Chương 2: NHẬN THỨC LÀ MỘT QUÁ TRÌNH/Sách “Hồ Chí Minh – con người của sự sống”

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

Theo dòng thời gian, tôi điểm lại những mốc lớn ghi dấu sự đánh giá về Hồ Chí Minh. Sự ghi dấu này cũng chỉ là tương đối, sự cắt lát, phân chia mốc thời gian có điều gì đó không ổn là do chính nhận thức còn hạn chế của tôi — tác giả của cuốn sách này.

I. Yếu tố thứ tư

Trong bài viết nhan đề “Ba mươi năm hoạt động của Đảng” cho Tạp chí Những vấn đề hoà bình và chủ nghĩa xã hội, số 2-1960, nhân dịp Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”[1].

Đó là khái quát của Hồ Chí Minh về ba yếu tố cho sự ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Và, xin thông tin luôn cho độc giả trước khi phân tích: tôi cho rằng, có cả yếu tố thứ tư nữa, đó chính là Tư tưởng Hồ Chí Minh (Sự ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam = 1. Chủ nghĩa Mác – Lênin + 2. Phong trào công nhân + 3. Phong trào yêu nước + 4. Tư tưởng Hồ Chí Minh).

Ở đây, có hai điều tôi muốn bình luận.

MỘT PHÁT KIẾN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ QUY LUẬT HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Nói cho cụ thể hơn nữa thì là: Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề quy luật ra đời của một đảng cộng sản. Điều này thật rõ ràng, bởi vì Hồ Chí Minh là đồ đệ trung thành và là người “học trò nhỏ” của các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học. Đồng thời, về điểm này, Hồ Chí Minh dựa trên luận điểm của chính các ông.

Khi bàn về các yếu tố cho sự ra đời của các chính đảng của giai cấp công nhân, xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của nước Nga và châu Âu, V.I. Lênin đề cập hai yếu tố: chủ nghĩa Mác và phong trào công nhân kết hợp chặt chẽ với nhau. Thời kỳ trước khi V.I. Lênin bước vào con đường hoạt động chính trị, thì chúng ta thấy quá trình ra đời của các đảng công nhân diễn ra đúng như thế. C. Mác và Ph. Ăngghen cũng đã tổng kết vấn đề này nói lên quy luật hình thành và phát triển phong trào cộng sản và công nhân, rõ nhất là trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” được hai ông công bố tháng 2 năm 1848.

Chủ nghĩa Mác trước hết sinh ra từ bên ngoài giai cấp công nhân, nó không phải là sự phát nguồn từ bản thân phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân đối với chủ tư bản. Bản thân phong trào công nhân có phát triển mạnh mẽ đến đâu đi chăng nữa nhưng nếu không được chủ nghĩa Mác – Lênin soi sáng thì giai cấp công nhân cũng không thể nào phát triển lên được từ trình độ “tự phát” lên trình độ “tự giác”, cùng lắm phong trào công nhân chỉ đạt tới “chủ nghĩa công liên” mà thôi. Nói như thế có nghĩa là, với tình trạng như vậy thì phong trào công nhân chỉ dừng lại ở dưới lằn ranh của hình thức đấu tranh kinh tế chứ chưa ý thức được sứ mệnh lịch sử chính trị của mình là giai cấp lật đổ chủ nghĩa tư bản và đồng thời là giai cấp lãnh đạo sự nghiệp xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn: xã hội cộng sản chủ nghĩa.

Đến lượt mình, chủ nghĩa Mác – Lênin không thể nào mang bản chất khoa học và cách mạng được nếu không xâm nhập được vào phong trào công nhân. Chính vì thế, phong trào công nhân trở thành “cái cốt vật chất” của chủ nghĩa Mác – Lênin, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin luôn luôn được nạp thêm năng lượng mới từ cuộc sống, có như thế chủ nghĩa Mác – Lênin mới có sức sống nội tại vô cùng mạnh mẽ. Trong quá trình đi vào phong trào công nhân, lý luận Mác – Lênin được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển rất phong phú.

Chính bản thân C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin luôn luôn tổng kết từ thực tiễn khi đưa lý luận của mình vào phong trào công nhân, từ đó rút ra những vấn đề mới để bổ sung vào kho tàng lý luận của mình. Đây là quá trình biện chứng của sự phát triển. Hai quá trình này là tất yếu và cần thiết như nhau, là hai mặt của quá trình vận động lý luận cách mạng của học thuyết Mác – Lênin. Sự ra đời của một đảng của giai cấp công nhân (và sau này là đảng cộng sản) chính là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa hai yếu tố chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân là quy luật do chính tình hình trên quy định.

Từ những điểm bên trên, chúng ta có thể quy vào mệnh đề có tính sơ đồ từ quan điểm Mác – Lênin như sau:

Chủ nghĩa xã hội khoa học + Phong trào công nhân
= Sự ra đời của đảng cộng sản

Trên cơ sở quan điểm trên đây của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã tổng kết dựa chắc vào cả lý luận, nhất là cả thực tiễn của Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, sự hình thành của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn là kết quả của quá trình kết hợp ba yếu tố: 1. Chủ nghĩa Mác – Lênin; 2. Phong trào công nhân; 3. Phong trào yêu nước. Thiếu một trong ba yếu tố đó thì Đảng Cộng sản Việt Nam không thể hình thành được.

Đối chiếu với sơ đồ trên đây, trong luận điểm của Hồ Chí Minh nêu năm 1960, Hồ Chí Minh còn đề cập thêm yếu tố thứ ba nữa, đó là Phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là điểm khác, mà là điểm son, là điểm bổ sung sáng tạo, đúng đắn của Hồ Chí Minh so với chủ nghĩa Mác – Lênin về quy luật hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản ở một nước Việt Nam thuộc địa[2] trước đây, và ở một nước Việt Nam kinh tế lạc hậu, đang phát triển hiện nay, cũng như cho cả quá trình phát triển từ nay về sau của dân tộc Việt Nam.

Lịch sử Việt Nam cho hay: cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam dần dần hình thành do thực dân Pháp tiến hành hai lần chính sách khai thác thuộc địa. Giai cấp công nhân Việt Nam hình thành không phải từ sự phát triển tự nhiên của chủ nghĩa tư bản Việt Nam mà ra đời trực tiếp từ phương thức sản xất tư bản chủ nghĩa du nhập từ chủ nghĩa thực dân Pháp vào Việt Nam. Lẽ đương nhiên, như phát kiến của chủ nghĩa Mác – Lênin, do nhiều yếu tố, phong trào công nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX đã kết hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin trong quá trình từng bước một “mà chủ nghĩa Mác – Lênin và ảnh hưởng Cách mạng Tháng Mười đã chọc thủng lưới sắt của thực dân Pháp truyền đến Việt Nam”[3].

Nhưng, vấn đề cần bình luận nhiều là ở chỗ: tại sao Hồ Chí Minh lại đưa thêm yếu tố thứ ba là yếu tố Phong trào yêu nước vào tổ hợp các yếu tố cho sự ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam? ở châu Âu, phong trào yêu nước có nhiều khi không kết hợp được với phong trào công nhân mà có khi lại xung đột nhau. Vì cớ gì mà Hồ Chí Minh lại kể đến yếu tố này, nó khác với Mác – Lênin? Xin lưu ý tới hai điểm nhấn để thấy rõ cái tầm trí tuệ của Hồ Chí Minh, đồng thời thấy rõ hơn bản lĩnh của ông.

Một, xin nhắc lại thời điểm Hồ Chí Minh nêu phát kiến về quy luật hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam là vào dịp Kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1960. Vào thời gian đó, có tình hình đáng chú ý là trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang có sự bất đồng quan điểm.

Mặc dù phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, do sự hoạt động tích cực của Đảng Cộng sản Liên Xô, đã tổ chức được hai cuộc Hội nghị lớn vào năm 1957 và năm 1960 để tập hợp lực lượng đoàn kết quốc tế, thống nhất tư tưởng, thống nhất hành động nhưng những bất đồng giữa nhiều đảng cộng sản vẫn không giảm và nó kéo dài mãi về sau, dần dần nghiêm trọng hơn, tới mức là có sự xung đột giữa Liên Xô và Trung Quốc…Một số đảng cộng sản đả kích lẫn nhau một cách công khai trên nhiều diễn đàn, tập trung nhất là trên hai vấn đề: giáo điều và cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin.

Nói như vậy để thấy rằng, vào thời điểm nhạy cảm đó, thời điểm mà cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong nội bộ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang diễn ra rất phức tạp, khi người ta đang quy kết nhau là cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin mà Hồ Chí Minh lại có những ý kiến khác (nói đúng hơn là phát triển) với chủ nghĩa Mác – Lênin. Như thế thật mạo hiểm. Hồ Chí Minh rất có thể lại bị hiểu lầm như trước đây, rất dễ bị quy vào cơ hội, xét lại chủ nghĩa Mác – Lênin[4].  Nhưng, như chúng ta thấy, một lần nữa, bản lĩnh chính trị của Hồ Chí Minh đã thắng.

Hai, Hồ Chí Minh công bố quan điểm của mình một cách công khai, rộng rãi. Theo yêu cầu, Hồ Chí Minh gửi đăng bài viết của mình trong Tạp chí Những vấn đề hoà bình và chủ nghĩa xã hội, một tạp chí thông tin lý luận và chính trị của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, ra hằng tháng, bằng nhiều ngôn ngữ, số lượng phát hành lớn, có trụ sở tại Praha (thủ đô Tiệp Khắc – nay là thủ đô của Cộng hoà Séc). Khi Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) tự giải tán năm 1943, Tạp chí Những vấn đề hoà bình và chủ nghĩa xã hội đóng vai trò là diễn đàn công khai, rộng rãi, rất quan trọng để thúc đẩy phong trào cách mạng trên thế giới[5].

Có thể rằng, với cách làm này, với tư cách là người đứng đầu một Đảng Cộng sản có uy tín trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế do tiến hành lãnh đạo thắng lợi cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và đang lãnh đạo nhân dân tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân mới, và đồng thời với tư cách là cựu chiến sĩ của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh muốn đóng góp tích cực vào sự phát triển lý luận Mác – Lênin bằng sự tổng kết thực tiễn của chính nước mình.

Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam nói chung và đối với quá trình hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Hồ Chí Minh cũng đánh giá rất cao vai trò của giai cấp công nhân và phong trào công nhân Việt Nam, xếp giai cấp công nhân Việt Nam vào vị trí lãnh đạo và là một đội quân chủ lực, là “gốc” cách mạng, mặc dù trong những năm 30 thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam còn non trẻ, nhỏ bé, đội ngũ giai cấp công nhân đại công nghiệp còn rất ít.

