng 7 năm 2006, tại “Diễn đàn hợp tác kinh tế vịnh Bắc Bộ” được tổ chức tại Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Bí thư Tỉnh uỷ Quảng Tây Lưu Kỳ Bảo đã đề xuất ý tưởng chiến lược thúc đẩy hợp tác kinh tế vịnh Bắc Bộ mở rộng, xây dựng cục diện mới hợp tác kinh tế khu vực “Một trục hai cánh” giữa Trung Quốc ASEAN[34].

Người Trung Quốc với phong cách khái quát theo ngữ nghĩa của Hán văn thì cực giỏi và cực hay. Lời nói thì dễ hơn hành động. Những biến động trong quan hệ quốc tế đó vẫn phải được quy chiếu vào những quan điểm của Hồ Chí Minh và cả những tinh tuý trong ứng xử của cha ông trong hàng nghìn năm lịch sử quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc.

Đối với châu Á — Thái Bình Dương, một khu vực kinh tế phát triển năng động vào loại bậc nhất trên thế giới, Việt Nam cũng đã chú ý nắm xu hướng vận động để tăng cường hợp tác, hội nhập. Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: đổi mới phương thức hợp tác, chú trọng hiệu quả theo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau.

Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Việt Nam đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế nhiều thành phần, đồng thời đã thu hút được đầu tư kinh tế ngày càng nhiều của nước ngoài vào Việt Nam. Đây là một quá trình chuyển đổi căn bản nền kinh tế, thoát ra được sự giáo điều theo mô hình Xôviết.

Mô hình kinh tế Xôviết nói chung là một nền kinh tế với đặc trưng chủ yếu nhất là nền kinh tế khép kín về lực lượng sản xuất, không chấp nhận kinh tế nhiều thành phần, quan niệm quan hệ sản xuất là có hai thành phần kinh tế chủ đạo: kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, tìm mọi cách, thậm chí bất chấp quy luật, để xoá bỏ sở hữu tư nhân, kinh tế cá thể, không thừa nhận kinh tế thị trường, thực hiện kế hoạch hoá tập trung và bao cấp cao độ với việc phân bổ các nguồn lực và nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh theo kế hoạch pháp lệnh của nhà nước, nếu có chăng yếu tố thị trường thì chỉ coi đó là một công cụ bổ sung không đáng kể cho kế hoạch pháp lệnh.

Việt Nam rơi vào “ảnh hưởng” của loại mô hình đó một cách tự nhiên trong cùng một hệ thống xã hội chủ nghĩa, hệ thống này tuy có bất đồng về quan niệm, cách thức đi lên chủ nghĩa xã hội của mỗi thành viên, nhưng nhìn chung về cơ bản vẫn được hình dung, được gọi chung là mô hình Xôviết. Trong một thời gian khá dài, mô hình này được áp dụng ở Việt Nam ở hoàn cảnh đặc biệt của đất nước vừa có hoà bình, vừa có chiến tranh, hoặc lúc cả nước có chiến tranh ác liệt chống Mỹ, cứu nước và đã phát huy tác dụng tốt, thu được những kết quả to lớn.

Một mô hình như vậy được ươm trồng trong một môi trường như thế thì tưởng đó là mô hình chung cho tất cả các thời kỳ của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhưng không. Nó đã bộc lộ sự bất lực, sự lạc lõng, sự trái khoáy, sự ngăn trở phát triển khi đất nước Việt Nam bước sang thời kỳ mới, thời kỳ hoà bình, khi thế giới đã có sự biến chuyển vượt bậc về phát triển kinh tế do tiến bộ của khoa học và công nghệ mà các nước tư bản chủ nghĩa đã nắm lấy, và do một quá trình toàn cầu hoá ngày càng sâu sắc.

Quá trình chuyển đổi sang cơ chế mới, với tư duy mới làm nảy sinh mối quan hệ mới, đa dạng hơn trước đây: vừa song phương, vừa đa phương trong tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Do đó, Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra chủ trương: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.

Đường lối đối ngoại của Đại VII Đảng Cộng sản Việt Nam nhanh chóng được thể chế hoá trong Hiến Pháp của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tháng 4-1992, trong Điều 14: “Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hoà bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước láng giềng, tích cực ủng hộ và góp phần vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”[35].

Tiến thêm một bước nữa, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII (6-1992) đã cụ thể hoá định hướng chiến lược “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế” thành các nhiệm vụ cụ thể, trong đó nhấn mạnh: “đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ đối ngoại cả về Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức phi chính phủ”.

Đến lúc này, sự mở rộng các quan hệ đối ngoại, kết hợp chặt chẽ các quan hệ đối ngoại chính thức của Đảng và Nhà nước với các hoạt động đối ngoại nhân dân là một bước phát triển, tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho công cuộc đổi mới của Việt Nam.

Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX trở đi, hàng loạt các tổ chức quốc tế và tổ chức khu vực ra đời dưới tác động của xu thế toàn cầu hoá. Việt Nam lại là một nước nằm trong “vành đai” hết sức năng động là châu Á – Thái Bình Dương, do vậy có chịu ảnh hưởng trực tiếp, mạnh mẽ của xu thế đó, đồng thời Việt Nam, với sự phát triển của sự nghiệp đổi mới, cũng tác động trở lại một cách tích cực vào xu thế hoà bình và hợp tác của khu vực.

Năm 1993 là một mốc lớn đánh dấu sự hoàn thành việc đặt nền cho mối quan hệ Việt Nam với các nước trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương trên cơ sở mới. Trước hết, hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng Trung Quốc và Campuchia được cởi mở hơn. Quan hệ giữa Việt Nam với các nước công nghiệp phát triển đã được nâng lên cả về quy mô và nội dung hợp tác. Việt Nam đã bình thường hoá với Tổ chức Tiền tệ quốc tế mà trước đó bị bế tắc. Số vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng nhanh. Tất cả những điều đó, dần dần đã đi đến kết quả nữa, quan trọng, là sau nhiều bước đi, ngày 3-2-1995, Chính phủ Mỹ tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.

Tôi viết hơi dài chỗ này để ngoái nhìn xa hơn một chút về phía sau của quá trình lịch sử, nó đầy dích dắc, thú vị cho những ai nghiên cứu về lịch sử quan hệ quốc tế của Việt Nam, nó gắn với “bộ óc” của những tổ chức, cá nhân cầm quyền đất nước. Những sự kiện, những bước đi mà tôi miêu tả một cách vắn tắt trên đây chính là quá trình trở lại cơ sở vững chắc của quan điểm Hồ Chí Minh về tình quốc tế, về hiểu mình, hiểu người, vì người, vì ta ngay từ đầu lập quốc mới mà kiến trúc sư cho Nhà nước mới ấy, nếu nói về vai trò của cá nhân, thì không ai khác chính là Hồ Chí Minh. Quá trình ấy, do hoàn cảnh chi phối và do nhận thức chủ quan của chính bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam, phải mất tới 40 năm. Trong chiến tranh thì không kể, đúng thế, vì phải theo quy luật của chiến tranh, nó đảo lộn nhiều thứ lắm. Nhưng, sau năm 1975? Lẽ nào những quan điểm của Hồ Chí Minh về những vấn đề này lại bị chìm đi?

Và giờ đây thì Việt Nam coi hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế khách quan trong thời buổi toàn cầu hoá. Cho nên, Việt Nam đã hội nhập sâu và đầy đủ hơn vào quá trình đó, một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, đấu tranh cho sự phát tiển bền vững. Một trong những động thái đó là cuối năm 2006 (7-11-2006), Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việt Nam đã là một hình ảnh một đất nước năng động, mở cửa, giao lưu rộng rãi, có thể ngồi đàm đạo bình thường với tất cả các thành viên quốc gia trên thế giới.

Lịch sử không đi theo con đường thẳng tắp, mà nó đầy dích dắc. Hồ Chí Minh đã ý thức được điều đó và quyết tâm đưa đất nước Việt Nam vào một quá trình phát triển của thế giới. Ngay sau đất nước giành được độc lập, một nước Việt Nam mới – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà — đã cố vươn ra hoà nhập với thế giới hiện đại mà vốn trước đó Việt Nam không có điều kiện để tham gia. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước đã mất độc lập, dân đã mất tự do, nước và dân đang ở thân phận nô lệ cho kẻ khác thì còn gì để mà chơi cái sân chơi trên toàn cầu.

Sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, đầu tiên là Hồ Chí Minh muốn có quan hệ tốt với Hoa Kỳ, một nước của phe Đồng Minh chống chủ nghĩa phátxít trong chiến tranh thế giới thứ hai. Trong lịch sử, bây giờ nhìn lại, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ quả thật thăng trầm và tệ hại nhất là ảnh hưởng xấu của chiến tranh. Chiến tranh, mà do Hoa Kỳ gây ra, đã phá vỡ các mối quan hệ thân thiện, đã kéo lùi bước tiến của cả hai dân tộc. ít ai có được cái nhìn như Hồ Chí Minh về mối quan hệ Việt – Mỹ, kể cả phía Mỹ. Mọi việc trở nên đơn giản đối với mọi người hiện nay trong cái thời kỳ mà quan hệ Việt – Mỹ đã được bình thường hoá, đang phát triển theo chiều hướng tốt đẹp.

Việt Nam đã giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 từ tay phátxít Nhật Bản, gần 30 năm sau hai nước Việt Nam – Nhật Bản đã thiết lập được quan hệ ngoại giao. Đối với Pháp, là nước có “nặng nợ” nhất trong cả hai cuộc chiến tranh thì mấy chục năm sau đó, Việt Nam và Pháp cũng đã trở thành bạn. Còn đối với Hoa Kỳ, cái bắt tay để bình thường hoá mở đầu sau 20 năm chiến tranh (1975 – 1995), rồi cũng lận đận mãi mới thành chắc chắn cũng từng ấy thời gian.

Hồ Chí Minh có sự hiểu biết khá sâu về nước Mỹ, trong đó phải kể đến cả yếu tố ông đã ở Mỹ, đến tham quan tượng Nữ thần Tự Do, đến khu Háclem ở Niu Oóc[36]. Ông hiểu rõ giá trị của Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, ông dẫn ý của bản Tuyên ngôn đó trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do ông viết năm 1945 với một tư duy mới mà sau này, bà Lady Borton (người Mỹ, giỏi tiếmg Việt) đã viết một bài (bằng tiếng Anh, đã được dịch ra tiếng Việt) phân tích rất hay trong cuộc Hội thảo khoa học quốc gia-quốc tế được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 19 đến ngày 21-9-2000 với chủ đề “Việt Nam trong thế kỷ XX”.

Trong bài viết của mình nhan đề Hồ Chí Minh đã biết điều đó như thế nào?, Lady Borton cho biết: bà đã trao đổi ý kiến với Sáclơ Phen (Charler Fenn) – người mà năm 1945 là trung uý, thành viên của Cơ quan Chiến lược Mỹ (OSS), tiền thân của CIA sau này, người đã giới thiệu cho Hồ Chí Minh lúc ấy có mặt tại Côn Minh (Trung Quốc) để đưa một phi công Mỹ được Việt Minh cứu trao cho tướng Chennault Sở chỉ huy Không lực 14 tại Côn Minh (ngày 29-3-1945).

Bà Lady Borton nói lại ý của Sáclơ Phen rằng: “Đây chính là điều mà các nhà sử học Mỹ sai lầm ở chỗ họ nghĩ rằng Hồ Chí Minh đã trực tiếp trích dẫn bản “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ. Ông không hề trích dẫn. Trái lại, Hồ Chí Minh đã sửa đổi tài liệu đó để khẳng định cách nhìn của ông”[37]. Cũng theo bà Lady Borton, Hồ Chí Minh sửa đổi ở chỗ: bản của Mỹ, chữ “con người”“men”, còn bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh viết là “tất cả mọi người”. Điều đó thì không để chỉ “men”, tức là không bao gồm phụ nữ, tầng lớp mà ở Mỹ, những người da màu được quyền đi bầu cử vào năm 1870, còn phụ nữ thì  muộn hơn – sau năm 1920. Bà Lady Borton viết tiếp: “Hồ Chí Minh thông thạo tiếng Anh. Hẳn ông biết rõ sự khác nhau giữa “con người” (men) với “người” (people)”[38].

Hồ Chí Minh đã dẫn cả ý của Jenfferson (Hoa Kỳ) về quan hệ giữa dân với chính phủ trong tác phẩm Đường cách mệnh năm 1927 và trong khi nói chuyện với đồng bào, thân sĩ của tỉnh Thanh Hoá khi ông đi theo con đường Chi Nê (Hoà Bình) đến thăm năm 1947: “Giời sinh ra ai cũng có quyền tự do, quyền giữ tính mệnh của mình, quyền làm ăn cho sung sướng… Hễ Chính phủ nào mà có hại cho dân chúng, thì dân chúng phải đập đổ Chính phủ ấy đi, và gây lên Chính phủ khác” (Đường cách mệnh); “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” (Bài nói chuyện với các đại biểu thân sĩ trí thức, phú hào tỉnh Thanh Hoá, ngày 20-2-1947)[39].

Hồ Chí Minh đã chủ trương cứu phi công Mỹ trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, tranh thủ sự giúp đỡ quân đội Mỹ. Hồ Chí Minh hy vọng với ảnh hưởng của Mỹ, vốn là một nước Đồng Minh thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ hai, để có thể ngăn chặn sự xâm lược trở lại của thực dân Pháp vào Việt Nam.

Chưa hết, hai tháng sau khi nước Việt Nam đã giành được độc lập, tức là ngày 1-11-1945, Hồ Chí Minh vừa nhân danh Chủ tịch Chính phủ lâm thời, vừa nhân danh Hội Văn hoá Việt Nam gửi thư cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Giêm Biếcnơ, trong đó viết rõ: “Trong suốt nhiều năm nay, họ (tức là Hội Văn hoá Việt Nam – MQT) quan tâm sâu sắc đến các vấn đề của nước Mỹ và tha thiết mong muốn tạo được mối quan hệ với nhân dân Mỹ là những người mà lập trường cao quý đối với những ý tưởng cao thượng về công lý và nhân bản quốc tế, và những thành tựu kỹ thuật hiện đại của họ đã có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với giới trí thức Việt Nam”.

Cho nên, Hồ Chí Minh “bày tỏ nguyện vọng của Hội, được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ văn hoá thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tục nghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác. Nguyện vọng mà tôi đang chuyển tới Ngài là nguyện vọng của tất cả các kỹ sư, luật sư, giáo sư Việt Nam, cũng như những đại biểu trí thức khác của chúng tôi mà tôi đã gặp”[40].

Đó quả thật là một tầm nhìn rất xa, rất cao. Giống như một người cao cờ nghĩ được hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn nước đi. Nhưng, vẫn có những người thấp cờ, tầm nhìn thấp, không gian thì hẹp và gần. Việc không thành do có cả tầm nhìn và nhiều nguyên nhân nữa từ phía khác, chứ không phải từ phía Việt Nam.

Tháng 9 năm 1947, trả lời nhà báo Mỹ S. Êli Mâysi (S.Elie Maissie), phóng viên hãng tin Mỹ International New service, một người quan tâm nhiều đến cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh tuyên bố đại cương chính sách đối ngoại của Việt Nam là: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”[41].

Và thật ngạc nhiên là ông tuyên bố với Liên hợp quốc trong thư gửi cuối năm 1946 rằng: “Trong chính sách đối ngoại của mình, nhân dân Việt Nam sẽ tuân thủ những nguyên tắc dưới đây:

1. Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền.

2. Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:

a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.

b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.

c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.

d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân”[42].

Ngạc nhiên là bởi vì ngày nay đọc lại những dòng trên đây, thấy Hồ Chí Minh nghĩ xa quá, đúng quá, cứ y chang những nội dung luật Đầu tư mà Việt Nam bắt đầu khởi động năm 1987 và phát triển về sau này. Cánh cửa đã mở từ sớm, nhưng oái oăm thay, chiến tranh cứ khép nó lại một cách phũ phàng. Mà phải rất lâu, rất lâu sau, mới mở trở lại được.

Thật ra, đầu cuộc chiến tranh Việt Nam – Pháp năm 1946, Mỹ đã có sự dính líu vào rồi. Tác giả Phan Văn Hoàng, trong một bài viết trên tạp chí Xưa và Nay, số 316, tháng 9 năm 2008 “Có phải chính phủ Mỹ không dính líu đến sự mở đầu của chiến tranh Việt – Pháp?”, thông qua nhiều chứng cứ tư liệu, đã vén một phần bí mật của các sự kiện này.

Ngay cuối năm 1944 đầu năm 1945, Tổng thống Mỹ Roosevelt đã nêu chủ trương thiết lập một chế độ uỷ trị (international trusteeship) sau khi Nhật bị đánh bại. Chủ trương này bị nhiều nước phản đối, trong đó có Pháp. Tháng 4 năm 1945, 9 ngày trước khi chết, Tổng thống Mỹ Roosevelt tuyên bố huỷ bỏ chủ trương này đồng thời khuyến khích Pháp nắm lấy Đông Dương. Chính phủ Mỹ đã khước từ những nguyện vọng và đề nghị của nhân dân Việt Nam (Những nguyện vọng và đề nghị này thông qua 8 bức thư, bức điện của Hồ Chí Minh gửi cho Tổng thống Mỹ và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ). Đó là nguyện vọng được sống trong độc lập, tự do, mong muốn có sự hợp tác toàn diện với Mỹ, đề nghị Chính phủ Mỹ và các cường quốc khác công nhận nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và ủng hộ Việt Nam vào Liên hợp quốc, can thiệp để ngăn chặn cuộc tái xâm lăng của thực dân Pháp vào Việt Nam.

Mọi sự cố gắng của Hồ Chí Minh về thiết lập quan hệ hợp tác, hữu nghị với Mỹ lúc này đã bị phía Mỹ đáp trả không tích cực. Không những không ủng hộ Việt Nam mà Chính phủ Mỹ còn dính líu, can thiệp khá sâu, đứng về phía thực dân Pháp ngay trong những năm đầu của cuộc chiến tranh Việt – Pháp. Đây là hệ luỵ từ quan điểm thực dân đế quốc mà Mỹ theo đuổi. Chính phủ Mỹ cho rằng, Hồ Chí Minh là tay sai của Quốc tế Cộng sản, sự cầm quyền của Chính phủ Việt Minh là có hại cho quyền lợi của Mỹ, cho nên phải chống lại ảnh hưởng của Chính phủ Việt Minh, ảnh hưởng của Liên Xô, Trung Cộng ở Đông Nam Á.

Một chuỗi hành động tiếp sau đó là lộ trình hợp lôgíc của chủ trương đó. Đang lúc nhân dân Việt Nam giành chính quyền ở Sài Gòn – Gia Định, thì ngày 24-8-1945 (giờ Mỹ), tức là ngày 25-8-1945 (giờ Việt Nam), Chính phủ Mỹ bật đèn xanh cho Pháp tái chiếm Đông Dương bằng tuyên bố của Tổng thống Mỹ Tơruman với Tổng thống Pháp Đơ Gôn đang ở thăm Mỹ: “Trong mọi trường hợp, đối với Đông Dương, Chính phủ nước tôi không chống lại việc chính quyền và quân đội Pháp quay trở lại xứ ấy”[43].

Trong lúc dự buổi phátxít Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng quân Đồng Minh, ngày 2-9-1945, tướng Douglas MacArthur của Mỹ nói với tướng Leclerc của Pháp rằng: “Nếu tôi có điều gì để khuyên ông thì lời khuyên đó là: Ông hãy mang quân sang (Việt Nam), mang thêm nhiều quân hơn nữa, nhiều chừng nào mà ông có thể làm được”[44].

Rạng sáng ngày 23-9-1945, được Mỹ ủng hộ, được Anh giúp sức, quân Pháp do đại tá Jean Cédile chỉ huy đã tiến công trụ sở Uỷ ban Nhân dân Sài Gòn – Gia Định và các công sở khác của chính quyền cách mạng. Quân đội Pháp vấp phải sự chống trả quyết liệt của nhân dân Việt Nam và gặp khó khăn lớn về nhiều mặt, trong đó có quân số đưa sang chưa nhiều. Pháp đề nghị Anh và Mỹ giúp đỡ.

Anh đang gặp khó khăn. Mỹ đã đứng ra giúp Pháp thông qua hàng loạt những hành động mà bây giờ nhìn lại thật đáng xấu hổ. Mỹ đã cấp cho thực dân Pháp 8 tàu chiến để chở Sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 sang tăng viện; cung cấp tiền để Pháp mua 75 tàu chở quân; cuối tháng 8 năm 1945 cho Pháp vay dài hạn 650 triệu đôla Mỹ; tháng 5 năm 1946 Mỹ xoá khoản nợ 1,8 tỷ đôla Mỹ mà Pháp đã vay trong Chiến tranh thế giới thứ hai và cho vay tiếp 500 triệu đôla Mỹ; năm 1947 Mỹ lại cho Pháp vay tiếp 150 triệu đôla Mỹ để mua xe và phụ tùng sử dụng ở chiến tranh Đông Dương. Giữa tháng 3 năm 1946, thực dân Pháp được thừa hưởng nhiều vũ khí, trang bị do Anh để lại ở đây trị giá tới 70 triệu đôla Mỹ, trong đó có khoảng 800 xe quân sự của Mỹ cho Anh thuê và mượn trước đấy. Chính phủ Mỹ còn khuyến khích thực dân Pháp chiếm lan ra cả miền Bắc Việt Nam.

Ấy thế mà nhiều người biện minh cho hành động trên đây của Mỹ. Họ cho rằng, Mỹ “đứng trung lập”, “không can thiệp”, “không dính líu”, v.v. vào thời gian đầu của cuộc chiến tranh Pháp – Việt (1945 – 1954).

Trách nhiệm phá vỡ triển vọng quan hệ hữu nghị, hợp tác Việt Nam – Hoa Kỳ những năm đầu sau khi Việt Nam giành được độc lập, thuộc về phía Hoa Kỳ. Và, trong việc thực dân Pháp quay trở lại tái chiếm Việt Nam (1945 – 1954) sau khi dập tắt hàng loạt nỗ lực cứu vãn hoà bình của Hồ Chí Minh, có cả trách nhiệm của phía Mỹ.

Cớcty Lơmay, một tướng không quân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, khi Mỹ triển khai chiến tranh phá hoại lần thứ nhất (1965-1968), đem máy bay, tàu chiến ném bom, bắn phá dữ dội miền Bắc Việt Nam, tuyên bố rằng: “sẽ oanh tạc miền Bắc Việt Nam mạnh mẽ cho đến khi hai viên gạch không dính vào nhau, làm như thế tức là sẽ kéo lùi miền Bắc Việt Nam lại thời kỳ đồ đá”. Đã chắc là về mặt vật chất, chiến tranh phá hoại do phía Mỹ gây ra có kéo lùi miền Bắc Việt Nam, nhưng cũng chưa thể kéo được về “mo”, nhưng kéo lùi tư duy về quan hệ đối ngoại và về phát triển kinh tế thì rất rõ: nó làm đóng khung, làm cứng nhắc lại trong quan hệ vốn chưa được mở rộng, lại càng bị cô lập hơn suốt trong những thập niên đầu sau năm 1975.

Âu đó cũng do hoàn cảnh lịch sử. Đổ tất cả cho hoàn cảnh cũng dễ thôi. Vấn đề là ở chỗ, một số người đã sao lãng những quan điểm có tính chất cơ bản, sáng giá của Hồ Chí Minh. Sau này có trở lại có lẽ là sự trở lại một cách tự giác theo hoàn cảnh chứ không phải tự giác theo chỉ dẫn của Hồ Chí Minh.