Nó còn non trẻ, nhỏ bé nhưng Hồ Chí Minh không giáo điều, không phải hễ cứ thấy Mác – Lênin nói gì mà không căn cứ vào tình hình thực tế cứ thế nói theo, mà Hồ Chí Minh thấy được sức mạnh của nó, và thấy rõ cả tiền đồ vẻ vang của nó[6]. Hồ Chí Minh thấy giai cấp công nhân Việt Nam tuy ít nhưng hội đủ những phẩm chất cách mạng nhất, đó là “vàng mười”. Cũng chính vì thế mà sức mạnh của nó thể hiện trong các phong trào cứu quốc vượt lên trên cả mức độ về số lượng, không đo bằng số lượng.

Điều này cũng tương tự khi đề cập về số lượng đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương khi lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Số lượng giai cấp công nhân ít, số lượng đảng viên của Đảng — đội tiên phong của giai cấp công nhân – cũng ít[7], nhưng, sức mạnh của cách mạng được nhân lên gấp bội vì chất lượng cao của giai cấp công nhân, của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đảng đã tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân (điển hình nhất là Mặt trận Việt Minh) trên cơ sở nòng cốt là liên minh công – nông – trí.

Đã đành là như vậy. Hồ Chí Minh đánh giá cao vai trò của chủ nghĩa Mác – Lênin; đánh giá cao vai trò của phong trào công nhân Việt Nam và sự kết hợp của hai yếu tố đó cho sự hình thành đảng cách mạng của giai cấp công nhân (lúc đặt tên là Đảng Cộng sản, lúc đặt tên là Đảng Lao động). Nhưng, không dừng lại ở đó vì thấy chưa đủ, Hồ Chí Minh nêu thêm yếu tố thứ ba: Phong trào yêu nước.

Tại sao vậy? Hồ Chí Minh không trực tiếp giải thích về điều này. Sau đây là cách lý giải của tôi qua nghiên cứu những quan điểm của Hồ Chí Minh:

a) Chủ nghĩa yêu nước vốn là giá trị văn hoá truyền thống bất diệt, trường tồn của dân tộc Việt Nam. Và như vậy, phong trào yêu nước mặc nhiên có trước phong trào công nhân.

Phong trào yêu nước được bồi đắp, được tinh lọc, bồi lắng qua bao đời dựng nước và giữ nước và trở thành dòng văn hoá chủ lưu của cộng đồng người Việt Nam – và do vậy, chúng ta gọi bằng cái tên là Chủ nghĩa yêu nước. Tinh thần yêu nước thì ở nước nào cũng có, nhưng biểu hiện thì khác nhau do hoàn cảnh kết thành khác nhau, và do đó sự đậm đặc cũng khác nhau. Tinh thần yêu nước Việt Nam được kết tinh qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Một đất nước Việt Nam đầy thuận lợi về mặt tự nhiên để phát triển, đồng thời đó cũng là một đất nước gặp đầy khó khăn trắc trở trong xây dựng. Cộng đồng dân cư phải chống chọi lại biết bao thiên tai để khai sơn phá thạch, mở mang bờ cõi, xây dựng giang sơn. Trong cuộc chiến đấu dựng xây đó, con người Việt Nam đã chung lưng đấu cật, đoàn kết cộng đồng, hình thành ý thức quốc gia, tinh thần yêu nước, và đậm hơn là chủ nghĩa yêu nước.

Đặc biệt là chủ nghĩa yêu nước được chiết xuất, chắt lọc từ truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Hồ Chí Minh tổng kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[8].

Có lẽ không có dân tộc nào, hoặc nói một cách dè dặt hơn, là hiếm có một dân tộc nào trên thế giới như dân tộc Việt Nam, trong suốt cái trục thời gian hàng bao thế kỷ của sự phát triển, lại buộc phải đương đầu với nhiều cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc cũng như những cuộc đấu tranh giải phóng khỏi ách chiếm đóng của ngoại bang đến như vậy.

Chiến tranh liên miên là điều không ai muốn. Vòng nguyệt quế của người chiến thắng bao giờ cũng được tết từ bao gian truân, nghiệt ngã có khi từ núi xương sông máu nhiều thế hệ. Nhưng, cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Việt Nam bị không may và cũng bị thiệt thòi bởi bao phen gươm đao súng đạn tràn qua biên ải. Khói lửa của những cuộc chiến tranh nhiều khi kéo lùi bước tiến của dân tộc Việt Nam lại hàng bao nhiêu năm không dễ gì bù đắp nổi. Chiến tranh có sức ỳ và sức kéo trở lùi mạnh ghê gớm lắm. Nhưng, có một giá trị là qua những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, đã xuất hiện, tồn lưu và nâng cao giá trị văn hoá chủ nghĩa yêu nước. Chủ nghĩa yêu nước như viên ngọc sáng nhất trong cái tàn khốc của những cuộc chiến.

Lịch sử đã ghi nhận khoảng 20 lần trong hơn 22 thế kỷ nhân dân Việt Nam đứng lên chống giặc ngoại xâm. Tiêu biểu nhất là:

– Chống Tần (từ khoảng năm 214 đến năm 208 trước Công nguyên).

– Chống Triệu (thế kỷ II trước Công nguyên)[9].

– Khởi nghĩa của nhân dân do Khúc Thừa Dụ lãnh đạo năm 905 giành chính quyền, dựng nền tự chủ, chấm dứt thời kỳ hơn 1000 năm “Bắc thuộc”.

– Ngô Quyền lãnh đạo chống quân xâm lược Nam Hán năm 938, thiết lập nền độc lập hoàn toàn.

– Lê Hoàn lãnh đạo chống quân Tống xâm lược năm 981.

– Triều nhà Lý lãnh đạo chống quân Tống xâm lược (1075-1077).

– Triều nhà Trần lãnh đạo chống Nguyên – Mông lần thứ nhất (1258).

– Triều nhà Trần lãnh đạo chống Nguyên – Mông lần thứ hai (1285).

– Triều nhà Trần lãnh đạo chống Nguyên – Mông lần thứ ba (1287 – 1288).

– Triều nhà Lê lãnh đạo chống quân Minh xâm lược (1418 – 1427).

–  Tây Sơn lãnh đạo chống quân Xiêm xâm lược (1784 – 1785).

– Tây Sơn chống quân Thanh xâm lược (1788 – 1789).

– Chống Pháp, giành độc lập dân tộc (1858 – 1945).

– Chống Pháp tái xâm lược và can thiệp Mỹ (1945 – 1954).

– Chống Mỹ xâm lược (1954 – 1975).

– Chống xung đột biên giới (1975 – 1979).

Đó là mới kể những cuộc đấu tranh lớn. Mà chủ yếu là “đụng” với những tên đầu sỏ, mạnh nhất nhì thế giới lúc bấy giờ cả. ở Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn thống nhất các bộ lạc chiến binh ở Trung Bắc Á để thành lập nên một đế chế hùng mạnh vào năm 1206. Vào lúc phát triển nhất, hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn đã mở rộng cương vực đế chế của mình. Vó ngựa của quân Mông Cổ đã cất lên trên con đường đi chinh phục ở châu á, châu Âu, cả một dải lãnh địa mênh mông tới 35 triệu kilômét vuông, bao gồm Trung Quốc, phần lớn châu Âu (lãnh địa Nga, Irắc, Iran… hiện nay). Các nước này phải chịu thuần phục trước sức mạnh của các chiến binh thiện nghệ Mông Cổ (Nhưng chính nền văn minh của những kẻ xâm lược lại bị đồng hoá bởi các nền văn hoá của những nước bị chiếm đóng).

Cũng sức mạnh ấy, quân Nguyên – Mông đã chịu bại trận ở Việt Nam. Rồi quân Thanh mạnh đến như vậy, đặc biệt là quân Pháp và quân Mỹ với nền kinh tế, quân sự hùng hậu đến như thế đành chịu thua một dân tộc Việt Nam nhỏ bé, nhưng gan góc, kiên cường đến kỳ lạ. Trong thời kỳ đấu tranh chống sự xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đã đứng lên ngay từ buổi đầu khi chúng đến nước ta. Rồi sau đó là phong trào Cần Vương. Triều đình nhà Nguyễn đã có ba ông vua tự nguyện ra bưng biền ăn cá mắm, ăn cơm nắm, chịu bao phen khổ ải đứng cùng nhân dân kháng Pháp (Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân). Ngọn lửa chống xâm lược của Phong trào Cần Vương bị thực dân Pháp dập tắt vào năm 1896 sau hơn 10 năm nhen nhóm (đối với ngọn lửa chống Pháp của nghĩa quân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo thì mãi đến năm 1913 mới bị dập tắt), nhưng tinh thần yêu nước của toàn dân tộc Việt Nam không bao giờ bị lụi.

Đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước mới xuất hiện. Nó mới về con người lãnh đạo, nhưng quan trọng hơn là nó mới cả về tính chất, về hệ tư tưởng và đương nhiên là cả cách tổ chức lực lượng. Chống thực dân Pháp để giành lấy độc lập, tự do cho Tổ quốc nghìn đời yêu quý, để cởi bỏ ách áp bức ngoại bang thì tất cả các phong trào kháng Pháp đều giống nhau. Nhưng chống Pháp rồi để thiết lập một chế độ chính trị gì, xây dựng nhà nước Việt Nam như thế nào, tập hợp lực lượng nào, theo sự chỉ dẫn của tư tưởng nào thì khác nhau một trời một vực. Mượn danh nghĩa của nhà vua để dấy lên các làn sóng đấu tranh lật nhào sự thống trị của thực dân Pháp rồi lại trở lại củng cố chế độ phong kiến đã hết thời (Cần Vương) thì là không hợp xu thế. Như thế, bại là khó tránh.

Thay thế cho Cần Vương là những phong trào theo hệ tư tưởng tư sản trong luồng gió mới do những trí thức yêu nước mẫn cảm với thời cuộc đứng ra khởi xướng và lãnh đạo. Dù thực dân Pháp và phong kiến Việt Nam cố tình bưng bít thế nào đi chăng nữa, nhưng tư tưởng dân chủ tư sản vẫn vào được Việt Nam.

Ảnh hưởng của tư tưởng tư sản qua các phong trào yêu nước của các sĩ phu phong kiến chuyển làn sang tư tưởng tư sản ở Việt Nam đầu thế kỷ XX khá rõ nét. Tiêu biểu nhất là ảnh hưởng từ Nhật Bản rồi sinh ra Phong trào Đông Du gắn liền với tên tuổi một con người nổi tiếng của đất Việt là Phan Bội Châu. Chính Hồ Chí Minh cũng đã đánh giá Cụ Phan Bội Châu, vốn là bậc cha chú của mình, người cùng huyện Nam Đàn, bạn với cụ Nguyễn Sinh Sắc, rằng: Cụ Phan Bội Châu là một đấng thiên sứ, người được hơn 20 triệu dân Việt Nam tôn sùng.