Đạo đức cách mạng, để làm cái gốc cho sự phát triển, là phải chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi cũng như tư tưởng nước lớn. Về vấn đề này, đã từ rất sớm, trong dịp thăm nước Pháp năm 1946, khi bên cạnh phái đoàn của ta đi Hội nghị Phôngtenblô, khi đang gồng mình để cứu vãn hoà bình, ngăn chiến tranh Pháp – Việt nổ ra, Hồ Chí Minh đã vận cả văn hoá Khổng giáo phương Đông và triết lý văn hoá phương Tây để bày tỏ cho Chủ tịch Chính phủ Pháp G. Biđôn rõ: “Sự thành thực và sự tin cẩn lẫn nhau sẽ san phẳng được hết thảy những trở ngại. Chúng ta chẳng đã ruồng bỏ được cái chủ nghĩa đế quốc xâm lược và cái chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi không còn thích hợp với thế giới hiện tại đấy ư? Chúng ta đều được kích thích bởi một tinh thần. Triết lý đạo Khổng, và triết lý phương Tây đều tán dương một nguyên tắc đạo đức: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (Nghĩa là Điều mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác – MQT chú giải). Tôi tin rằng trong những điều kiện ấy, hội nghị sắp tới (tức Hội nghị Phôngtenblô – MQT) sẽ đi tới những kết quả tốt đẹp”[45].

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng tình nghĩa láng giềng, tức là với Trung Quốc, với Lào, với Campuchia, và với nhiều nước khác nữa. Tình cảm, trách nhiệm quốc tế với quyền lợi của mỗi dân tộc quyện chặt vào nhau, không có chuyện hy sinh cái này cho cái kia. Có lẽ ít ai, những người Việt Nam yêu nước và nhân dân Lào yêu nước, là không nhớ đến những vần thơ của Hồ Chí Minh:

Thương nhau mấy núi cũng trèo

Mâý sông cũng lội, mấy đèo cũng qua

Việt – Lào hai nước chúng ta

Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long

Vẫn còn không ít những phản cảm, những điều không hay trong quan hệ của một số người, một số công ty đi “làm ăn” ở các nước láng giềng.

Hồ Chí Minh chính là sự kết tinh của các nền văn hoá Đông – Tây. Ông hiện thân cho tình đoàn kết và thân ái quốc tế, đúng như những lời của nhà thơ Liên Xô Ôxíp Manđensơtam trong bài báo nhan đề “Thăm một chiến sĩ Quốc tế Cộng sản – Nguyễn ái Quốc”, đăng trên báo ?????? (Ngọn lửa nhỏ) của Liên Xô, số 39, ngày 23-12-1924: “Dáng dấp của con người trước mặt tôi đây, Nguyễn ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị…Từ Nguyễn ái Quốc đã toả ra một thứ văn hoá, không phải văn hoá Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hoá tương lai…Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới”[46].

Hồ Chí Minh, trong thực tế lịch sử, đã trở thành một biểu tượng của tình hữu nghị giữa các dân tộc, của lòng nhân ái trên thế giới. Về sau, với sự nghiệp anh hùng chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, càng ngày, Hồ Chí Minh càng được nhiều nước, nhiều tổ chức trên thế giới tôn vinh[47]. Danh họa nổi tiếng thế giới Picátxô gọi Hồ Chí Minh là “Chàng hiệp sĩ của thời đại”.

Thời cuộc quả thật rất sống động và trải qua rất nhiều biến đổi. Đã trải qua nhiều cuộc bể dâu, vật đổi sao dời. Thật khó mà ngờ tới những biến thiên của tình hình quốc tế. Bây giờ nhìn lại kể ra thấy cũng lạ và quả là phục ở cái tầm của Hồ Chí Minh, cái tầm mắt con chim phượng hoàng của dãy núi Trường Sơn hùng vĩ như có lần Phạm Văn Đồng đã ví với tầm mắt của Hồ Chí Minh.

Chính là Hồ Chí Minh, chứ không phải ai khác, đã từ sớm, khởi xướng việc Việt Nam gia nhập tổ chức Liên hiệp quốc. Hồ Chí Minh muốn Việt Nam là một thành viên của Liên hợp quốc ngay từ thời gian đầu khi Tổ chức này thành lập. Khoá họp đầu tiên của Liên hiệp quốc diễn ra tại Luân Đôn (thủ đô nước Anh) ngày 14-1-1946. Nhân dịp này, Hồ Chí Minh, với tư cách là Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đã gửi bức điện tới ông Hăngri Xpát (H. Spaak), Chủ tịch Hội đồng Liên hiệp quốc, để xin Việt Nam gia nhập Liên hiệp quốc.

Đồng thời, cùng ngày 14-1-1946, Hồ Chí Minh đã gửi điện cho các ông Anđrê Grômưcô – Đại diện Liên Xô, Giêm Biếcnơ – Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, Bác sĩ Cố Duy Quân – Đại diện Trung Quốc tại Hội đồng Liên hiệp quốc, trong đó kêu gọi Liên hiệp quốc công nhận nền độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và nhận Việt Nam vào Liên hiệp quốc. Trong bức điện, Hồ Chí Minh còn viết rằng: “Theo như lời tuyên bố của vị đại diện Trung Hoa Cố Duy Quân thì Á châu chưa có đủ đại biểu trong Hội nghị. Chúng tôi tin rằng, sự có mặt của chúng tôi trong Hội nghị sẽ có ích nhiều cho việc giải quyết một cách nhanh chóng và hoà bình cho các vấn đề ở Đông – Nam Á châu hiện nay”[48].

Cuộc vận động ngoại giao không thành. Cũng dễ hiểu thôi. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà còn mới lạ quá trên trường quốc tế, chưa ai biết gì nhiều, chưa có quốc gia nào công nhận cả, ngay cả từ phía Liên Xô và từ các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Sự thành tâm và mong muốn của một nước Việt Nam mới trong cuộc chơi chung với cộng đồng thế giới không được các nước đáp lại trong những năm đầu sau khi Việt Nam đã rất tích cực đứng về phía Đồng Minh chống chủ nghĩa phátxít, và trực tiếp chống phátxít Nhật Bản trên đất nước mình, giành được độc lập, giành được chính quyền từ tay phátxít Nhật Bản.

Bẵng đi một thời gian khá lâu hàng thập niên do chiến tranh với Pháp và với Mỹ, vấn đề nguyện vọng, đề nghị của Việt Nam trở thành một thành viên của Liên hợp quốc không được đặt ra nữa. Hồ Chí Minh và các cộng sự của ông cùng nhân dân Việt Nam dồn sức vào sự nghiệp chống xâm lược của ngoại bang. Trong quan điểm của quan hệ quốc tế, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản, Chính phủ Việt Nam nhấn mạnh vấn đề “không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”. Tất nhiên, thực tế vẫn có đường đi riêng của nó, nghĩa là vẫn có một số tình huống, một số thế lực nước ngoài can thiệp, mà can thiệp một cách rất trắng trợn, vào công việc nội bộ của Việt Nam, nhất là trong sự nghiệp chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Nay thì tình hình đã khác lắm rồi. Thế giới đúng là có những biến đổi khó lường. Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên hiệp quốc năm 1977, chỉ hai năm sau khi nước nhà được thống nhất. Hồi 9 giờ sáng, giờ Niu Oóc, ngày 20-9-1977, lễ thượng cờ Việt Nam được chính thức tổ chức tại cửa chính trụ sở Liên hiệp quốc. Chủ tịch Đại Hội đồng, Tổng Thư ký Liên hiệp quốc, Đoàn đại biểu Việt Nam do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh dẫn đầu, cùng đại diện Việt kiều và bạn bè Mỹ đã dự lễ.

Và, 30 năm sau, cũng đúng vào hồi 9 giờ sáng giờ Niu Oóc, tức là 22 giờ Hà Nội ngày 16-10-2007, tại Khoá họp thường niên lần thứ 62 Đại Hội đồng Liên hiệp quốc, với 96% số phiếu thuận (183/190 số phiếu tán thành), Việt Nam đã được bầu làm Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 cùng với Libi, Crôátia, Côxta Rica, Buốckina Phaxô. 30 năm sau khi gia nhập Liên hiệp quốc, Việt Nam đã chính thức trở thành 1 trong 15 nước uỷ viên Hội đồng Bảo an.

Hội đồng Bảo an là một trong 6 cơ quan chính của Liên hiệp quốc, lập ra nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Theo Hiến chương của Liên hiệp quốc, tất cả các nước thành viên Liên hiệp quốc phải cung ứng cho Hội đồng Bảo an, căn cứ theo những thoả thuận đặc biệt thông qua thương lượng với Hội đồng Bảo an, những lực lượng vũ trang, những trợ giúp và các phương tiện cần thiết khác để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.

Trong khi các cơ quan khác của Liên hiệp quốc chỉ có thể đưa ra các quyết định mang tính khuyến nghị đối với chính phủ của các quốc gia thành viên, thì các quyết định và nghị quyết của Hội đồng Bảo an khi đã được thông qua đều mang tính chất ràng buộc và tất cả các thành viên của Tổ chức Liên hiệp quốc đều phải có trách nhiệm tôn trọng và thi hành. Do vậy, Hội đồng Bảo an được coi là một bộ phận quan trọng và quyền lực của Liên hiệp quốc, hay nói cách khác, nó là một cơ quan quyền lực cao nhất của Liên hiệp quốc.

Đây là một cái mốc ghi dấu uy tín tăng lên của Việt Nam trên trường quốc tế của một thời kỳ mới, thời kỳ đầy năng động của thế kỷ XXI. Gia nhập Hội đồng Bảo an là một vinh dự và quyền lợi quốc gia đối với các nước thuộc Liên hiệp quốc. Việc tham gia đó không những góp phần nâng cao vị thế của nước thành viên trên trường quốc tế mà còn tạo điều kiện cho họ đề xuất, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến khu vực và trên thế giới. Do đó, khi tham gia Hội đồng Bảo an, các nước thành viên sẽ phải hoạt động ngoại giao tích cực hơn, tham vấn nhiều hơn để có thể đưa ra những quyết sách kịp thời nhằm giải quyết tốt những vấn đề an nình, hoà bình trên thế giới.

Việt Nam trở thành Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2008 – 2009 là một mốc lớn nữa ghi dấu quá trình hội nhập sâu và đầy đủ hơn vào đời sống quốc tế. Điều đó cho thấy vị thế chính trị và ngoại giao của Việt Nam lên cao, thể hiện sự tin tưởng của thế giới. Điều này cũng để cho Việt Nam nâng cao hơn nữa vị thế và hình ảnh một đất nước Việt Nam yêu chuộng hoà bình với những tham gia và đóng góp hiệu quả vào công cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hoà bình, độc lập dân tôc, phồn vinh, dân chủ và tiến bộ xã hội.

ý tưởng và những cố gắng của Hồ Chí Minh muốn đưa Việt Nam hội chung vào sân chơi thế giới phải mất tới 31 năm sau mới thành hiện thực (năm 1977), và được tiến thêm những bước tốt đẹp hơn từ những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI. Điều đó cho thấy rằng, sự phát triển không phải bao giờ cũng được diễn ra với con đường thẳng tắp. Nó phải vượt qua bao lực cản, bao chông gai, v.v. Trong các lực cản, có chiến tranh, có tầm nhìn của các quốc gia, và có cả lực cản của tầm nhìn cũng như hành động của chính người trong cuộc.

Nhưng, vị thế này cũng đưa Việt Nam bước vào một mối quan hệ mới, đầy thách thức. Với tư cách là một Uỷ viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc 2008 – 2009), quan điểm mà nhiều năm đã trở thành nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam là “không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau” có lẽ bị thử thách lớn. Hội đồng Bảo an, trong đó có Việt Nam, phải quyết định những vấn đề giải quyết xung đột, giải quyết vấn đề chiến tranh-hoà bình đối với các nước thành viên. Đây là điểm mới, rất mới so với thời kỳ của Hồ Chí Minh sống. Dù có không ít điểm khác so với hiện nay do thời cuộc đổi thay trong các quan hệ quốc tế của Việt Nam, một Việt Nam mở cửa, hội nhập, cùng tích cực, chủ động bước vào sân chơi chung của cộng đồng quốc tế, nhưng những quan điểm của Hồ Chí Minh về quan hệ đối ngoại vẫn là những quan điểm dẫn đường với ý nghĩa là phương pháp luận cực kỳ quý báu.

Việt Nam phải luôn luôn chủ động, tích cực mở rộng tối đa các mối quan hệ quốc tế. Quảng giao để phát triển – đó cũng là một triết lý phát triển của Hồ Chí Minh. Đây là vấn đề của mỗi con người và cũng chính của từng cộng đồng, của từng quốc gia-dân tộc.

VI. Tu dưỡng, rèn luyện

Cái gốc để phát triển, hay triết lý phát triển trong hành động của Hồ Chí Minh, theo tôi, có ba vấn đề đáng chú ý nhất, mà ba vấn đề này có tính nguyên tắc của hành động theo đạo đức tốt.

Một là, quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức phải được diễn ra suốt cả cuộc đời con người.

Đạo đức tốt của một con người không phải cứ tự nhiên mà có, nói như Hồ Chí Minh thì nó không phải từ trên trời rơi xuống, mà do tu dưỡng bền bỉ hằng ngày để phát triển, củng cố, như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.

Ở trong tù, ngày rộng tháng dài, “một ngày tù bằng nghìn thu ở ngoài”, mất tự do, chịu nhiều khổ ải, Hồ Chí Minh làm thơ (Ngục trung nhật ký), trong đó có một bài vận vào cái chí khí của ông trong việc tự rèn luyện:

Văn trung mễ thanh

Mễ bị thung thi, hẩn thống khổ,

Chí thung khi hậu, bạch như miên;

Nhân sinh tại thế dã giá dạng,

Khốn nạn  thị nhĩ ngọc thành thiên.

Văn Ngọc – Văn Phụng dịch là:

Nghe tiếng giã gạo

Gạo đem vào giã bao đau đớn,

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông;

Sống ở trên đời người cũng vậy,

Gian nan rèn luyện mới thành công.

Cuộc sống của con người không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Cả một cuộc đời lãnh tụ như Hồ Chí Minh trước làm sao sau y như vậy, xem thế giới được bao nhiêu người? Trong những cơn cuồng phong chính trị ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu những năm 80 và 90 của thế kỷ trước, thì ra, có nhiều điều buộc chúng ta phải nghĩ suy về đạo đức của con người khi người ta ở vào vị trí quyền lực cao chót vót. Khi đã có chức, có quyền mà ở vị trí thật cao, thật trọng, lại được một “cơ chế” bao che, nâng đỡ, thì nếu không “giữ mình” thì sẽ hư hỏng lúc nào không biết.

Quả thực, quyền cao chức trọng đó chới với và nghiêng ngả lắm. Những năm tháng tôi ở Bungari học tập và công tác, trong những ngày chế độ xã hội chủ nghĩa ở đó đang bị chao đảo thì người ta đã nói trước đó và đến lúc giữa những năm 80 thế kỷ XX người ta nói mạnh hơn về những cái xấu của nhiều cán bộ cao cấp, kể cả người đứng ở vị trí cao nhất. Một số vị cán bộ cao cấp trong Đảng Cộng sản và Nhà nước Bungari lúc này còn đâu đạo đức, phong cách của V. Côlarốp, người có thời là Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản; còn đâu thế hệ đáng phải được tin tưởng, thế hệ hậu anh hùng Laixích và cũng là Tổng Bí thư Quốc tế Cộng sản khoá VII G. Đimitơrốp. Còn ở Rumani và một số nước khác? Những tấm huân chương, những nhiều lần anh hùng được phong hẳn có ý nghĩa gì tích cực không? Có một số vị lãnh đạo cấp cao được phong anh hùng nhiều lần, được thưởng huân chương, được cả một hội trường đứng dậy vỗ tay nhiều lần như sóng dậy khi người đó xuất hiện trên Đoàn Chủ tịch, nhưng rồi cuối cùng nhân dân xử chết ông ta một cách nhục nhã.

Có cái gì đó không ổn trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức trong số không ít người có quyền cao chức trọng. Cả hiện nay nữa. Bảo rằng, luật pháp chưa đầy đủ, không đúng. Bảo rằng, những quy định về kỷ luật chưa nghiêm, chưa chặt chẽ, không đúng. Đành rằng, những “cơ chế”, luật pháp, những quy định là quan trọng lắm trong việc quản lý, chế định hành vi của từng con người mà không có nó thì không thể có một xã hội đúng nghĩa.

Nhưng, những cái đó là cần mà lại chưa đủ. Cái thêm vào tổ hợp đó và là quan trọng không kém, và mới đủ, là tự giác, tự tu dưỡng, rèn luyện. Người đứng vị trí cao của quyền lực, nếu không như vậy, sẽ có lúc tự mình đứng trên luật pháp, tự mình cho mình cái quyền được làm những điều mà quy định không cho phép, tự mình tách ra khỏi cái cộng đồng để trở thành ông hoàng, bà chúa, không trở thành đày tớ thật trung thành, không trở thành trâu ngựa của nhân dân. Những hình ảnh phản cảm đã và sẽ diễn ra hằng ngày trong con mắt của dân chúng khi những người đó không tự răn mình. Họ cũng có thể học tập, làm theo đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng là chỉ ngồi nghe người ta đăng đàn diễn thuyết, hoặc tự họ cũng nói, cũng rao giảng về những điều đạo đức, nhưng họ sợ sờ lên gáy, và trong thực tế họ không hành động theo những gì họ nói.

Bậy nhất và tai hại nhất là đạo đức của họ không ra gì nhưng họ cứ lên lớp người khác. Dân gian đã nhìn thấy và có bao nhiêu câu chuyện tiếu lâm về đày tớ: nếu mà làm đày tớ và làm trâu ngựa cho dân mà cứ nhà lầu xe hơi, làm giàu bất chính trên cơ sở đặc quyền đặc lợi như thế thì là làm quan cách mạng chứ không phải là làm đày tớ.

Hành động của không ít người có quyền cao chức trọng hư hỏng này về mặt đạo đức, không những có hại cho địa bàn nơi họ sống, không những làm hỏng tập thể nơi họ công tác mà còn, và quan trọng hơn cả, là nó làm thui chột và đổ vỡ cả chế độ chính trị và cả một xã hội, mọi thành quả của cách mạng bao nhiêu năm mà nhân dân đã giành được sẽ bị đổ xuống sông xuống biển. Tác động của cái xấu lớn lắm, có khi nó có sức công phá bằng nhiều quả bom nguyên tử cộng lại.

Trong cuộc sống, cái chân, thiện, mỹ có nhiều, nhưng cái ác, cái xấu có cũng không ít. Hành vi của những cái xấu có khi dễ nhận biết nhưng nhiều khi chúng được che dấu rất tinh vi. Có khi đó là bạo hành giữa con người với con người, những cảnh áp bức, những người buôn bán ma tuý, những người gây tai nạn cho người khác, những người rải đinh để kiếm vài miếng vá săm xe nhưng kỳ thực đó là hành vi giết người, có khi đó là những kẻ cưỡng hiếp, người rút ruột công trình xây dựng, người đem chất độc hại tẩm lên thực phẩm đem bán, người dùng quyền làm cho học sinh đi theo hướng phản giáo dục, thương mại hoá, v.v. Đó là suy đồi của đạo đức.

Nhưng, cái đỉnh của sự suy đồi về đạo đức là tham nhũng. Có người gọi đây là tội ác lớn. Hồ Chí Minh thì gọi tham ô, lãng phí, quan liêu là “giặc nội xâm”, thứ giặc ở trong lòng. Ông ghét những cái ác, cái xấu, thói đạo đức giả. Không những ông ghét, mà ông còn xắn tay áo lên thực hành để tẩy trừ những cái ác đó. Không những cá nhân ông thực hành, mà ông còn tổ chức cho cả một dân tộc tiến công vào những điều xấu, những điều ác.

Hồ Chí Minh là một người trọn đời vì nước, vì dân, trọn đời có đạo đức trong sáng. Điều này là không thể phủ nhận được. Ai đó cứ cố tình đem mực đen bôi vào bức tranh cuộc đời của ông thì cũng chẳng thuyết phục được ai. Nói xấu Hồ Chí Minh là điều không đặng, bởi vì cuộc đời ông như một chân lý của cái đẹp, cái tốt. Nhiều luận điểm cứ bịa đặt, xuyên tạc đạo đức của Hồ Chí Minh thì chẳng khác nào như những con bọ húc đầu vào núi.

Không phải ai đi tu thì đều đắc đạo cả. Người ta hay hư hỏng ở cái đoạn cuối, bởi sự lơi lỏng, hay như trong bóng đá 90 phút chính thức, hay mất tập trung ở những phút cuối hoặc những phút đá bù giờ, nếu đối phương ghi bàn thì không thể nào còn thì giờ để gỡ. Có người thì đoạn đầu đời đẹp, đoạn trung cũng thế, nhưng về già thì hỏng, hay sinh tật. Đến nỗi khi làm một cuộc tổng kết, tổng luận thì người ta đã phải dùng đến những phép cộng, phép trừ, lấy cái tốt của đoạn đầu, đoạn giữa đời trừ đi cái xấu ở đoạn cuối đời. Không thể dùng cái phép số học ấy được.

Còn đối với Hồ Chí Minh?

Cuộc đời của Hồ Chí Minh là trọn vẹn của cái chân, cái thiện, cái mỹ, không bị tha hoá, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, từ lúc hàn vi với thân phận của một người dân nô lệ, luôn luôn bị mật thám đế quốc theo dõi, bị tù, bị xử án tử hình vắng mặt đến lúc đứng ở đỉnh tháp của quyền lực mà không bị quyền lực làm cho mờ mắt. Hồ Chí Minh thủy chung với chính mình, mọi sự cám dỗ thường thấy của một con người đều tác động đến bản thân ông như quyền lực, tiền bạc, tình…nhưng ông không hề bị suy xuyển. Hồ Chí Minh thiền, tu dưỡng giữa muôn vàn cái động, cái biến thiên giữa sự đời và ông đã thành công, đã thiền được.

Tỉnh dậy giữa hai cơn đau tim trên giường bệnh những ngày cuối tháng 8 năm 1969, Hồ Chí Minh hỏi về mực nước sông Hồng đến đâu rồi? Chả là về mùa mưa, nước sông Hồng dâng cao có nguy cơ vỡ đê. Trước đây thường là thế. Hiện nay, do có các nhà máy thuỷ điện, nên việc “trị thủy” đã khá hơn, Hà Nội và các tỉnh hạ lưu không đến nỗi lo lắm về lụt, vỡ đê như trước (Ngược lại, vấn đề môi trường tự nhiên của sông Hồng đang có vấn đề do có sự tác động tiêu cực của con người, đang có sự ô nhiễm nghiêm trọng; có năm về mùa khô, người ta có thể lội bộ sang sông được). Cuối tháng 8 năm 1969, mực nước sông Hồng lên cao, đã có kế hoạch chuyển Hồ Chí Minh đến huyện Ba Vì của tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội), nơi có địa hình cao hơn để đề phòng lúc Hà Nội có thể lâm vào cảnh vỡ đê, lụt lội. Hồ Chí Minh kiên quyết không chịu dời đi nơi khác mà vẫn ở Nhà 67. Hồ Chí Minh nói với những người xung quanh rằng, ông ở lại với nhân dân thủ đô Hà Nội, ông không đi đâu cả, không thể bỏ nhân dân lúc có nguy cơ bị cảnh vỡ đê, chịu lụt.

Tôi đã chứng kiến cảnh vỡ đê lụt lội ở Hà Nội năm 1971 thì thấy thật khủng khiếp cái sức tàn phá của thủy tặc. Năm đó, Hà Nội thiệt hại khá lớn, phải hàn khẩu mấy đoạn đê Cống Thôn (Gia Lâm, Hà Nội) và các nơi khác. Tôi cùng với thầy cô, các bạn sinh viên đi lao động “hàn” đê, đi kéo gạo thối trong kho lương thực ngập nước ở Yên Viên (Gia Lâm, Hà Nội), đi đắp đê ở Quế Võ (Bắc Ninh), đi giúp bà con nông dân xã Liên Hà (Đông Anh, Hà Nội) trồng khoai tây, đắp đường liên xã.