Phan Bội Châu là một con người uyên bác, ưa hoạt động cách mạng, bôn ba nhiều nơi, nhiều nước. Ông lập ra Hội Duy Tân năm 1904. Ông lập ra nhiều tổ chức cách mạng nữa. Nhưng, nói đến Phan Bội Châu mà không nói đến Phong trào Đông Du thì quả là sai lầm. Trong con mắt của Cụ Phan Bội Châu, một nước Nhật Bản đồng chủng, đồng văn hùng dũng tiến bước dưới ánh sáng của một nền dân chủ tư sản là một khích lệ vĩ đại, gây cho Cụ và các đồng chí của Cụ một lòng ngưỡng mộ, tự hào, và coi Nhật Bản là một tấm gương lớn để noi theo.

Cụ Phan Bội Châu muốn có một nền dân chủ cộng hoà, muốn bạo động đánh đổ chế độ phong kiến. Ở Nhật Bản, Cụ đã viết nhiều tác phẩm gửi về nước, điển hình là: “Việt Nam vong quốc sử”, “Khuyến quốc dân tự trợ du học văn”, “Hải ngoại huyết thư”, “Thư gửi những người trong nước”, “Việt Nam quốc sử khảo”, v.v. Cụ gặp gỡ các nhà cách mạng, củng cố tư tưởng dân chủ tư sản theo chế độ cộng hoà đại nghị, đoạn tuyệt hẳn với chế độ quân chủ. Cụ bày tỏ quan điểm của mình trong cuốn “Tân Việt Nam” (năm 1907): “Tôi từ khi sang Nhật Bản, được nghiên cứu nguyên nhân cách mạng nước ngoài và chính thể các nước, thì rất say sưa với lý luận của Lư Thoa. Vả lại, được giao thiệp với nhiều đồng chí Trung Hoa nên trong đầu óc tôi đã xếp tư tưởng quân chủ vào một xó”. Cụ cho rằng: “Phàm dân nước ta, không kể sang hèn, giàu nghèo, già trẻ đều có quyền bầu cử”; “Hình pháp, chính lệnh, thuế khoá, tiêu dùng đều do Nghị viện quyết định”.

Mà đâu chỉ có sách và bài vở của Cụ Phan Bội Châu gửi về nước. Còn rất nhiều anh em lưu học sinh ở Nhật Bản, vốn là con em của các bậc sĩ phu khắp đất nước, cũng gửi về nữa (Riêng năm 1905, đã có tới 200 lưu học sinh của Việt Nam đang theo học tại Nhật Bản theo Phong trào Đông Du).

Sáng nhất và đáng khâm phục nhất, dẫn đầu các phong trào yêu nước đa dạng, phong phú, sôi nổi như sóng cồn đầu thế kỷ XX như trên tôi đã đề cập là phong trào của hai Cụ Phan: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Phong trào do Phan Bội Châu lãnh đạo với mục đích giành độc lập dân tộc theo cộng hoà đại nghị tư sản với phương pháp bạo động vũ trang. Cụ và các cộng sự của Cụ đã tạo ra các phong trào Đông Du (1906 – 1908), Việt Nam Quang phục hội (1912)…

Còn Cụ Phan Châu Trinh thì cũng muốn lập ra một chế độ đại nghị tư sản, nhưng phương pháp khác hẳn Cụ Phan Bội Châu, đó là phương pháp “Bất bạo động, bạo động tắc tử” (Không bạo động, vì bạo động là chết). Cụ và các cộng sự của Cụ hoạt động không mệt mỏi để “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” (Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy học chữ quốc ngữ, kiến thức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa. Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, mọi người giác ngộ được quyền lợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế. Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sản xuất hàng nội hoá…).

Không phụ tinh thần của Cụ, hàng loạt phong trào yêu nước đã dấy lên: Phong trào Duy Tân (1906 – 1908), Đông Kinh Nghĩa Thục (1907)…Có thể nói rằng, đó là những khai sáng, đổi mới có hiệu quả đối với xã hội Việt Nam phong kiến tăm tối lúc bấy giờ. Phong trào Cụ Phan Bội Châu bạo động vũ trang thì bị thực dân Pháp đàn áp đã đành. Nhưng, phong trào có tính chất ôn hoà, bất bạo động của Cụ Phan Châu Trinh cũng làm cho thực dân Pháp – với chính sách kìm hãm dân bản xứ vào vòng tăm tối, chính sách “làm cho dân ngu để dễ trị” – không hài lòng.

Chính quyền phong kiến Việt Nam câu kết với thực dân Pháp bắt Cụ Phan Châu Trinh tại Hà Nội ngày 31-3-1908, giải về Huế. Hội đồng xét xử của Nam triều kết án Cụ vào tội chém, nhưng do sự can thiệp của một số người Pháp có thiện chí cùng với ý kiến của những đại diện Liên minh nhân quyền tại Hà Nội, chính quyền thực dân-phong kiến buộc Cụ Phan Châu Trinh đày ra Côn Đảo, làm người đập đá ba năm ở Côn Lôn (1908 – 1910), sau này Cụ sang sống ở Pháp một thời gian khá dài (1910 – 1926), hoạt động yêu nước ở đó cùng nhóm với Tiến sĩ, luật sư Phan Văn Trường và có thời gian cùng với Nguyễn Ái Quốc.

Xã hội Việt Nam biến đổi, tuy chậm chạp, nhưng với những sắc thái mới do nhịp độ ngày càng tăng của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp – một loại thực dân của tư bản tài chính, cho vay nặng lãi, ít chú ý tới mở mang, xây dựng ở bản xứ, chỉ chăm chăm lo vơ vét, bóc lột thuộc địa. Đầu thế kỷ XX, dù sao có muộn nhưng các giai cấp, tầng lớp mới đã xuất hiện, đó là giai cấp công nhân, tiểu tư sản, trí thức; riêng giai cấp công nhân xuất hiện trước cả giai cấp tư sản dân tộc. Nhiều sĩ phu thức thời, vốn thuộc thành phần giai cấp phong kiến, sau bao trăn trở và sau bao tháng năm chìm trong nền Nho học, đã tỉnh ngộ, chuyển mình sang lập trường tư tưởng mới – lập trường dân chủ tư sản.

Chế độ thực dân đã đẻ ra, ngoài ý muốn, một tư tưởng dân chủ tư sản và cắm nó vào mảnh đất hiện thực của Việt Nam. Chế độ đó trực tiếp cho ra lò một loạt trí thức, công chức với mục đích hiến dâng cho sự nghiệp của “mẫu quốc”, nhưng lại tạo ra một sức bật mới, bứt ra khỏi hệ tư tưởng phong kiến và rồi trong số họ về sau còn tiến xa hơn nữa, tức là dấn thêm một bước quan trọng, vượt hẳn về chất, vào con đường cách mạng vô sản.

Ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến bị gẫy gục.

Ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng tư sản mới giương lên cũng bị thực dân Pháp bẻ gẫy.

Anh dũng có thừa. Máu đào của các bậc tiên liệt đã đổ xuống nhưng cây độc lập, tự do cho Tổ quốc, cho nhân dân không ra hoa kết trái.

Một ngọn cờ mới được giương lên. Đó là ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng vô sản, theo chủ nghĩa Mác – Lênin – ngọn cờ đúng nhất, phù hợp nhất với con đường tiến hoá của dân tộc Việt Nam. Và nó đã hiện hữu trên mảnh đất cong cong hình chữ S. Người giương cao ngọn cờ đó là Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Như vậy, để thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước có mảnh đất nẩy nở và tồn tại, phát triển ở Việt Nam, một đất nước đã hun thành những giá trị yêu nước bất diệt.

Riêng đối với Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trong lịch sử hơn 200 năm tồn tại, chưa thua ai bao giờ mà cũng đành hậm hực rời khỏi Việt Nam. Cuộc chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) là đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là một mốc son đẹp nhất tiếp tục phát lộ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam trong thời kỳ mới. Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam cho phép tạo ra được sức mạnh tổng hợp thần kỳ nhất trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam, đó là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Nó huy động được cả sức mạnh của quá khứ kết hợp được sức mạnh của hiện tại và sự phấn khích vì một tương lai tươi sáng của dân tộc. Nó làm sáng lên những giá trị văn hoá vĩnh hằng chân, thiện, mỹ của loài người.

Tôi phải bình luận hơi nhiều về những điều trên là vì hai lý do. Thứ nhất, hai cuộc kháng chiến đó mới xẩy ra trong thời kỳ cận-hiện đại. Thứ hai, hai cuộc kháng chiến đó là tiêu biểu nhất cho chủ nghĩa yêu nước của thời kỳ mới. Chúng ở tầng trên độ dày của các lớp phù sa văn hoá yêu nước Việt Nam. Đó là những lớp phù sa phì nhiêu nhất mà ở trên đó cộng đồng người Việt Nam tiếp sống.

Tầng văn hoá đó, trầm tích văn hoá đó đang phát lộ theo năm tháng. Ai, có thể là ai đó trong cộng đồng người Việt Nam, hoặc người nước ngoài gốc Việt Nam, hiện hoài nghi hoặc phủ nhận giá trị của hai cuộc kháng chiến đó thì là một sai lầm nghiêm trọng trong cách nhìn, trong điểm nhìn, và cả trong tư duy, và đương nhiên là cả trong tình cảm đối với cái quá khứ đã có của cha ông chúng ta. Không ai lên án ai. Hãy tự để lương tâm mỗi người Việt Nam trải nghiệm qua năm tháng của cuộc đời, dù người đó hiện đang ở đâu, trên chân trời góc bể nào, và với tâm trạng nào.

Không chỉ là Tinh thần yêu nước, Lòng yêu nước, Tư tưởng yêu nước mà là cái giá trị văn hoá bền vững hơn, đó là Chủ nghĩa yêu nước (Patriotisme). Những vĩ nhân của thế giới thường là xuất phát từ nội lực chủ nghĩa yêu nước mà đi lên. Chính bản thân Hồ Chí Minh là một điển hình. Hành trang chủ yếu mà Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước chính là chủ nghĩa yêu nước. Hồ Chí Minh đã đem chủ nghĩa yêu nước từ truyền thống, trong truyền thống nhập vào chủ nghĩa cộng sản trở thành chủ nghĩa yêu nước hiện đại rồi tác động vào tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam: yêu nước gắn liền với con đường phát triển của một xã hội đất nước giàu mạnh, dân được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc như chính cái tiêu ngữ văn bản nhà nước do chính Hồ Chí Minh nêu lên.

b) Phong trào yêu nước và phong trào công nhân kết hợp được ngay từ đầu, tuyệt nhiên không có sự bài xích nhau, như một số phong trào yêu nước, phong trào công nhân ở châu Âu.

Lý giải cho điều này hợp lý nhất là giữa hai phong trào này có điểm chung, có “mẫu số” chung: độc lập, tự do cho dân tộc. Chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, chỉ có giải phóng được giai cấp thì mới giải phóng được cho dân tộc. Điều đó đúng. Và đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh cũng đã thấm nhuần như vậy. Nhưng, ở Việt Nam, với một nước thuộc địa, khi vấn đề dân tộc nổi lên trên hết và trước hết thì cái vế đó của chủ nghĩa Mác – Lênin cần đổi lại mới đúng hơn. Về sau, Hồ Chí Minh làm như thế.