Những ngày cuối đời của năm 1969 mưa ngập đất đầy tiếng kêu của ễnh ương mùa lụt của đất trời Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ, Hồ Chí Minh đã nói như thế, hành động như thế có thể là do ông thực hành cái đạo gắn bó tính mệnh của mình với tính mệnh của nhân dân. Ông đã từng nói: “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc như lạc”; hoặc “tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc” (nghĩa là khổ trước thiên hạ và sướng sau thiên hạ). Và, đã nói như thế thì ông thực hành đúng như thế. Cũng có thể ông không chịu sơ tán chạy lụt lúc ốm đau là để làm “áp lực” cho mọi người phải chú ý phòng chống vỡ đê, lụt lội.

Tỉnh dậy giữa hai cơn đau tim khác, có lúc Hồ Chí Minh muốn nghe một làn điệu dân ca xứ Nghệ quê ông, muốn nghe một khúc dân ca xứ Huế, nơi ông từng gắn bó tuổi học trò xuống đường đi tranh đấu cùng bà con chống thuế, nơi kinh đô thơ mộng ấy ông có kỷ niệm buồn, một cú sốc lớn khi mẹ ông qua đời lúc ông mới lên 10 tuổi. Có lúc ông hỏi những người có mặt bên ông về việc chuẩn bị khai giảng năm học mới cho các cháu học sinh đến đâu rồi?

Cũng như thế, ngày 30-8-1969, có lần tỉnh lại, ông hỏi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước có mặt trong phòng về việc chuẩn bị kỷ niệm Ngày lễ Quốc khánh 2-9. Ông đề đạt nguyện vọng bắn pháo hoa “cho nhân dân vui, để động viên tinh thần nhân dân” trong ngày lễ Quốc khánh 2-9-1969, và nếu được thì bố trí cho ông ra với đồng bào dăm mươi phút.

Ngày đó, ngày 2-9-1969, lúc 9 giờ 47 phút, trái tim ông ngừng đập và ông thanh thản đi vào cõi vĩnh hằng với trái tim phiêu diêu miền cực lạc. Hà Nội không thể nào bắn pháo hoa “cho dân vui” được theo như mong muốn của Hồ Chí Minh bởi đó chính là ngày tang. Gần 40 năm sau, ở thành phố mang tên ông (thành phố Hồ Chí Minh), người ta còn tranh luận với nhau là có nên bắn pháo hoa dịp Tết Đinh Hợi (2007) không; nhiều người viện lý do tiết kiệm để nêu ý kiến không nên bắn pháo hoa. Chắc chắn hồi năm 1969, Việt Nam còn nghèo hơn năm 2007 rất nhiều, và chính Hồ Chí Minh là người rất thấu hiểu hai chữ “tiết kiệm”, nhưng “để cho dân vui” thì cái nghĩa tiết kiệm ấy nó biến đổi đa màu, đa sắc, nó có khía cạnh triết lý phát triển hơn là cái hiểu tiết kiệm một cách cực đoan trên kia.

Hồ Chí Minh hành đạo, cái đạo “làm người” cho đến trọn vẹn cuộc đời. Mà không chỉ thế, trong Tài liệu tuyệt đối bí mật (Di chúc), Hồ Chí Minh còn cố “can thiệp” để cho hậu thế xử lý những điều, những việc thuộc về “việc riêng” của ông. Hồ Chí Minh đã nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” khi trả lời nữ phóng viên báo Granma (Cuba) Mácta Rôhát ngày 14-7-1969. Hồ Chí Minh đã nói: “Những lúc tôi phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”. Hồ Chí Minh nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi cần”. Hồ Chí Minh nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Hồ Chí Minh viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết, phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Còn nhiều, còn nhiều lời nói, câu viết của Hồ Chí Minh về vấn đề đó. Ông nói, ông viết, và ông “xắn tay áo” lên thực hành, kêu gọi, tổ chức những người xung quanh thực hành.

Sự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là tùy thuộc vào cái tâm, vào tinh thần tự giác của con người. Mà cái tinh thần tự giác đòi hỏi cái đạo làm người phải được thực hành liên tục. Nó là năng lượng của cuộc sống, thậm chí năng lượng đó có thể chuyển hoá sang người khác để bảo tồn và phát huy. Không như có người khi gia nhập tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, trong buổi lễ kết nạp, thề “Suốt đời phấn đấu, hy sinh cho lý tưởng của Đảng”, nhưng đó chỉ là những lời trơn tuột, chỉ được ngày một, ngày hai.

Hai là, nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức.

Hồ Chí Minh có một ứng xử văn hoá tuyệt diệu khi cả cuộc đời của ông là một g­ương tốt, một cách tự nhiên, mà mọi ng­ười có thể tự soi vào đấy. Đã có ng­ười cho rằng, học tập đạo đức Hồ Chí Minh khó quá. Khó hay dễ là tại bản thân mình – đó là cách nói của Hồ Chí Minh. Học không phải là bắt ch­ước. Tư­ t­ưởng Hồ Chí Minh không những là nền tảng tư tưởng  mà còn là kim chỉ nam cho hành động nữa. Học đạo đức Hồ Chí Minh là tìm hiểu bản chất của vấn đề để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cuộc sống. Chẳng hạn: học Hồ Chí Minh không có nghĩa là tất cả mọi ng­­ười phải đi dép lốp mà học đức tính giản dị của ông.

Ng­­ười dân có cảm tình với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa trước hết là qua g­ương sáng của cán bộ, đảng viên, những gư­ơng đó có sức mạnh cảm hoá, đư­a đến cho ngư­­ời ta niềm tin. Trong lúc kêu gọi những ngư­­ời có ăn cứ 10 ngày nhịn một bữa, mỗi bữa một bơ để cứu giúp những ngư­­ời đang bị đói ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thì Hồ Chí Minh đã làm g­ương. Kêu gọi mọi ng­ười ra sức chống hạn để cứu lúa, kể cả huy động mọi ng­ười ở nông thôn bất kể ngày đêm tát n­ước, thì Hồ Chí Minh đi tát nước, đi cấy lúa với máy cấy thí nghiệm, v.v.

Đã có một học giả ph­­ương Tây nhận xét rằng, bơ gạo của Hồ Chí Minh đã cứu đói cho cả một dân tộc. Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi một ngư­­ời dân khoẻ mạnh thì cả dân tộc khoẻ mạnh và một trong những biện pháp để đạt đư­­ợc yêu cầu đó là mọi ng­ười phải thường xuyên tập thể dục, do đó ông kêu gọi mọi ng­ười hằng ngày hăng hái tập thể dục. Ông nói: “Tự tôi ngày nào cũng tập”. Hồ Chí Minh tập thái cực quyền và vẫn thường đi quyền thật uyển chuyển. Ông hay làm vườn sau mỗi ngày lao động trí óc, cả những lúc ở chiến khu, cả những khi về thủ đô Hà Nội.

Ông rèn luyện thân thể hằng ngày. Lúc ra tù của Tưởng Giới Thạch, ông tập leo núi; lúc mắt ông mờ, ông tập nhìn đêm vào một nén hương đang cháy, v.v. Ông còn rèn luyện hoà đồng vào khí hậu, thiên nhiên. Có lần ông tắm ở sông nước lạnh về mùa đông Trung Quốc mà nhiều người trông thấy rất khâm phục. Hồi kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp xâm lược, một số anh chị em Nam Bộ ra Việt Bắc tham gia công tác tại cơ quan đầu não kháng chiến. Mùa đông khắc nghiệt ở Việt Bắc, có những đợt rét thấu xương, anh chị em Nam Bộ chưa quen. Dù giá rét như thế nào đi chăng nữa, nhưng cứ 5 giờ sáng hằng ngày, là Hồ Chí Minh hô anh chị em trong cơ quan tập thể dục. Một số anh chị em Nam Bộ ngại xuống nhà sàn tập thể dục, nhưng nằm thì không ngủ được, thấy ở dưới nhà sàn có những tiếng hô “một, hai…một, hai” thì ở trên nhà sàn, anh chị em nằm trong chăn cũng hô đùa “một, hai…một, hai”. Hồ Chí Minh biết có chuyện đó, và ông đã phê bình, nhắc nhở anh chị em.

Nói chuyện với cán bộ ở một tr­­ường huấn luyện (11-1945), Hồ Chí Minh nói: “Phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như­­ trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo ng­ười ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được?…Miệng nói tay phải làm mới được”[49].

Đúng là phong cách Hồ Chí Minh. Chỉ riêng Hồ Chí Minh mới có. Độc nhất vô nhị. Về sau, không ai có được một phong cách đó. Tôi cũng đã dự một vài cuộc thảo luận về vấn đề này. Có người cho rằng, ngày nay không cần và không nên cứ làm chủ tịch nước, làm người đứng đầu tỉnh, ngành, và nói chung là cán bộ chủ chốt, thì cứ phải lội ruộng cấy lúa, cứ phải xắn quần tát nước gàu dai, đạp nước gàu guồng chống hạn. Hãy mời ông (bà) cứ ở trong bóng mát, cứ ở trong phòng làm việc có máy điều hoà nhiệt độ, hãy cứ đi ô tô bóng lộn, dẫu rằng giá của chiếc ô tô đó bằng mấy trăm, mấy nghìn con trâu của bà con nông dân. Miễn là làm sao ông (bà) ấy làm việc tốt theo chức trách của mình cho dân nhờ.

Tôi cho đó là ý kiến không sát hợp. Chính cán bộ là con người của dân, của công việc của dân. Và, về mặt nào đó mà xét, họ cũng là dân. Hãy cứ làm như Hồ Chí Minh đã làm rồi xem như thế nào, không có gì ngại đâu, không bị cảm, không bị ốm khi tát nước, khi lội ruộng đâu. Đừng sợ. Và xin đừng mặc cảm. Đã không làm gương đã chớ mà không ít cán bộ lại còn quan liêu quá chừng. Mà giữa cái quan liêu và cái giấu giếm, bao che là đồng hành với nhau. Cái miệng của ông quan liêu, bao che có gang, có thép không thì tôi không rõ, nhưng lý lẽ của họ không có sức thuyết phục, họ nói chính sự, nói việc nước, nói việc làng xã, nói việc xã hội cứ như nói chuyện tầm phào. Chuyện không ít cảnh sát giao thông mại lộ các chuyến xe trên khắp các tuyến đường trên cả nước diễn ra như cơm bữa, thế mà có cán bộ biện minh khi được chất vấn rằng, chưa có chứng cứ, rằng xin mọi người khi trông thấy, đem chứng cứ, bằng chứng cho chúng tôi để chúng tôi kiên quyết xử lý! Đừng nói thế. Hãy rời chiếc ô tô công sang trọng mà làm một hành khách bình thường trên một vài tuyến đường, rồi sẽ biết chứng cớ!

Trông vào việc làm của Hồ Chí Minh, tôi lại thấy phản chiếu lai láng như hồn anh minh của một số vị vua sáng láng các triều đại phong kiến, từ thế kỷ X…năm nào cũng vậy, cứ đầu mùa thì đi cày ruộng tịch điền, khi đến vụ thu hoạch thì đi thăm người dân gặt lúa để khuyến nông.

Mà đâu chỉ có các vua Lý. Về sau, còn nhiều ông vua của các triều đại sau nữa. Tục cày ruộng tịch điền có ở nhiều nước phong kiến phương Đông, không riêng gì Việt Nam. Đúng thôi, vì đó là những dân tộc mà nông nghiệp là bang bản. Có lẽ ở Việt Nam, lệ này bắt dầu từ thời vua Lê Hoàn (Tiền Lê). Sau này, đến triều Lý, triều Trần…đều như thế cả. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ở bản kỷ, quyển 2, tờ 25, ghi một câu chuyện về vua Lý Thái Tông, ông vua thứ hai của Triều Lý, ở ngôi 26 năm (1028 – 1054): “Mùa xuân, tháng 2 năm Mậu Dần (tức năm 1038 – MQT), vua ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền. Vua sai hữu ty dọn cỏ đăng đàn rồi thân tế Thần Nông. Tế xong, tự cầm cày để muốn làm lễ tự cày. Trong các quan tả hữu, có người can rằng: Đó là việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế! Vua nói: Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lấy gì cho thiên hạ noi theo”.