Chẳng thế mà trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5 năm 1941 ở Pác Bó (Cao Bằng) – một Hội nghị nổi tiếng với hai ý nghĩa: lần đầu tiên khi về nước sau 30 năm xa Tổ quốc, Hồ Chí Minh chủ trì một Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng; hội nghị có nhiều quyết định quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 — đã nêu lên quan điểm về mối quan hệ dân tộc-giai cấp đúng ý của Hồ Chí Minh: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[10] .

Trước khi bàn đến đấu tranh giai cấp mà Hồ Chí Minh cho rằng “cuộc đấu tranh giai cấp (ở Việt Nam – tôi chú giải) không diễn ra giống như ở phương Tây”[11], ngay từ năm 1924 trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ viết tại Mátxcơva bằng tiếng Pháp, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”[12]. Rồi Hồ Chí Minh lại cho rằng, phương hướng chung là “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản…Một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời”[13]. Hiện nay, đang có một số người phê phán việc đề cao tính dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Không, những đoạn trích dẫn trên đây không nên hiểu là dân tộc cực đoan, mà dân tộc chân chính, như Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản”, và ông cũng đã dự đoán rằng, “bằng việc làm này (tức là bằng việc “quấy rối chủ nghĩa đế quốc Pháp”[14] – TG cuốn sách này chú dẫn), Quốc tế Cộng sản sẽ được lợi trực tiếp”[15].

Trong một xã hội thuộc địa như xã hội Việt Nam, tất cả mọi giai cấp, mọi tầng lớp, trừ bọn tư sản mại bản và bọn đại địa chủ, còn tất thảy đều có mâu thuẫn với ách áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc. Nhiều người gọi đó là mâu thuẫn cơ bản giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với bọn đế quốc, tay sai. Trong thực tế, những phong trào đấu tranh của công nhân đã kết hợp được rất nhuần nhuyễn với phong trào yêu nước, và có lúc không phân biệt được thật rạch ròi đấu tranh dân tộc với đấu tranh giai cấp.

Nhiều phong trào yêu nước lúc đầu diễn ra theo xu hướng dân chủ tư sản, nhưng qua thực tế được sự tác động của chủ nghĩa Mác – Lênin, đã dần dần ngả theo xu hướng cộng sản chủ nghĩa, rõ nhất là từ năm 1925 trở đi với sự ra đời của hàng loạt tổ chức yêu nước, trong đó nổi rõ nhất là tổ chức Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh niên do Hồ Chí Minh lập ra.

Ở miền Nam Việt Nam trong thời kỳ nô dịch của đế quốc Mỹ cũng vậy. Các phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, trong đó có phong trào công nhân, đều có chung một nét là đấu tranh giai cấp quyện chặt với đấu tranh dân tộc. Tất cả các dòng sông đều đổ về biển cả. Thật khó mà tách bạch mục tiêu cơ bản giữa các phong trào đó, tuy lực lượng có khác nhau, phương thức đấu tranh khác nhau, khẩu hiệu có khác nhau, nhưng mục tiêu quyết không có gì khác: giành độc lập, tự do, thoát khỏi ách chiếm đóng của ngoại bang.

c) Ở Việt Nam, đề cập phong trào yêu nước, phải kể đến phong trào của nông dân.

Người ta đánh giá nông dân có hai mặt: mặt cách mạng (tích cực) và mặt tư hữu (không tích cực). Ngay cả những nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học cũng đã nhấn mạnh tới đặc tính này. C. Mác có biệt tài tổng kết thực tiễn. C. Mác đã tổng kết Công xã Pari năm 1871 ngay khi Công xã diễn ra. Và, ngay sau khi Công xã Pari thất bại với sự tồn tại khoảng 70 ngày, thì C. Mác đã hoàn thành bản tổng kết, tuy trong tổng kết của ông có một số vấn đề sau này không thể áp dụng được.

C. Mác thấy đúng, thấy rõ một trong những hạn chế của Công xã Pari là công nhân không liên minh được với nông dân. Còn Ph. Ăngghen cũng cho rằng, phong trào cách mạng ở Đức những năm 90 của thế kỷ XIX sẽ trở thành bài ca ai điếu nếu không có sức mạnh của khối liên minh công – nông. Song các ông cũng cho rằng, đối với nông dân Pháp chẳng hạn, mặt nào đó rời rạc không có sức sống đoàn kết, ví như những củ khoai tây trong một bao tải khoai tây mà thôi. Thời cách mạng Nga, Tơrốtxky cho rằng, sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917, muốn cải tạo được nông dân Nga, đưa nông dân Nga đi lên theo con đường xã hội chủ nghĩa thì phải làm cho họ trở thành người vô sản đã, tức là làm cho họ không còn tư hữu ruộng đất.

Còn ở Việt Nam, tuyệt nhiên không như vậy. Cho đến nay, tôi chưa tìm ra được chỗ nào Hồ Chí Minh đánh giá thấp giai cấp nông dân, hoặc nhấn mạnh cái mặt thứ hai của nông dân như mấy vị bậc thầy của mình. Hồ Chí Minh xếp nông dân cùng với công nhân làm thành đội quân chủ lực của cách mạng. Trong một nước Việt Nam – một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên – vai trò và sức mạnh của nông dân là rất to lớn. Hiện nay, trong sự cố gắng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, số dân sống ở nông thôn vẫn chiếm tới khoảng gần 70% trong tổng dân số, trong đó số làm nghề nông chiếm tuyệt đại đa số. Trong nửa đầu thế kỷ XX, nông dân Việt Nam chiếm tới 95% dân số. Vị chi đến nay, số dân ở nông thôn mới “xê dịch” được khoảng 20% mặc dù tốc độ đô thị hoá khoảng chục năm trở lại đây diễn ra đến chóng mặt.

Con đường hình thành người công nhân Việt Nam, hay nói gốc gác của người công nhân Việt Nam lại là trực tiếp từ người nông dân mà ra. ở Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không có công nhân nhiều đời. Hôm nay họ đang là người nông dân cấy rẽ nộp tô cho địa chủ, gặt hái xong, nghe nói ở mỏ than Hòn Gai “làm ăn được”, họ “khăn gói quả mướp” ra đi trở thành công nhân đào than, đội than. Đến mùa, họ lại trở về quê làm ruộng. Năm sau, có khi họ đến tận đồn điền cao su Phú Riềng, v.v. Do vậy, giữa người công nhân và người nông dân có mối liên hệ tự nhiên, bền chặt. Vì thế, việc hình thành khối liên minh công – nông trong cách mạng Việt Nam không khó như ở phương Tây. Bằng chứng là các cao trào cách mạng từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trở đi, đều ghi đậm dấu ấn khối đoàn kết liên minh công – nông, ngay cả trận “ra quân” đầu tiên do Đảng Cộng sản lãnh đạo là phong trào 1930 –1931 mà đỉnh cao là Xôviết Nghệ – Tĩnh.

d) Nói đến phong trào yêu nước Việt Nam cũng phải nói đến phong trào của trí thức. Họ ghi dấu ấn lớn vào tiến trình cách mạng Việt Nam.

Chính tầng lớp trí thức chứ không phải ai khác, tuy số lượng không nhiều so với tổng số dân cư ở một nước thuộc địa của Pháp, nhưng lại là những “ngòi nổ” cho các phong trào yêu nước oanh liệt kháng Pháp và tay sai. Trong những năm 20 của thế kỷ XX, những trí thức Việt Nam nhạy cảm với thời cuộc, nặng nợ với non sông, đứng ra tổ chức hoặc đi theo những tổ chức yêu nước rộ lên một thời trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam hình thành. Những người lãnh đạo các tổ chức yêu nước đó chủ yếu là những giáo viên, học sinh, con nhà giàu bỏ học giữa chừng đi theo tiếng gọi của hồn thiêng sông núi tìm cách làm cho đất nước thoát ra khỏi cảnh áp bức của ngoại bang.

Với đặc tính của mình, họ có điều kiện và nhanh nhạy đón nhận những “luồng gió mới”, những trào lưu tư tưởng tư sản và vô sản qua các sách báo và qua môi trường học đường, nổi tiếng nhất là những trường: Bưởi (Trường Phổ thông trung học Chu Văn An – Hà Nội hiện nay), Quốc học – Huế, Thăng Long, v.v. Có thể những quan điểm, tư tưởng đó đối với nhiều nước là không mới, nhưng đối với thuộc địa bị nô dịch hà khắc dưới chế độ cai trị của thực dân Pháp, thì là mới.

Sức hấp dẫn của những luồng tư tưởng ấy đã thôi thúc họ, người thì xuất dương, người thì chờ thời cơ, người đi tìm minh chủ, người thì kết nối bạn bè đứng ra tổ chức riêng một nhóm, lúc đầu còn nhỏ bé, sau lớn dần lên. Rồi mục tiêu, khẩu hiệu, phương pháp, tôn chỉ…phải thay đi đổi lại mấy lần. Những năm 20 của thế kỷ XX này, đúng là các tổ chức yêu nước ken dày, mọc lên như nấm sau cơn mưa mà những yếu nhân của các tổ chức đó là những trí thức, tiểu tư sản, trong đó có cả những con nhà tư sản, địa chủ có tiếng.

Ngay như bản thân Hồ Chí Minh sống ở đất kinh đô Huế 1905 – 1908 cũng chịu ảnh hưởng không ít các trào lưu tư tưởng tư sản. Huế là đất kinh thành, là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá lớn của đất nước lúc đó. Lẽ dĩ nhiên, với vị thế đó, Huế là nơi giao lưu các luồng tư tưởng. Cái thủ cựu của chế độ phong kiến, cái tân học theo tư tưởng tư sản phương Tây đều dội cả vào đó. Trong Triều đình nhà Nguyễn không thiếu những người yêu nước và không thiếu những người theo chiều hướng cải tổ, canh tân.

Những trường học, những thư viện có cả những tập bài giảng, những cuốn sách về tư tưởng của các nhà khai sáng phương Tây, của tư tưởng dân chủ tư sản mới, rất hấp dẫn. Triều đình Huế những năm 1862-1873 vẫn nhận được những tờ sớ, những bản điều trần về canh tân của các bậc trí thức Nguyễn Lộ Trạch, Đinh Văn Điền…, đặc biệt là của Nguyễn Tường Tộ. Họ có gan nói rõ những yêu cầu canh tân sau khi đã nghiên cứu, đã “điền dã” các nước phương Tây, và không sợ mất mạng vì những tờ sớ đó. Như vậy, ngay trong lòng của cái bọc phong kiến bảo thủ (và thường trong những cuộc tranh chấp giữa những tư tưởng canh tân và bảo thủ thì thường là tư tưởng bảo thủ thắng thế), vẫn nổi lên những luồng tư tưởng dân chủ tư sản mà các bậc trí thức, học sinh hăm hở tiếp nhận bằng nhiều cách.

Phong trào yêu nước của tầng lớp trí thức có dịp hoà nhịp với phong trào công nhân và các phong trào yêu nước của các tầng lớp khác. Thậm chí, có tổ chức, bộ phận còn đề ra và tích cực thực hiện chủ trương “vô sản hoá”, đi vào phong trào công nhân, bằng cách cử những hội viên của mình trực tiếp làm công nhân để vừa thấu hiểu tình cảnh của người lao động, vừa rèn luyện bản thân, lại vừa tuyên truyền được mục tiêu, chí hướng hành động của tổ chức mình. Thật là khó bội lần cho những thanh niên trí thức Việt Nam nhiệt huyết nhưng sức vóc bạch diện thư sinh, “dài lưng tốn vải”, họ đã lớn lên, đất nước đã hé rạng tương lai nhờ những sáng kiến đó.

Trong hàng ngũ những người trí thức tham gia các tổ chức yêu nước, theo đà phát triển, tất yếu có sự phân hoá. Số đông trong họ ngả dần theo xu hướng cộng sản chủ nghĩa vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX. Và, đặc biệt thay, đúng đắn thay, những trí thức đầy bầu nhiệt huyết yêu nước đó lại trở thành những những nhân vật chủ chốt trong các tổ chức cộng sản để rồi đến đầu năm 1930 hợp nhất lại thành tổ chức cộng sản duy nhất: Đảng Cộng sản Việt Nam. Tiêu biểu nhất, điển hình nhất trong việc ghi dấu ấn vị trí, vai trò to lớn của trí thức Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX là tổ chức Hội Việt Nam Cách mệnh thanh niên, một tổ chức yêu nước, bộ phận lãnh đạo là trí thức tiểu tư sản, có xu hướng cộng sản chủ nghĩa, và sau này được coi là tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có lẽ có thể có một số lý do nữa, nhưng trở lên bên trên là bốn lý do chủ yếu nhất để Hồ Chí Minh xếp phong trào yêu nước vào thành một trong ba yếu tố cấu thành cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930.

Một vấn đề nữa: chúng ta thường hay nói phát kiến của Hồ Chí Minh về quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhưng, tôi muốn thêm: không những là quy luật ra đời mà còn là quy luật phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam nữa. Chính việc đưa thêm yếu tố phong trào yêu nước vào kết hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin và phong trào công nhân đã làm cơ sở cho tư tưởng chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cơ sở xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là giai cấp công nhân (cũng như cơ sở lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là chủ nghĩa Mác – Lênin mà còn là tư tưởng Hồ Chí Minh nữa – tôi sẽ đề cập ở mục sau cũng trong Chương này). Cơ sở xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam còn là toàn thể nhân dân lao động nữa. Hồ Chí Minh đã không ít lần bày tỏ quan điểm này.

Tôi chỉ xin dẫn ra từ một nguồn gồm một bài đăng báo và một tác phẩm được xuất bản thành sách mà Hồ Chí Minh lấy bút danh X.Y.Z. Đó là Hồ Chí Minh viết trong bài Dân vận, đăng trên báo Sự thật, số 120 ngày 15-10-1949 và tác phẩm Sửa đổi lối làm việc Hồ Chí Minh viết năm 1947. Trong bài Dân vận, Hồ Chí Minh cho rằng, “Nước ta là nước dân chủ”[16] và “Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên”[17]. Còn trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh viết: “Đảng ta không phải từ trên trời sa xuống. Nó ở trong xã hội mà ra”[18]. Xin lưu ý là từ cuối năm 1945, do hoàn cảnh đặc biệt cho nên theo ý kiến của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán nhưng kỳ thực là rút vào hoạt động bí mật. Trong các văn bản của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà từ cuối năm 1945 đến tháng 2 năm 1951, từ “Đảng” thường được thay bằng từ “Đoàn thể” (Chữ Đoàn viết hoa). Quan điểm Đảng do dân lập nên và Đảng không phải từ trên trời sa xuống, nó ở trong xã hội mà ra thoạt tiên nghe rất mới và lạ, nhưng xét đến cùng thì cũng là từ quan điểm gốc mà Hồ Chí Minh đã nêu khi đề cập các yếu tố cho sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ đây, tôi có thể kết luận rằng, ý kiến của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam chính là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa (trước năm 1945) và nói chung là đối với một nước giai cấp công nhân có số lượng ít so với dân cư.

Phải chăng, phát kiến như thế của Hồ Chí Minh còn có ý nghĩa quốc tế? Và, bằng việc đó, Hồ Chí Minh đã ghi một mốc son đẹp, không phai mờ, vào việc phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời trở thành một người có cống hiến xuất sắc vào kho tàng lý luận xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp công nhân.

Đến đây, chúng ta lại quy vào thành sơ đồ của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam:

Chủ nghĩa Mác – Lênin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước = Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

NGAY TỪ KHI MỚI RA ĐỜI, ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ ĐƯỢC TRANG BỊ BẰNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Khi nhận được tin có nhiều tổ chức cộng sản ở Việt Nam ra đời và đang tranh giành ảnh hưởng và công kích lẫn nhau, Hồ Chí Minh quyết định triệu tập đại biểu của các tổ chức đó đến Hồng Công để thống nhất lại thành tổ chức đảng cộng sản duy nhất. Từ Xiêm (Thái Lan), ông đến Hồng Công để tiến hành việc này vào cuối năm 1929[19]. Hội nghị diễn ra bắt đầu từ ngày 6-1-1930[20] đã thống nhất hai tổ chức cộng sản là Đông Dương cộng sản Đảng và An Nam cộng sản Đảng thành một đảng cộng sản duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam[21].

Văn kiện của Hội nghị này gồm có 7 bản:

* Năm điểm lớn.

* Chánh cương vắn tắt của Đảng.

* Sách lược vắn tắt của Đảng.

* Chương trình tóm tắt của Đảng.

* Điều lệ vắn tắt của Đảng.

* Báo cáo tóm tắt Hội nghị (ngày 7-2-1930).

* Lời kêu gọi (nhân dịp thành lập Đảng).

Có ba vấn đề đặt ra ở đây:

Một là: với tư cách gì để Hồ Chí Minh đứng ra chủ trì Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam?

Trả lời cho vấn đề này, như chính bản thân Hồ Chí Minh viết trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, ông nhận trách nhiệm này “với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản có đầy đủ quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào cách mạng ở Đông Dương”[22].

Hai là: 7 tài liệu trên đây do ai soạn, và Hồ Chí Minh có phải là người soạn tất cả 7 bản tài liệu đó không hay chỉ soạn một số trong 7 bản đó thôi?

Theo thông tin trong bộ sách Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 và trong Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002 thì tất cả các tài liệu trên đều do Hồ Chí Minh biên soạn. Người ta có thể nghi ngờ, nhưng những tài liệu quan trọng bậc nhất cho Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam như Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng chắc chắn là do Hồ Chí Minh soạn thảo.

Ba là: các văn kiện trên có phải là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam không ?

Qua một thời gian nghiên cứu, thảo luận, hiện nay trong giới khoa học ở Việt Nam nhiều người công nhận rằng, những văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam[23].

Một số người không cho là tất cả các văn kiện đó hợp thành cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng mà chỉ có các bản Chính cương vắn tắt của ĐảngSách lược vắn tắt của Đảng mà thôi. Có người nhận định một cách dè dặt rằng, những văn kiện trên mang tính chất như là một cương lĩnh chính trị.

Các văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh soạn thảo và được Hội nghị thông qua, tuy chúng rất vắn tắt, nhưng hội đủ những vấn đề cốt yếu nhất của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính vì vậy, bằng những văn kiện này, nhiều người, trong đó có tôi, cho rằng, đến thời gian này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã được hình thành về cơ bản, xét trong chuỗi phân kỳ quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.

Và, Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay từ khi mới ra đời, đã được “vũ trang” bằng tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng đúng đắn đang dẫn dắt dân tộc phát triển trong thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp theo.

Vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam được phản ánh như thế nào trong văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam? Tôi nêu lại và nhấn mạnh vào bảy nội dung quan trọng bậc nhất chứng tỏ chúng là những nội dung không thể thiếu được trong cương lĩnh chính trị của một chính đảng:

Một: mục đíchcon đường cách mạng của Đảng là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[24]. Diễn đạt một cách khác theo ngôn ngữ hiện đại thì là: làm cách mạng dân chủ tư sản và cách mạng ruộng đất để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Mà cách mạng dân chủ tư sản do giai cấp công nhân, đứng đầu là đảng cộng sản, lãnh đạo tức là cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới. Kiểu mới cũng tức là làm cách mạng thắng lợi không phải là thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa. Sau này, qua thực tế các giai đoạn của cách mạng Việt Nam, chúng ta không gọi như cách gọi trong Chánh cương vắn tắt của Đảng nữa mà gọi là “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân”.

Hai: lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam, “đội tiên phong của đạo quân vô sản”[25], “đội tiên phong của vô sản giai cấp”[26], “tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quốc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản”[27]. Sau này, Hồ Chí Minh có cách gọi Đảng Cộng sản Việt Nam một cách “mềm” hơn: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam (Điển hình là tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, tháng 2 năm 1951).

Ba là: về mặt lý luận, Đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, mà trong Điều lệ khi đặt ra “lệ vào Đảng” được diễn đạt là phải “tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình đảng và Quốc tế Cộng sản”[28]. Điều này, trong tác phẩm Đường cách mệnh tập hợp những bài giảng của Hồ Chí Minh cho các lớp huấn luyện của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ghi rõ hơn, cụ thể hơn về chủ nghĩa Mác – Lênin.

Bốn: lực lượng cách mạng gồm nhân dân Việt Nam yêu nước, từ công nhân, nông dân đến trí thức, tiểu tư sản (ngay từ lúc này, theo quan điểm của Hồ Chí Minh trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, chúng ta đã thấy rõ quan điểm khối liên minh công – nông – trí rồi chứ không phải mãi sau này mới bổ sung “trí” vào tổ hợp liên minh đó). Ngoài liên minh công – nông – trí, Hồ Chí Minh còn đề cập đoàn kết, tập hợp cả các lực lượng: trung nông, rồi phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản bản xứ “chưa rõ mặt phản cách mạng”. Đây là tập hợp rộng, một quan điểm đầy tính sáng tạo của Hồ Chí Minh, khác hẳn quan điểm của Đại hội VI (năm 1928) của Quốc tế Cộng sản (Vấn đề này sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần liền sau đây, khi đề cập sự hiểu lầm của Quốc tế Cộng sản và của Đảng Cộng sản Đông Dương đối với Hồ Chí Minh).

Năm: phương pháp cách mạng là dùng phương pháp bạo lực, “đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến”, đánh đổ ách tư bản, làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập.