Dân và vua là hai thân phận khác nhau rất lớn. Theo Nho giáo thì vua là Thiên tử – con trời, nhưng cả hai đều có chung một nhu cầu cái ăn (Dân dĩ thực vi thiên – Dân (và cả vua quan nữa) lấy ăn làm trời), nhu cầu về đất nước giàu mạnh, quốc thái dân an. Các ông vua anh minh đều hiểu điều đó, và muốn thực hành cái gương tốt cho nước giàu, dân no đủ.

Cái lệ cày ruộng tịch điền, nói như từ ngữ hiện đại thì là để “khuyến nông”, nhưng thực ra các ông vua anh minh đó tạo ra cái gương sáng khuếch lên cả một luồng sinh khí cho cư dân nông nghiệp. Cái cường khí xung năng ấy có khi lại xuất phát chỉ từ vài ba đường cày tịch điền của ông vua. Sức mạnh đó chính là cái sức mạnh vô biên, nói như bây giờ là từ cái biện chứng của sự thăng tiến hành động phát triển theo cấp số nhân.

Hồ Chí Minh có lẽ cũng tựa như vua Trần Nhân Tông thời nhà Trần, có năm, khi nước sông Cái (sông Hồng) lên to có nguy cơ vỡ đê, lụt lội, thì đã thân hành đi hộ đê, ông gạt bỏ lời can của một quan ngự sử “Bệ hạ nên chăm lo sửa sang đức chính, đắp đê là việc nhỏ, đi xem làm gì”, mà cho rằng, bản thân mình làm vua mà thân chinh đi hộ đê lúc dân gặp nạn lụt lội cũng là lo việc sửa sang đức chính vậy.

Hồ Chí Minh là người kỵ giáo điều, là một con người luôn luôn canh tân. Đã có nhiều lần ông đề cập vấn đề giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin. Nói chuyện với cán bộ của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng năm 1968, ông nói: “Các chú dạy cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”[50].

Hồ Chí Minh cho rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin thiết thực nhất”[51]. Cũng như vậy, ông nói: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”[52].

Làm g­­ương sáng cho ng­ười khác soi, đó là một phương cách xử thế ở đời của Hồ Chí Minh. Nhiều cái phản văn hoá hay là đạo đức giả thường là có bốn biểu hiện:

Một: nói thì nhiều nhưng làm thì ít.

Hai: nói thì hay nh­ưng làm thì dở.

Ba: nói để đấy rồi không làm gì cả.

Bốn: nói một đằng làm một nẻo.

Hồ Chí Minh cho rằng: ở ph­­ương Đông và ở Việt Nam, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Cán bộ, đảng viên, những ngư­ời có chức có quyền, nhất là những cán bộ chủ chốt, nếu nêu một tấm g­ương sáng thì sẽ tạo ra một đời sống văn hoá lành mạnh cho xã hội, còn ngược lại thì hậu quả sẽ khôn lư­­ờng.

Giữa nói và làm có khi còn có khoảng cách. Tôi nhớ mang máng ở đâu đó, ở Pháp thì phải, có câu châm ngôn: “Hãy làm theo điều tôi làm, đừng làm theo điều tôi nói” là có ý nhắc con người ta đừng tin lắm vào điều người ta nói, không đa nghi, hoài nghi, nhưng cứ nhìn vào việc làm là chắc chắn nhất. Hồ Chí Minh không dùng lối “thị phạm”, tức là làm mẫu để dạy người khác. Hồ Chí Minh không “lên lớp”, không “dạy” ai cả, mặc dù những câu, những bài ông viết, những lời ông nói, những việc ông làm đều toát lên toàn bộ tính sư phạm của ông. Tự lời ăn, tiếng nói, tự cái hành xử hằng ngày của ông chính là thân giáo, là có ngôn, mà những ai có lòng cầu thị có thể soi vào đấy.

Hồ Chí Minh soạn bài giảng cho các lớp huấn luyện những người yêu nước Việt Nam những năm 1925-1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc), sau này tập hợp in thành sách Đường cách mệnh, đầu tiên ông quan tâm là giáo dục cho học viên về Tư cách của một người cách mệnh gồm có 23 điều. Vào một tổ chức nào đó, trước hết phải có đủ tư cách. Ngay vào một câu lạc bộ nào đó cũng phải tuân thủ đúng quy định, điều lệ của câu lạc bộ. Nếu không, người đó không đủ tiêu chuẩn để tham gia. Huống hồ vào một tổ chức yêu nước, cách mạng, càng cần có tư cách. Và, điều 10 trong 23 điều tư cách đó được ghi trong cuốn Đường cách mệnh là: “Nói thì phải làm”.

Trong sinh hoạt của tổ chức mình, Hồ Chí Minh có những lúc bị thiểu số. Tất nhiên ông có quyền bảo lưu ý kiến thiểu số của mình. Nhưng, Hồ Chí Minh cố gắng làm gương chấp hành quyết định của tập thể. Năm 1965, theo sự tư vấn của các bác sĩ về tình trạng sức khoẻ ngày càng kém đi của Hồ Chí Minh (mà cũng chính năm đó Hồ Chí Minh bắt đầu viết Tài liệu tuyệt đối bí mật – Di chúc), Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định Hồ Chí Minh phải bỏ thuốc lá.

Hồ Chí Minh cũng như bao con người khác, nghĩa là cũng có những sở thích riêng. Xã hội có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu sở thích. Mỗi người đều có những sở thích riêng hợp lại, thống nhất lại trong một xã hội. Đó là sự thống nhất của cái đa dạng. Mà như thế mới có một xã hội năng động và phát triển. Ngay trong một gia đình vẻn vẹn có mấy thành viên thôi cũng đã là sự thống nhất của các sở thích khác nhau.

Không biết từ bao giờ, Hồ Chí Minh nghiện thuốc lá. Ông hút nhiều. Xem phim tư liệu về Hồ Chí Minh thì thấy hầu như lúc nào trên tay ông cũng có một điếu thuốc lá đang cháy dở. Đi thăm một đơn vị bộ đội tên lửa ở Hà Nội trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của Mỹ, ông rút hộp thiếc đựng thuốc lá ra biếu mỗi một chiến sĩ một điếu. Trong kháng chiến chống Pháp, có lúc ông gửi cho bộ đội ở Cao Bằng quà thuốc lào (khi nhận được quà thuốc lào, bộ đội kháo nhau rằng, không biết ai mà tinh tế, chu đáo và hiểu sâu hoàn cảnh bộ đội mình đến thế). Hồ Chí Minh thừa nhận nghiện thuốc lá là cái dở của ông, cho nên khuyên mọi người không nên học ông nghiện thuốc lá.

Ai đã nghiện thuốc lá, thuốc lào rồi thì cảm nhận được ngay tâm trạng của người hút thuốc lá, thuốc lào. Khi đã quyết tâm cai bỏ thuốc lào, tự mình chôn cái điếu thuốc lào xuống đất, nhưng rồi có khi chẳng cưỡng lại được, hôm sau phải đào điếu lên mà hút lại:

Thương ai như điếu thuốc lào

Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Đến năm 1965, buộc phải bỏ thuốc lá. Hồ Chí Minh không “cãi” lại, mà vui vẻ chấp hành. Ông làm gương. Ông có cách cai dần dần. Đến tháng 3 năm 1968, Hồ Chí Minh viết một bài thơ bằng chữ Hán:

Vô đề

Tam niên bất ngật tửu xuy yên

Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên

Hỷ kiến nam phương liên đại thắng

Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên

Nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch:

Không đề

Thuốc kiêng rượu cữ đã ba năm

Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần

Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn

Một năm là cả bốn mùa xuân.

Hồ Chí Minh có quan niệm Tiên rất hay. Cũng giống như ông quan niệm cái Ngoan của con trẻ. Ông cho rằng:

Trẻ con như búp trên cành

Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan.

Nghĩa là chỉ cần biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan rồi. Hãy phấn đấu cho cái đó, không có gì là rườm rà, cao xa cả.

Còn Tiên? Năm 1950, ông làm một bài thơ nhân dịp sinh nhật lần thứ 60 của mình. Thường thì Hồ Chí Minh cứ đến sinh nhật là đi đâu đó, có ý trốn tránh cái việc người ta đến chúc tụng mình, ông cho đó là mất thì giờ. Tính ông thế. Âu đó cũng là sở thích của ông, thích không có ai đến chúc tụng sinh nhật của mình. Ông muốn có một khoảng trời tự do trong ngày kỷ niệm sinh nhật. Bài thơ viết rằng, ông coi mình năm nay 60 tuổi, nhưng:

Sáu mươi tuổi hãy còn xuân chán,

So với ông Bành vẫn thiếu niên.

Ăn khoẻ, ngủ ngon, làm việc khoẻ,

Trần mà như thế kém gì tiên!

Trong bài thơ Vô đề bằng chữ Hán trên đây, khi bỏ thuốc lá, kiêng rượu (ông không phải là người hay uống rượu, ông chỉ thi thoảng uống một chút rượu thuốc, nhưng đến lúc này ông bỏ hẳn), ông cảm thấy người khoẻ, như thế là Tiên. Đơn giản vậy thôi. Tin chiến thắng của chiến trường miền Nam mà ông sâu tình nặng nghĩa, đau đáu suốt ngày đêm mong cho nước nhà thống nhất, dội về, ông cảm thấy rất vui. Một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, nhưng vì là vui, là tiên, cho nên ông cảm thấy “Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên”.

Thời đại hiện nay, nói như các nhà công nghệ thông tin, thì là Thời của 3.0. Do vậy, có người bảo thôi thì hãy miễn cái kiểu “đi cày ruộng tịch điền”, miễn cái kiểu lội ruộng, tát nước, cấy lúa, cuốc đất làm vườn như Hồ Chí Minh đi. Xưa cũ lắm rồi. Xin mời cán bộ lãnh đạo hãy cứ đến gõ chiêng thị trường chứng khoán chứ dừng lội ruộng. Thì cũng được thôi. Nhưng gõ chiêng chứng khoán thì ý nghĩa thua xa những gương cụ thể khác của Hồ Chí Minh.

Mà lạ thay, có những điều Hồ Chí Minh làm được, làm một cách dễ dàng và tự nhiên, không gượng gạo thì đối với nhiều người khác làm không được, hoặc không muốn làm, hoặc làm một cách gượng ép, kiểu cứ cố làm thật nhưng càng cố làm thì càng thấy giả tạo theo kiểu diễn kịch. Ở đây cần cả dũng khí và cần cả tư duy cũng như cần cả cái nếp tu dưỡng đã thành kết quả tất yếu như Hồ Chí Minh đã có. Cái thật, cái giả trong hành động làm gương không thể che mắt thiên hạ được, nhất là hiện nay các phương tiện nghe nhìn bắt ở các góc độ khác nhau, ở không gian nhiều chiều trong dân chúng chứ không chỉ là không gian ba chiều trong kỹ thuật quang học.

Ba là, xây dựng môi tr­­ường văn hoá đạo đức trong sạch.

Môi trường đạo đức hiện đang bị ô nhiễm ở lĩnh vực này, lĩnh vực nọ. Ô nhiễm đến mức độ nào? Môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, người ta có thể dùng máy để đo, cũng có thể cơ thể con người chúng ta cảm nhận được. Nhưng, môi trường đạo đức nếu bị ô nhiễm thì đo thế nào? Có thể thấy:

Một, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng…Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng chưa đạt yêu cầu”. Mà đây chính là nhận định của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (4-2006). Cơ chế mới đã khơi dậy sự năng động của xã hội trong các lĩnh vực như­­ng cũng phần nào chư­­a kiểm soát được một cách chắc chắn những cái ác, cái xấu. Những tệ nạn xã hội vẫn đang phát triển. Đồng tiền có sức mạnh ma quái đang làm hỏng nhiều cán bộ, đảng viên và làm hỏng các chuẩn mực quan hệ ứng xử của con ngư­­ời.

Cũng tại Đại hội X, phần Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng Đảng, còn viết: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng”.

Đáng chú ý là lần đầu tiên trong một văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam, có ghi: “Vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hoá về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng”[53].

Đến đây, một vấn đề đặt ra đối với tôi và đối với bạn đọc: Ai “chạy” và “chạy” đến ai? Điều này quả là nhức nhối. Đã có “chạy chức”, “chạy quyền” thì đích thị có mua quan, bán chức rồi. Có người mua và có người bán. Đạo đức bị băng hoại đến như vậy ư? Môi trường đạo đức bị nhiễm bẩn đến như thế ư?