Sáu: về xây dựng một xã hội mới sau khi cách mạng thành công, văn kiện chỉ rõ: xây dựng một chính phủ công nông binh[29], tổ chức quân đội công nông; về phương diện xã hội thì bảo đảm quyền tự do của nhân dân, bảo đảm nam nữ bình quyền…; về phương diện kinh tế thì áp dụng quốc hữu hoá, đưa lại ruộng đất cho nông dân nghèo, phát triển kinh tế…

Bảy: về quan hệ quốc tế, Cương lĩnh nêu rõ phải “liên kết với những dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới, nhất là với quần chúng vô sản Pháp”[30].

Bảy nội dung cơ bản đó làm thành một thể thống nhất tạo nên một cương lĩnh cách mạng đúng đắn của một đảng Mác – Lênin. Và, xét cả quá trình hoạt động của Hồ Chí Minh kể từ khi ra đi tìm đường cứu nước và đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn với mốc Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội chủ nghĩa Pháp ở thành phố Tua tháng 12 năm 1920 – con đường giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, theo chủ nghĩa Mác – Lênin; xét cả quá trình Hồ Chí Minh truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; xét cả hoạt động của ông khi trực tiếp đứng ra chủ trì thống nhất các tổ chức cộng sản để cho ra đời một Đảng Cộng sản Việt Nam duy nhất, đưa giai cấp công nhân bước lên vũ đài chính trị và nắm chắc vai trò lãnh đạo cách mạng, thì tư tưởng Hồ Chí Minh rất xứng đáng được trở thành một yếu tố không thể tách rời trong một tổ hợp các yếu tố cho sự ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không những là ý kiến của bản thân tôi mà còn của nhiều nhà khoa học Việt Nam gần đây khi nghiên cứu về vấn đề nay.

Dựa vào cách trình bày của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể diễn đạt điều trên đây như sau: Chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào công nhân, phong trào yêu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp với nhau là quy luật hình thành và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việc đưa thêm yếu tố “Tư tưởng Hồ Chí Minh” vào thành một tổ hợp để biểu đạt “quy luật hình thành và phát triển” của Đảng Cộng sản Việt Nam là bởi hai lý do:

Một: Hồ Chí Minh có công lao to lớn đối với toàn bộ quá trình ra đời và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông là người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hai: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua năm 1991 đã chính thức ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động.

Với ý nghĩa đó, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành yếu tố tất yếu — yếu tố thứ tư — cho quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Và, một sơ đồ nữa được nêu là:

Chủ nghĩa Mác – Lê nin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước + Tư tưởng Hồ Chí Minh = Sự hình thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam

Nếu sơ đồ hoá sự phát triển về mặt này thì có thể nêu lại thành ba khối bên dưới. Như vậy là, chúng ta đã có được ba sơ đồ nối nhau biểu thị của quá trình phát triển trong nhận thức về quy luật hình thành và phát triển Đảng Cộng sản, trong đó đặc biệt là đối với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Với sơ đồ đó, nổi lên vai trò cực kỳ to lớn của Hồ Chí Minh. Và, chính đây là mốc nhận thức đầu tiên của cách mạng Việt Nam, của những người cộng sản Việt Nam đối với tư tưởng Hồ Chí Minh.

V.I. LÊNIN: Chủ nghĩa xã hội khoa học + Phong trào công nhân = Sự ra đời của Đảng Cộng sản
HỒ CHÍ MINH: Chủ nghĩa Mác – Lênin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước =
Sự hình thành ĐCS Việt Nam
ĐCS Việt Nam: Chủ nghĩa Mác — Lênin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước + Tư tưởng Hồ Chí Minh = Sự hình thành và phát triển của Đảng

ph¸t triÓn cña §CS ViÖt Nam

II. ”Tình cảnh đau buồn”

Chữ “Tình cảnh đau buồn” là của Hồ Chí Minh dùng để chỉ về chính bản thân mình trong những năm tháng tại Liên Xô 1934 – 1938.

Ngày 6-6-1938, với tên tiếng Nga là Лин (Lin), khi đang làm nghiên cứu sinh tại Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản tại Mátxcơva, Hồ Chí Minh gửi thư cho một đồng chí của mình ở Quốc tế Cộng sản (chắc là cấp trên của ông)[31], nêu rõ:

“Hôm nay là ngày kỷ niệm lần thứ bảy việc tôi bị bắt giữ ở Hồng Công. Đó cũng là ngày mở đầu năm thứ tám tình trạng không hoạt động của tôi. Nhân dịp này, tôi viết thư gửi đồng chí để xin đồng chí giúp đỡ tôi thay đổi tình cảnh đau buồn này.

Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích. Điều tôi muốn đề nghị với đồng chí là đừng để tôi sống quá lâu trong tình trạng không hoạt động và giống như là sống ở bên cạnh, ở bên ngoài của Đảng”[32].

Con người ta khó mà tránh được sự hiểu lầm từ người thân, bạn bè, đồng chí, từ tổ chức. Nhưng, kiểu người ta hiểu lầm về Hồ Chí Minh thì thật là quá sức tưởng tượng. Hồ Chí Minh đã bị Quốc tế Cộng sản hiểu lầm, bị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương hiểu lầm, bị không ít học trò của mình hiểu lầm, hiểu lầm một cách cay đắng và dai dẳng.

Với cương vị là cán bộ của Quốc tế Cộng sản, có hai quãng thời gian tiêu biểu nhất Hồ Chí Minh hoạt động ở Liên Xô, tức là ngay tại trụ sở của Quốc tế Cộng sản: 1. Từ mùa hè năm 1923 đến cuối năm 1924; 2. Từ năm 1934 đến cuối năm 1938.

Thời gian có phần đắc chí nhất của Hồ Chí Minh trong những năm hoạt động ở Quốc tế Cộng sản không dài, từ mùa hè năm 1923 đến cuối năm 1924, tức là thời gian kể từ khi ông tạm biệt các đồng chí của mình ở Đảng Cộng sản Pháp để bí mật đến Liên Xô theo sự điều động, phân công của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản vào hoạt động trong bộ máy của Quốc tế Cộng sản, làm cán bộ của Ban Phương Đông rồi cuối năm 1924 đến hoạt động ở Trung Quốc cũng như một số nước châu Á khác. Thật ra thì, dần dà, với thái độ nhiệt thành và có khi ứng xử, phát biểu hơi gay gắt của Hồ Chí Minh, cho nên đến thời gian cuối năm 1924, Hồ Chí Minh cũng biểu lộ mình là người “không hợp gu” với Quốc tế Cộng sản. Hồ Chí Minh đến Liên Xô vào mùa hè năm 1923. Mãi đến tháng 12-1923, Hồ Chí Minh được chứng nhận tạm thời thuộc biên chế Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản và rồi mãi đến ngày 14-4 năm sau ông mới được Pêtơrốp, Trưởng Ban Phương Đông, ký nhận chính thức làm cán bộ của Ban.

Phải nói là ở Hồ Chí Minh có một tư chất đặc biệt nào đó tương thích với yêu cầu của Quốc tế Cộng sản cho nên mới được Quốc tế Cộng sản chú ý để điều động đến hoạt động ở môi trường rộng lớn hơn, với chức nhiệm của một người giúp cho Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa ở tầm quốc tế chứ không chỉ bó hẹp trong bản thân Đảng Cộng sản Pháp.

Mà quả thật như thế. Sau Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua cuối tháng 12 năm 1920, cùng với hơn 3208 đại biểu bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế Cộng sản (1022 phiếu chống); và sau đó, lúc 2 giờ 30 phút sáng ngày 30-12-1920, cùng với các đại biểu đó tuyên bố thành lập Phân bộ Pháp của Quốc tế Cộng sản (Section Francaise de L’ Internationale Communiste, viết tắt là S.F.I.C.)[33], Hồ Chí Minh càng hoạt động tích cực hơn thúc đẩy mạnh mẽ tạo lập một xu hướng đấu tranh về lý luận, tư tưởng, tổ chức cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc theo con đường cách mạng vô sản.

Trước hết, Hồ Chí Minh dũng cảm và tích cực tố cáo chủ nghĩa thực dân. Bây giờ nhìn nhận lại vấn đề chủ nghĩa thực dân thì nhiều người dễ nhất trí đánh giá rằng, chủ nghĩa thực dân là vết nhơ lớn nhất trong lịch sử nhân loại; nhưng trong những năm đầu thế kỷ XX, nhận thức về vấn đề này không đơn giản. Thực ra, cho đến những năm 20 của thế kỷ XX ở Pháp, người ta vẫn hiểu không đúng vấn đề đó. Dưới con mắt của nhiều người châu Âu, nhất là ở Pháp trong cuối thế kỷ XIX và cả phần lớn thế kỷ XX, nhiều người vẫn coi việc Pháp đưa quân đội và công chức ra nước ngoài, đi xâm lược, chiếm đóng, biến những nước đó thành thuộc địa của mình như là để thực hiện “sứ mệnh khai hoá văn minh”.

Tôi đã cho rằng, bây giờ nhìn nhận lại vấn đề chủ nghĩa thực dân thì nhiều người dễ nhất trí đánh giá rằng, chủ nghĩa thực dân là vết nhơ lớn nhất trong lịch sử nhân loại; nhưng, nhiều người chứ không phải tất cả. Đã có cả đạo luật của Pháp cố tình bênh vực chủ nghĩa thực dân. Tôi viết thêm về vấn đề này một tý ở đây. Ngày 23-2-2005, Quốc hội Pháp, dựa theo Hiến pháp ngày 4-10-1958, đã thông qua dự án luật số 2005 – 158 nói Về việc Quốc gia tri ân những đóng góp cho dân tộc của những người hồi hương. Quốc hội đã biểu quyết không có sửa đổi trong lần trình bày thứ hai, dự án luật đã được Thượng viện điều chỉnh, và tháng 11-2005 lại được Quốc hội xác nhận lại.

Trong đạo luật đó, Điều 4 viết rằng: “Các chương trình nghiên cứu bậc đại học phải đặt sự hiện diện của nước Pháp ở hải ngoại, cụ thể là ở Bắc Phi, vào vị trí xứng đáng. Các chương trình giáo khoa đặc biệt phải thừa nhận vai trò tích cực của sự hiện diện nước Pháp ở hải ngoại, cụ thể là ở Bắc Phi, và đặt lịch sử và sự hy sinh của những chiến binh trong quân đội Pháp trên những lãnh thổ đó vào vị trí cao như nó có quyền được hưởng…”[34].

Vấn đề đặt ra trong Điều 4 của đạo luật trên đây không chỉ liên quan đến tình hình nội bộ nước Pháp, không chỉ liên quan đến các nước ở Bắc Phi, mà còn liên quan đến sự đánh giá đối với chủ nghĩa thực dân nói chung và đối với những cuộc chiến tranh đàn áp phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa Pháp, trong đó có Việt Nam, nói riêng.

Nhiều nhà sử học Pháp và Việt Nam đã lên tiếng phê phán đạo luật này. Ngày 12-12-2005, 19 nhà sử học Pháp và ngày 9-1-2006, 444 nhà sử học Pháp khác đã gửi lời kêu gọi “Tự do cho lịch sử” đến các nhà hoạt động chính trị. Trong Lời kêu gọi, có đoạn viết rằng:

“Xúc động trước sự can thiệp chính trị ngày càng tăng trong việc đánh giá các sự kiện thuộc quá khứ và những thủ tục pháp lý liên quan đến các nhà sử học và nhà tư tưởng, chúng tôi muốn nhắc lại những nguyên tắc sau đây:

Lịch sử không phải là một tôn giáo. Nhà sử học không chấp nhận bất kỳ một tín điều nào, không coi trọng bất cứ sự cấm đoán nào, không biết đến sự kiêng kỵ. Họ có thể làm cho người khác phiền lòng.

Lịch sử không phải là đạo đức. Nhà sử học không có vai trò ca ngợi hay lên án, họ chỉ giải thích.

Lịch sử không bị kẹt vào thời sự. Nhà sử học không gắn lên quá khứ những sơ đồ tư tưởng thời hiện đại và không lồng vào những sự kiện trước kia những cảm xúc của ngày nay.

Lịch sử không phải là ký ức. Nhà sử học, trong thao tác khoa học, thu thập hồi ức của con người, so sánh chúng với nhau, đối chiếu với tư liệu, hiện vật, dấu vết và xây dựng nên sự kiện. Lịch sử coi trọng ký ức, nó không thu nhỏ ký ức.

Lịch sử không phải là một công cụ pháp lý. Trong một quốc gia tự do, sự thật lịch sử không thuộc quyền giải thích của Quốc hội và các cơ quan tư pháp. Đường lối chính trị của Nhà nước, dù có thiện chí đến đâu, cũng không phải là đường lối của lịch sử.

Chính vì vi phạm đến những nguyên tắc đó mà những điều của các luật sau đây – cụ thể là luật ngày 13-7-1990, luật ngày 29-1-2001, luật ngày 21-5-2001, luật ngày 23-2-2005 — đã hạn chế tự do của nhà sử học, đã quy định những điều họ phải nghiên cứu và phải phát hiện nếu không sẽ bị truy tố, đã áp đặt cho họ những phương pháp và ấn định giới hạn. Chúng tôi yêu cầu bãi bỏ những quy định pháp lý không xứng đáng đó đối với một chế độ dân chủ”[35].

Bà Francoise Chandernagor, một luật sư Pháp, đã trả lời phỏng vấn của Tạp chí L’Histoire (Lịch sử) phê phán đạo luật này. Nhà sử học, nhà Việt Nam học người Pháp Alain Ruscio đang là Giám đốc Trung tâm tư liệu về thuộc địa ở Pháp, đã có một bài viết đăng trên báo L’Humanité số ra ngày 3-12-2005 và viết cho Tạp chí Xưa và Nay của Hội sử học Việt Nam bài Chủ nghĩa thực dân: một bộ luật phi lịch sử, những con người vô trách nhiệm. Alain Ruscio cho rằng, nhiều người phẫn nộ trước đạo luật đó, nhưng “nói phẫn nộ hãy còn là nhẹ…Làm sao không phẫn nộ được trước sự tiến công của con quái vật thực dân tiền sử, từ nay đang ngang nhiên câu kết với những chủ đề yêu thích của phái cực hữu? Làm sao không choáng váng khi đọc, dưới ngòi bút của các chính khách, của những nhà trí thức, những lời biện minh muôn thuở cho công cuộc thực dân bằng những con số về số kilômét đường sá, bằng số học sinh tới trường…Bàng hoàng vì những ngôn từ đó, chúng tôi, những người nghiên cứu, đã được đọc hàng ngày, chúng tôi, những chuyên gia, đã được đọc những bài viết trần tình của những kẻ chủ trương mở rộng thuộc địa, từ năm 1885 (Jules Ferry trước Hạ viện) đến năm 1931 (Paul Reynaud ở Vincennes). Theo nghĩa đó, nói cuộc tiến công hiện nay là phản động hoàn toàn không có gì quá đáng; là phản động, theo ngôn từ chính trị, có nghĩa là chủ trương quay trở lại những giá trị của quá khứ”[36].

Còn một số vị sau đây ở Pháp: Claude Liauzu, Giáo sư ưu tú Đại học Denis Diderot Paris 7; Gilbert Maynier, Giáo sư ưu tú Đại học Nacy; Gerard Noiriel, Giám đốc nghiên cứu Trường Cao học Khoa học xã hội EHESS; Frédéric Régent, Giáo sư Đại học Anlilles và Guyane; Trịnh Văn Thảo, Giáo sư Đại học Aix-en-Provence; Lucette Valénsi, Giám đốc nghiên cứu EHESS, đã gửi một bản Kiến nghị lên Quốc hội Pháp nhan đề Chế độ thực dân: không thể có việc giáo dục lịch sử chính thức. Bản Kiến nghị có đoạn viết:

“Phải cấp tốc hủy bỏ luật này, vì:

nó đặt một lịch sử chính thức, đi ngược với tính trung lập của học đường và tôn trọng tự do tư tưởng, là trung tâm của đường lối giáo dục phi tôn giáo,

vì nó chỉ giữ lại “vai trò tích cực” của chế độ thuộc địa, nên đã áp đặt một sự nói dối chính thức về các tội ác, về những vụ thảm sát đôi khi đi đến diệt chủng, về chế độ nô lệ, về chủ nghĩa chủng tộc thừa hưởng của quá khứ, vì nó hợp thức hoá một cộng đồng dân tộc chủ nghĩa, kích thích phản ứng chủ nghĩa cộng đồng của các nhóm này, cũng như ngăn cấm mọi việc của quá khứ.

Các nhà sử học đặc biệt có trách nhiệm trong việc thúc đẩy nghiên cứu và thúc đẩy một nền giáo dục đặt đúng vào vị trí chế độ thuộc địa và di dân, và những hậu quả đa dạng của nó, bằng một việc làm chung, bằng sự tiếp xúc giữa các nhà sử học các xã hội có liên quan, để nhận thức về tính phức tạp của hiện tượng này, cuối cùng, đặt nhiệm vụ giải thích những quá trình hướng tới một thế giới ngày càng thống nhất và càng bị chia rẽ”[37].

Ở Việt Nam, nhiều nhà sử học cũng lên tiếng. Tạp chí Xưa và Nay của Hội sử học Việt Nam đã đưa thông tin và đăng nhiều bài viết của các nhà sử học Pháp cũng như Việt Nam bày tỏ quan điểm không đồng tình với đạo luật đó. Thầy giáo của tôi – Giáo sư Vũ Dương Ninh — đã có một bài viết đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 259, tháng 5-2006, với nhan đề Chủ nghĩa thực dân – hồ sơ chưa khép lại. Giáo sư Vũ Dương Ninh cho rằng, cứ theo đạo luật trên đây của Pháp thì “nghĩa là phải viết lại lịch sử chủ nghĩa thực dân đầy tội ác thành những trang sách ngợi ca, chối bỏ sự thực, lừa dối hậu thế. Các nhà sử học chân chính của nước Pháp đã lên tiếng phản đối. Ngòi bút không thể bẻ cong, lương tri không thể nhuốm bẩn. Hãy để cho lịch sử tự nó nói lên sự thực. Vì thế, chủ nghĩa thực dân, đến hôm nay, hồ sơ chưa khép lại”[38].

Số phận của đạo luật phi lý này thật ngắn ngủi, vì nó bị phản đối rất mạnh. Năm 2006, Tổng thống Pháp Jacques Chirac đã yêu cầu xoá bỏ những câu chữ gây tranh cãi trong đạo luật ngày 23-2-2005 viết về “vai trò tích cực” của chế độ thuộc đại Pháp.

Trên đây là sự phản ứng của nhiều nhà chính trị, nhà hoạt động xã hội trong thời kỳ hiện đại về chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhưng, tôi lại muốn nhấn mạnh thêm những nhận định, đánh giá của chính người đương thời với sự hiện diện cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương lúc đó là Nguyễn Ái Quốc về chủ nghĩa thực dân nói chung và về chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng.

Người trong cuộc Nguyễn Ái Quốc có thái độ như thế nào với chủ nghĩa thực dân? Ông đã dành cả một tác phẩm, đặt tít (đầu đề) là Bản án chế độ thực dân Pháp (năm 1925), chứng tỏ rằng, những ý kiến của ông không hề mất đi tính thời sự. Ông đã kết tội chủ nghĩa thực dân Pháp bằng những chứng cớ, lời lẽ xác thực, đặt cơ sở, nền móng cho những người chân chính hiểu rõ thực chất của chế độ thực dân nói chung và của chủ nghĩa thực dân Pháp nói riêng.

Hồ Chí Minh là người đã tận dụng tất cả mọi diễn đàn có thể tận dụng được để lột trần bản chất của cái gọi là sự “khai hoá văn minh” đó. Sau khi đã trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp do giác ngộ một cách sâu sắc tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh càng tích cực tố cáo chủ nghĩa thực dân.

Sau năm 1920, ông có điều kiện thuận lợi nhất để làm việc này khi trực tiếp đóng góp ý kiến cho Đảng Cộng sản Pháp. Trên diễn đàn của báo L‘ Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp ngày 25-5-1922, ông nêu lên những khó khăn chủ yếu của Đảng Cộng sản Pháp khi giải quyết vấn đề thuộc địa, trong đó có khó khăn do “tình trạng thờ ơ của giai cấp vô sản chính quốc đối với các thuộc địa”, rằng, “tiếc thay, một số đông chiến sĩ vẫn còn tưởng rằng, một thuộc địa chẳng qua chỉ là một xứ dưới đầy cát và trên là mặt trời, vài cây dừa xanh với mấy người khác màu da, thế thôi. Và họ hoàn toàn không để ý gì đến”[39].

Trong quãng thời gian đó, ông phát biểu nhiều lần tại các cuộc sinh hoạt của Đảng Cộng sản Pháp, tại các câu lạc bộ tuyên truyền chống chủ nghĩa thực dân, thức tỉnh cả những người dân thuộc địa vì nhiều lý do đang có mặt tại Pháp. Ông vào các thư viện để đọc, sưu tầm, ghi chép nhiều tài liệu liên quan đến tội ác thực dân do chính những tên thực dân viết rồi tung ra các diễn đàn với cách “gậy ông đập lưng ông”.

Hồ Chí Minh sử dụng các diễn đàn báo chí để đăng những bài báo sắc sảo mà ông lấy số liệu và các thông tin khác từ chính ngay ở Pháp để tố cáo chủ nghĩa thực dân. Tên tác giả Nguyễn Ái Quốc về loại bài này đã xuất hiện nhiều và đều đặn trên các báo La Revue Communiste, Inprecorr, L’ Humanité, Le Paria, La Vie Ouvrière, Le Journal du Peule, Le Libertaire, v.v.