Trong Đảng mà đã vậy thì ngoài xã hội thì như thế nào, mức độ ra sao thì đã rõ vì Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, đảng duy nhất trong xã hội Việt Nam hiện nay. Đây là những nhận định của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2006. Chắc là quá trình này chưa khắc phục được nhiều, nhất là các kiểu “chạy” mà tôi đã nghe từ lâu, lần này ghi vào nghị quyết, nhưng khắc phục ra sao thì vẫn đang ở phía trước. Đó là sự nhức nhối về môi trường đạo đức bị suy đồi.

Hai, tệ nghiện hút ma tuý diễn ra nghiêm trọng và có chiều hướng phát triển mạnh trong xã hội Việt Nam. Nghiện hút ma túy đi liền và tạo ra hệ lụy với bao tệ nạn khác. Chưa có con số thống kê thật cụ thể, nhưng chắc rằng Việt Nam là một trong những nơi có tỷ lệ nghiện hút vào loại cao trên thế giới, nhất là vùng cao phía bắc. Tệ nghiện hút ma túy len lỏi vào từng địa bàn dân cư, cả miền núi, cả các đô thị, và thậm chí ngày càng len lỏi vào từng thôn quê. Các đường biên, cửa khẩu trong thời buổi mở cửa thật tấp nập nhưng cũng chứa đựng cả những tội ác của cái chết trắng đưa vào. Xã hội sẽ bị băng hoại về tất cả các lĩnh vực của đời sống tinh thần, nhất là đạo đức, lối sống, trong số đó đáng lo ngại là tầng lớp thanh niên, lực lượng chủ công xây dựng một đất nước phát triển. Đây là một chỉ số đo mà đáng báo động về môi trường đạo đức của xã hội Việt Nam hiện đại.

Ba, vấn đề trật tự, an toàn xã hội cũng ở vào tình trạng “có vấn đề”. Làm sao thật yên tâm khi đi ra đường, nhất là chỗ vắng, nhất là đối với phụ nữ. Phụ nữ là phái đẹp, còn được trang điểm bằng các trang sức (giây chuyền, nhẫn, lắc vàng…) nhưng coi chừng khi đi trên đường. Trên các nẻo đường, trên các tuyến phố, cẩn thận đề phòng cướp giật. Trước đây, tôi nhớ trong những năm đất nước đang có chiến tranh, Hà Nội bom đạn của máy bay Mỹ, tuy nghèo nhưng sạch, cái sạch, cái thư thái của tình người. Đi trên ô tô buýt, đi trên tàu điện leng keng, quả thực nếu gặp trường hợp kẻ móc túi, thì tất cả mọi người trên chuyến tàu điện đó, trên chuyến ô tô buýt đó tự xử tên móc túi, không cần đợi cảnh sát đến.

Còn nay? Có lẽ hiếm lắm. Có khi trông thấy rõ ràng kẻ cắp đang rạch túi của một chị ở ngoài chợ, không dám hô hoán, mách bảo, vì sợ bị trả thù. Cái ác đã thắng thế, vì môi trường đạo đức đang có vấn đề. Có an toàn không cho những đôi trai gái ngồi trong công viên giữa thủ đô Hà Nội tâm sự vào những đêm trăng thanh gió mát, bên hồ Gươm nước xanh như pha mực, có Tháp Rùa soi bóng ngàn năm, có Tháp Bút viết thơ lên trời xanh? Tôi chắc là khó đấy.

Đó là ba điều “thấy” của tôi khi viết về vấn đề này. Có thể còn nhiều biểu hiện khác nữa. Tôi không nhìn môi trường đạo đức ở Việt Nam qua lăng kính màu đen. Đương nhiên, những mảng sáng vẫn có nhiều. Nhưng, thực sự chưa yên tâm.

Xây dựng đạo đức trong môi tr­ường như­­ thế khó khăn hơn rất nhiều. Trong môi trường đó, có khi làm việc thiện thật khó, khó như con lạc đà chui qua lỗ kim. Trách nhiệm làm cho môi tr­ường đạo đức trong sạch không phải của riêng ai mà là của tất cả mọi ngư­­ời, của cả hệ thống chính trị, nhưng trước hết và cơ bản nhất là của từng gia đình. Trong xây dựng môi trường đạo đức, theo Hồ Chí Minh, rõ nhất là chú trọng những vấn đề sau đây:

– Sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

– Tôn trọng và phát huy những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục.

– Tạo ra một cách thư­­ờng xuyên tinh thần đề cao cái đẹp, cái tốt; lên án cái xấu, cái ác và khuyến khích mọi ngư­­ời làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện. Cái thiện và cái ác đều ở trong mỗi một con người và ở ngay xung quanh chúng ta.

– Kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa gia đình, nhà trư­ờng, xã hội trong việc xây dựng môi trư­­ờng đạo đức mới.

– Giải quyết đồng bộ tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, làm cho đất n­ước Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

Hồ Chí Minh thường chú ý đến việc khơi dậy cái thánh thiện của con người. Ông hoá giải để chuyển hoá từ cái xấu thành cái tốt của người khác một cách có hiệu quả. Có người suýt sa chân lạc lối vào con đường tội lỗi, được ông giác ngộ kíp trở về con đường đúng đắn và đi với con đường đó suốt cả cuộc đời.

Hồ Chí Minh luôn luôn tìm chữ “đồng” trong sự khác biệt (Sự khác biệt thì ai, cộng đồng nào và lúc nào chả có). Ông rất thích nhân lên cái tốt, cái đẹp mà những cái tốt, cái đẹp đó ở ngay trong mỗi người, trong mỗi cộng đồng dân cư, ở ngay bên cạnh, ở chung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Cho nên, ông đã có ý kiến biên soạn và xuất bản sách “Người tốt việc tốt”.

Ông còn có ý kiến đối với loại sách này giá bán rẻ thôi để nhiều người mua, khổ sách vừa thôi để người ta dễ bỏ túi. Đầu tháng 6 năm 1968, trước khi qua đời hơn 1 năm, Hồ Chí Minh làm việc với một số cán bộ của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam về việc biên soạn và xuất bản loại sách này. Ông quan niệm: từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc. Người tốt việc tốt nhiều lắm, ở đâu cũng có. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là một phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn.

Không hiểu sao bây giờ người ta sao lãng cái loại sách này. Thấy có nhiều đợt gắn huân chương, huy chương, tuyên dương anh hùng quá. Trong mỗi lễ trao như vậy thì tiệc tùng đánh chén, là phong bì, phong bao, v.v. Thấy trong các báo viết về vụ án nhiều quá. Thấy sách in lậu, xuất bản lậu về mê tín dị đoan nhiều quá. Thống nhất nhiều trong một, thống nhất được cái đa dạng, chung đúc được cái một, đó cũng là một triết lý toát ra từ hành động của Hồ Chí Minh.

Dù áp dụng biện pháp nào đi chăng nữa thì ý thức tự giác của mỗi cá nhân là quan trọng nhất. Chính ý thức và hành động của mỗi ng­ười là điều kiện để tạo ra môi trư­­ờng đạo đức tốt đẹp. Cuộc sống của mỗi người chính là một yếu tố cấu tạo nên cuộc sống của xã hội. Mà đứng về khía cạnh văn hoá mà nói thì mỗi cá nhân lại là kết quả của một quá trình giáo dục hàng ngày của tất cả các tổ chức trong xã hội.

Chúng ta không chờ có một môi trư­­ờng tốt rồi mới xây dựng đạo đức mà đó là cả một quá trình vừa xây, vừa chống, không thụ động. Và chỉ số phát triển của mỗi một dân tộc, phải chăng cần nhìn vào môi trư­­ờng đạo đức nữa, nơi mà ở đó mỗi một con người, mỗi một cộng đồng, mỗi một dân tộc đều có cơ hội, điều kiện để tự do phát triển vư­­ơn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ chứ không chỉ là nhìn vào chỉ số tăng trưởng kinh tế. Xã hội càng phát triển thì tư duy và những quan niệm về các giá trị tinh thần cũng có khi đổi thay.

Đó là tất yếu của cuộc sống. Nhưng, có những giá trị bền lâu, chúng như những viên ngọc mà chúng ta phải giữ gìn, luôn mài sáng nó lên. Hồ Chí Minh chính là người đưa ra thông điệp đó, thông điệp khuyến khích mọi người vươn tới những điều thiện, mỹ.


[1] PGS,TS Thành Duy: Đạo đức Hồ Chí Minh với triết lý phát triển ở Việt Nam, Tạp chí Tuyên giáo, số 5-2008, tr. 24.

[2]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.1, tr.295

[3].  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T.8, tr. 22

[4]. Hồ Chí Minh : Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1995, T.5, tr. 252 -253.

[5] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1996, T.9, tr, 283.

[6].  Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T.10, tr. 510.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1966, T. 12, tr. 504 – 505.

[8]. Hồ Chí Minh : Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.2, tr. 260.

[9] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1975, tr. 13-14.

[10] Xem Nguyễn Văn ÚT: 9 bản tuyên ngôn độc lập, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2006, tr. 8.

[11] Kinh thánh, trọn bộ Cựu ước và Tân ước, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr. 28 – 29.

[12] Như trên, tr. 29.

[13] Như trên, tr. 29.

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 194.

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 195.

[16] Văn thơ Đông Kinh Nghĩa Thục, Nxb Văn hoá, Cục lưu trữ nhà nước Việt Nam, Viện Viễn Đông bác cổ Pháp, Hà Nội, 1997, tr. 16 – 17.

[17] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, T.12, tr. 512.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, T. 2, 1995, tr. 270.

[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, T. 5, 1995, tr. 60.

[20] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 184 – 185.

* Tôi dẫn ra đây một câu chuyện đăng trên báo Lao Động, số 223/2007 (7722), thứ tư, ngày 26-9-2007. Có lẽ nó chỉ là một trong nhiều câu chuyện về việc những người “công bộc”, “đày tớ”, “trâu ngựa” của dân chưa làm tròn nhiệm vụ của mình, và cũng thấy được cả sự cố chấp của người dân trong tình trạng khẩn cấp của sự việc. Tại trang 4 của báo này, có đưa tin: Đại diện của người dân nhà B6 Giảng Võ (Hà Nội) gửi thư ngỏ tới Lãnh đạo thành phố Hà Nội. Nguyên do là vì UBND Quận Ba Đình (Hà Nội) đã chính thức báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo thành phố về việc di dời khoảng 100 hộ dân tại nhà B6-Giảng Võ (dân đã mua nhà theo Nghị định 61). Theo đó, Quận đề nghị cho áp dụng biện pháp di dời dân khẩn cấp theo dạng nhà nguy hiểm. Trước đó, UBND quận và thành phố đã ba lần có văn bản chỉ đạo di dời, cải tạo nhưng cho đến tháng 9-2007 vẫn giẫm chân tại chỗ. Lý do là người dân phản đối cách làm của các cấp, trong đó có việc chỉ định nhà đầu tư (Công ty TNHH Hanoi-ICT, Công ty này lại không bảo đảm quyền lợi cho dân). Người dân yêu cầu việc giải toả, di dời và cải tạo nhà B6 “phải cho dân được tham gia chọn chủ đầu tư, mọi việc liên quan đến phá dỡ cần công khai, minh bạch, thẳng thắn với dân”. Sau khi biết rằng, UBND quận Ba Đình có văn bản đề nghị thành phố cho di dời khẩn cấp 100 hộ dân mà dân lại không biết chủ đầu tư là ai, đại diện các hộ dân nhà B6 đã ký tên vào bức thư ngỏ gửi khẩn cấp tới Bí thư Thành uỷ, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, đồng thời gửi các cơ quan báo chí. Xin trích nội dung bức thư như sau:

“Chủ trương của Đảng, Nhà nước và thành phố chỉnh trang lại các khu chung cư cũ xuống cấp, nguy hiểm; xây dựng lại các khu chung cư mới đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, là một chủ trương vô cùng đúng đắn, sáng suốt, hợp lòng dân; được nhân dân rất biết ơn, đồng tình ủng hộ… Đã quá nhiều công văn, chỉ thị của các cấp và cũng quá nhiều bài báo viết về nhà B6 mà công việc vẫn giẫm chân tại chỗ. Lý do thì có vô vàn, nhưng cái lý do nhỏ bé nhất, cốt lõi nhất là lộ trình tiến hành bị áp ặt, mất dân chủ, không hợp với lòng dân, không vì quyền lợi của dân, không được đa số dân ủng hộ, thì lại bỏ qua, không ai đánh giá và nhìn nhận tới. Bao nhiêu lý do ngụy tạo thì lại được thổi phồng lên một cách quá mức. Nguyện vọng của đa số nhân dân nhà B6 có lớn lao và sai trái gì đâu. Dân có sổ đỏ 100%; dân xin được thực hiện quyền làm chủ, lựa chọn chủ đầu tư có tín nhiệm, đủ năng lực xây dựng lại ngôi nhà cho mình, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Có thế thôi, có to lớn gì đâu, có ngang trái gì đâu. Thế mà cũng không được chấp nhận. Cái cách chỉ đạo áp đặt, mất dân chủ, vô cùng lắt léo của phường, của quận thì không ai dám nói ra. Quận họp dân, dân trình bày nguyện vọng của mình đều không được lắng nghe, đều bị bỏ qua, xuyên tạc hoặc rơi vào quên lãng.