Ông viết báo đại loại có những hình ảnh rất sắc. Chẳng hạn, ông viết: Nền công lý của thực dân Pháp được tượng trưng như một bà đầm, một tay cầm quả cân, một tay cầm thanh kiếm. Vì đường từ Pháp sang Đông Dương xa quá, xa đến nỗi bà đầm công lý sang đến được Đông Dương thì quả cân đã chảy lỏng ra thành thuốc phiện và rượu ty. Bà còn lại độc một cái kiếm và thế là bà tha hồ chém giết những người vô tội.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người và giải phóng con người, mục tiêu cuối cùng và cao cả nhất trong cả cuộc đời của ông, là con ngưòi của cả nhân loại. Ông mô tả tỷ mỉ, cụ thể trong các bài báo của mình về tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp, và ông đau nỗi đau nhân thế. Ông viết đoạn cuối của một bài báo sau khi đã tả về tội ác của bọn thực dân: “Khi chép đến đoạn này, tôi run lên, mắt mờ lệ, nước mắt chảy xuống hoà với mực. Tôi không thể nào viết được nữa. Ôi! nước Pháp đau khổ! Đông Tây đau khổ! Nhân loại đau khổ!”[40]

Có lẽ như vậy và vì như vậy, đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản trong nhiều chuyến công cán tại Pháp đã “phát hiện” ở người thanh niên thư sinh, gầy gò, mảnh khảnh Nguyễn Ái Quốc cái tư chất rất đặc biệt, và chính đó là mẫu hình cán bộ mà Quốc tế Cộng sản đang cần. Bà Clara Xétkin (Clara Zetkin), người nữ cộng sản nổi tiếng của Đức, Uỷ viên Ban Thường vụ Quốc tế Cộng sản, đã được Quốc tế Cộng sản cử sang Pháp dự Đại hội Tua, đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi ý kiến với Nguyễn Ái Quốc, sau đó bà là người luôn theo dõi, để ý đến Nguyễn Ái Quốc[41].

Chắc chắn rằng, việc mùa hè năm 1923 ông bí mật đi một chuyến đi sang Liên Xô, trước hết bằng tàu hỏa từ Pháp sang Đức, rồi sau đó lên tàu Các Lípnếch của Liên Xô tại Đức khởi hành từ cảng Hămbuốc của Đức đi Pêtơrôgát (Xanh Pêtecbua ngày nay) là do sự giới thiệu của cán bộ Quốc tế Cộng sản trên cơ sở thỏa thuận với Đảng Cộng sản Pháp. Với tầm hoạt động và sự năng động của mình, ngay hồi còn ở Pháp, Hồ Chí Minh đã quen biết với rất nhiều người, từ các chính khách, các nhà hoạt động chính trị nổi tiếng, những văn nghệ sĩ có tên tuổi, đến những người ở các thuộc địa, phụ thuộc đang sống và hoạt động tại đấy.

Sự điều động của Quốc tế Cộng sản là có lý và đã tạo cho Hồ Chí Minh một môi trường thuận lợi hơn, tầm rộng hơn để hoạt động. Ngay tại Phiên họp lần thứ 8 của Đại hội V Quốc tế Cộng sản, sáng 23-6-1924, Hồ Chí Minh đã phát biểu có lý về vai trò quan trọng của cách mạng ở nước thuộc địa trong quan hệ với cách mạng ở “chính quốc” rằng: “Tôi phát biểu ở đây để lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: Thuộc địa vẫn đang tồn tại, và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: Cách mạng, ngoài vấn đề tương lai của các thuộc địa, còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song tôi thấy rằng, hình như các đồng chí chưa hoàn toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa…Vì vậy, muốn đánh bại các nước này, trước hết chúng ta phải tước thuộc địa của nó đi”[42].

Quan điểm của Hồ Chí Minh theo đúng quan điểm của Quốc tế Cộng sản, trừ một vài điểm về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa do giai cấp công nhân lãnh đạo với cách mạng vô sản ở “chính quốc”. Mà thực ra, đó cũng là điểm giác ngộ đầu tiên, sâu sắc nhất của Hồ Chí Minh khi tiếp nhận quan điểm của V.I. Lênin khi đọc Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa mùa hè năm 1920.

Quốc tế Cộng sản có quan điểm nhất quán trong việc chú ý chỉ đạo, bênh vực vấn đề dân tộc và thuộc địa. Ngay Đại hội thành lập Quốc tế Cộng sản năm 1919, vấn đề này chiếm chương trình nghị sự quan trọng nhất. Quốc tế Cộng sản khẳng định nhiệm vụ thường xuyên có mối quan hệ chặt chẽ với các cuộc đấu trạnh của giai cấp vô sản ở các nước đế quốc với phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Quan điểm của Quốc tế Cộng sản là: “Quốc tế của giai cấp vô sản sẽ ủng hộ nhân dân bị áp bức ở các thuộc địa trong cuộc đấu tranh của họ chống chủ nghĩa đế quốc, để làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống đế quốc chủ nghĩa thế giới”[43].

Bản Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản năm 1919 khẳng định: “Chỉ có cách mạng vô sản mới có thể bảo đảm cho các dân tộc nhỏ yếu được sống tự do, vì nó giải phóng lực lượng sản xuất của tất cả các nước khỏi sự kìm kẹp của các quốc gia dân tộc…và đem lại cho các dân tộc nhỏ yếu nhất và ít người nhất khả năng quản lý các công việc của nền văn hoá dân tộc mình một cách tự do và độc lập”[44].

Sau khi lên án nghiêm khắc chế độ thực dân, Tuyên ngôn của Quốc tế Cộng sản đã nêu lên sự kết hợp chặt chẽ giữa cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở “chính quốc” với cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa. Quốc tế Cộng sản, trong Tuyên ngôn, nêu một quan điểm mà về sau, Hồ Chí Minh không theo, như sau: “Sự giải phóng các thuộc địa chỉ có thể diễn ra cùng với sự giải phóng giai cấp công nhân ở các “chính quốc”. Công nhân và nông dân không chỉ ở An Nam, Angiêri, Bengan, mà cả Iran và Ácmênia sẽ chỉ nhận được khả năng sống độc lập khi công nhân Anh và Pháp lật đổ Luít Gioócgiơ và Clêmăngxô giành chính quyền nhà nước về tay mình”[45].

Như vậy, Quốc tế Cộng sản coi cách mạng vô sản ở “chính quốc” như là một điều kiện tiên quyết, như là một tiền đề bảo đảm cho cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa thành công. Trong tác phẩm Đường cách mệnh (được viết trong các năm 1925 – 1927), Hồ Chí Minh viết cái điều khác ấy như sau: “Hai thứ cách mệnh đó tuy có khác nhau, vì dân tộc cách mệnh thì chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền. Còn thế giới cách mệnh thì vô sản giai cấp đứng đầu đi trước. Nhưng hai cách mệnh ấy vẫn có quan hệ với nhau. Thí dụ: An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư bản Pháp yếu, tư bản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ. Và nếu công nông Pháp cách mệnh thành công, thì dân tộc An Nam sẽ được tự do”[46].

Thực tế từ bao nhiêu năm nay ở trên thế giới đã minh chứng rõ cho quan điểm của Hồ Chí Minh là đúng đắn.

Nhưng tiếc thay, éo le thay, cuộc sống vốn không đơn giản. Hồ Chí Minh lại bị sa lầy, bị “cầm tù” bởi những quan điểm không đúng, cả hữu khuynh và cả tả khuynh, phần nhiều là tả khuynh, của Quốc tế Cộng sản trên một số vấn đề chủ yếu nhất của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Mãi đến tháng 9-1924, Quốc tế Cộng sản vẫn cứ chần chừ khi cử Hồ Chí Minh đến hoạt động ở Trung Quốc và trở về Đông Dương. Thậm chí, khi cử rồi thì định không cấp tiền cho ông hoạt động, không cử ông với tư cách là cán bộ của Quốc tế Cộng sản mà chỉ với tư cách cá nhân. Sau đó, do can thiệp của đại diện Đảng Cộng sản Pháp, vấn đề trên đây mới được giải quyết ổn thỏa.

Sự hiểu lầm đáng buồn nhất lại là từ các học trò của Hồ Chí Minh, những người mà ông dìu dắt, chọn lựa, đào tạo, bồi dưỡng và cử đi học tập trong cái lò của các trường cách mạng, kể cả ở Quốc tế Cộng sản. Ngay trong năm 1933, tức là 3 năm sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trong tác phẩm viết về Đảng khá sớm ở Việt Nam với nhan đề “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương”, tác giả Hồng Thế Công (tức Hà Huy Tập), người mà sau đó ít năm trở thành Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, đã phê phán Hồ Chí Minh và cho rằng Hồ Chí Minh “đã phạm một loạt sai lầm cơ hội chủ nghĩa…mà chúng ta không thể bỏ qua”[47].

Cũng phải thôi, vì Hà Huy Tập đem những quan điểm của Hồ Chí Minh trong các văn kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 ra để đối chiếu, so sánh với những nội dung, quan điểm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản. So sánh như vậy, thì hèn gì mà không có sự khác nhau.

Hà Huy Tập cho rằng: “Đường lối chính trị của Hội nghị hợp nhất và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đều sai lầm trên nhiều phương diện”. Hà Huy Tập đã “phê phán những sai lầm chủ yếu của Hội nghị hợp nhất và để làm việc này, chúng tôi sẽ đối chiếu từng quan điểm sai lầm đó với những quan điểm chính thức của Quốc tế Cộng sản”.

Hà Huy Tập cho rằng: “Khi nói một cách mơ hồ rằng, cần phải làm cách mạng tư sản dân chủ và cách mạng ruộng đất ở Đông Dương, một mặt Hội nghị đã bỏ quên cách mạng phản đế, mặt khác Hội nghị lại không hiểu rằng cách mạng ruộng đất là cái trục của cách mạng tư sản dân chủ. Một thiếu sót khác về vấn đề này nữa là chưa xác định được rõ sau khi công nông đã cướp chính quyền, thì dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, người ta sẽ thiết lập chuyên chính của giai cấp vô sản và giai cấp nông dân dưới hình thức xôviết. Hội nghị không hiểu rõ quá trình chuyển biến của cách mạng tư sản dân chủ thành cách mạng vô sản, cũng không hiểu rõ rằng công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến hành sau khi đã làm xong cách mạng vô sản vẫn còn chưa thuộc phạm trù của chế độ cộng sản…Hội nghị hợp nhất đã nhận định một cách cơ hội chủ nghĩa cách mạng Việt Nam tách rời cách mạng thế giới nói chung và tách rời cách mạng Đông Dương nói riêng. Sở dĩ sai lầm như vậy là vì đồng chí Nguyễn Ái Quốc và các đại biểu Hội nghị hợp nhất còn mang nặng những tàn tích của chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa dân tộc sô vanh. Những danh từ mà đồng