Sao lại phải đao to búa lớn, rầm rộ và ầm ĩ lên như vây? Có phải đây là sự lấp liếm, che đậy cho những việc làm không trong sáng đó không? Muốn đơn giản, trong sạch mà cũng khó đến thế ư?…..”.

Đại diện nhân dân nhà B6 Giảng Võ (Hà Nội): Nguyễn Huy ứng – phòng 116; Nguyễn Văn Kính – phòng 212; Nguyễn Văn Long – phòng 209; Hoàng Văn Chung – phòng 401; Nguyễn Thiệp – phòng 119 đã ký.

[21] Ngày 3-11-1946, anh trai của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Khiêm đến Hà Nội thăm em trai mình, có hỏi: “Chú có ý định lúc nào về thăm quê?”. Hồ Chí Minh trả lời: “Về đến đây cũng là về đến nhà rồi, tình hình và công việc thế này chưa cho phép nghĩ tới, chắc việc đó còn lâu” (Theo Bá Ngọc, Trần Minh Siêu: Chuyện kể bên mộ bà Hoàng Thị Loan, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2007, tr. 74).

[22] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 114.

[23] http://www.tintuconline.vietnamnet.vn/vn/hoso/195449/ . Ngày 18-4-2008.

[24] Theo Sơn Tùng: Hoa râm bụt, Nxb Thông tấn, Hà Nội, 2007, 140-141.

[25] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 558.

[26]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.5, tr, 633.

[27]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.5, tr. 641.

[28] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 631.

[29] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 557-558.

[30] . Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 161.

[31] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 263.

[32] Những chi tiết được thuật ở đoạn này được lấy từ các báo mạng cũng như các báo viết tiêu biểu. Xin xem thêm một số báo mạng: http://www.vietnamnet.vn/xahoi/2008/04/779789/ ngày 23-4-2008. Xem tiếp các mạng: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=253880&ChannelID=3, ngày 22-4-2008; còng nh­ http://www.tianyon/PrintView.aspx?ArticleID=119864&ChannelID=2, ngày 22-4-2008.

[33] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 291-292.

[34] Đây là mô hình hợp tác kinh tế tiểu vùng do hành lang kinh tế Nam Ninh – Xinhgapo, hợp tác kinh tế vịnh Bắc Bộ mở rộng và hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mê Công cấu thành. Nội dung hợp tác có hợp tác kinh tế trên đường bộ là hành lang kinh tế Nam Ninh – Xingapo (Mainland economic co-operation), có hợp tác kinh tế trên biển, tức là hợp tác kinh tế vịnh Bắc Bộ mở rộng (Marine economic co-operation), có hợp tác lưu vực, tức là hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mê Công (Mekong sub-region co-operation). Trong “một trục hai cánh”, thì hành lang kinh tế Nam Ninh – Xingapo là “một trục” theo hướng bắc – nam xuyên suốt từ vùng Hoa Nam của Trung Quốc đến bán đảo Trung Nam, được coi là trục chính trong hợp tác Trung Quốc – ASEAN. Dọc theo trục này còn có 7 nước: Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Xingapo, ngoài ra còn lan toả tới những quốc gia ASEAN khác mà hành lang kinh tế không đi qua như Myanma, Inđônêxia. Cánh tả trong “hai cánh” của “một trục hai cánh” là vịnh Bắc Bộ của khu vực hợp tác kinh tế vịnh Bắc Bộ mở rộng do ba tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam của Trung Quốc và các tỉnh phía bắc của Việt Nam tạo thành một vịnh nửa khép kín, có diện tích mặt biển khoảng 128 000 kilômét vuông. Cánh hữu trong “hai cánh” của “một trục hai cánh” là hợp tác kinh tế tiểu vùng sông Mê Công. Đây là hợp tác kinh tế tiểu vùng do Ngân hàng phát triển châu Á khởi xướng năm 1992, bao gồm 6 nước thuộc lưu vực sông Lan Thương – Mê Công: Vân Nam (Trung Quốc), Lào, Myanma, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. “Hai hành lang, một vành đai” chính là một bộ phận cấu thành quan trọng của “một trục hai cánh”.

[35] Hiến pháp Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 141.

[36] Có một số người cho rằng, Hồ Chí Minh còn đến cả Bôxtơn bang Masachuxét. Vấn đề này đang tồn nghi, kể cả thời gian cụ thể mà Hồ Chí Minh đã đến Hoa Kỳ. Xem bài của GS Song Thành: Về sự kiện Bác Hồ đến nước Mỹ, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11 (204), 11-2007, tr. 51 – 55.

[37] Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Đại học quốc gia Hà Nội: Việt Nam trong thế kỷ XX, T. 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,  2002, tr. 258-259.

[38] Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ viết nguyên văn như sau: “Chúng tôi cho rằng, những sự thật sau đây là hiển nhiên, rằng, tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hoá cho ta những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền không ai có thể xâm phạm được, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Xem Nguyễn Văn Út (biên soạn): 9 bản tuyên ngôn độc lập, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2006, tr. 17). Như vậy, đối chiếu với bản Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chí Minh viết và đọc tại Vườn hoa Ba Đình (Hà Nội) chiều ngày 2-9-1945 thì Hồ Chí Minh viết đúng gần như nguyên văn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776.

[39] Jenfferson là người đầu tiên khởi thảo bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ. Bản Tuyên ngôn độc lập này là văn kiện mang tính cương lĩnh của người dân thuộc địa Bắc Mỹ. Năm 1775, những người dân thuộc địa Bắc Mỹ đã phát động cuộc chiến tranh đòi độc lập cho Bắc Mỹ. Ngày 4-7-1776, Hội nghị Đại lục khoá II đã thông qua bản tuyên ngôn này, và ngày đó được coi là Ngày Quốc khánh Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Câu nguyên văn trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ trên đây như sau: “Để bảo đảm cho các quyền này (tức là quyền mà chú thích liền bên trên tôi đã trích dẫn – MQT), chính phủ nào cử lên đối nghịch với các mục đích trên thì nhân dân có quyền thay dổi, hay phế bỏ rồi thiết lập một chính phủ mới, dựa trên nền tảng những nguyên tắc như vậy… Khi một loạt các hành vi lạm quyền và cướp đoạt quyền lực cùng theo đuổi một mục tiêu là muốn cưỡng bách mọi người sống dưới một chế độ chuyên chế tuyệt đối, thì lúc đó mọi người có quyền và có bổn phận phải phế bỏ một chính phủ, đưa lên những người bảo vệ mới cho an ninh tương lai của mình” (Xem nguồn chú thích liền trên chú thích này, tr. 17 – 18).

[40] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 4,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 80, 81.

[41] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 220.

[42] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 4,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 469-470.

[43] Theo Lê Văn Hoàng trong Tạp chí Xưa và Nay, số 36, tháng 9 năm 2008.

[44] Như trên.

[45] Hå ChÝ Minh: “§¸p tõ trong buæi chiªu ®·i cña Chñ tÞch ChÝnh phñ Ph¸p G. Bi®«n, ngµy 2-7-1946”,  Toµn tËp, T. 4,  Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ Néi, 1995, tr. 267.

[46] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 478 – 479.

[47] Đến nay, theo thống kê chưa đầy đủ, trên thế giới có khoảng 100 công trình, địa danh mang tên Hồ Chí Minh hoặc tưởng niệm, kỷ niệm Hồ Chí Minh. Tại Pháp, có căn phòng kỷ niệm nơi ở của Nguyễn Ái Quốc tại Ngõ Côngpoanh. Tại Thái Lan, có Khu di tích là nơi ở và hoạt động của Hồ Chí Minh trong những năm 1928-1929 vùng Đông Bắc. Tại Nga, có Quảng trường Hồ Chí Minh ở Mátxcơva, Trường Đại học Sư phạm ngoại ngữ Hồ Chí Minh ở Iếccút, v.v. Tại Ba Lan, có Trường Phổ thông cơ sở Hồ Chí Minh huyện Prútxcu (tỉnh Vácsava), Đoàn Thanh niên hướng đạo Calích (tỉnh Vácsava). Tại Séc, có Đường phố Hồ Chí Minh ở Thủ đô Praha. Tại Bungari, có Đại lộ Hồ Chí Minh tại Thủ đô Xôphia. Tại Hunggari, có Trường Cao đẳng Sư phạm Hồ Chí Minh ở thành phố Êge, Công viên Hồ Chí Minh ở Pét (tỉnh Boocxphơ). Tại Italia, có Khu phố Hồ Chí Minh ở ngoại ô thành phố Milan. Tại Cuba, có Trường phổ thông cấp II Hồ Chí Minh ở Bainoa. Tại Mông Cổ, có Trường Tiểu học số 14 Hồ Chí Minh ở Thủ đô Ulan Bato (Trong dịp đi thăm Mông Cổ hai ngày 30, 31-10-2008, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết có đến thăm và tặng quà cho Trường này). Tại Campuchia, có Đại lộ Hồ Chí Minh ở Thủ đô Phnôm Pênh. Tại Ấn Độ, có Đường phố Hồ Chí Minh ở thành phố Cancútta. Tại Angiêri, có Trường học con em lao động Hồ Chí Minh ở ngoại ô Thủ đô Angiê. Tại Ănggôla, có Viện nghiên cứu khoa học nông nghiệp Hồ Chí Minh ở tỉnh Huamđô, Trường Trung học Hồ Chí Minh ở tỉnh Cabiđa. Tại Ghinê, có Khu phố Hồ Chí Minh, Trường Trung học kỹ thuật dệt Hồ Chí Minh ở Thủ đô Cônakri. Tại Mađagatxca, có Công viên Hồ Chí Minh ở Thủ đô Antanarivơ. Tại Môdămbích, có Phố Hồ Chí Minh ở Thủ đô Maputô. Tại Nicaragoa, có Đại lộ Hồ Chí Minh ở Thủ đô Managoa…(Có thể xem thêm: Phan Ngọc Liên: Hồ Chí Minh với tiến trình lịch sử dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 665 – 671).

Theo tin của Đại sứ quán nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Vênêduyêla, ngày 14-10-2008, Đại sứ quán nước Việt Nam tại đây đã phối hợp với chính quyền và một số đoàn thể bang Aragoa chính thức khai trương Khoa Hồ Chí Minh tại Trung tâm Đa dạng văn hoá của bang. Tại buổi khai trương, các đại biểu tham dự đã đánh giá cao thân thế, sự nghiệp, tấm gương hy sinh cao cả và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời bày tỏ mong muốn rằng, tấm gương đạo đức và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ được tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân Vênêduyêla (Theo báo Nhân Dân, số 19414, ngày thứ sáu, 17-10-2008).

[48] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 4,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 157.

[49] . Hồ Chí Minh : Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr. 101 – 102.

[50] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 554.

[51] Như trên.

[52] Như trên, tr. 558.

[53] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 263-264.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: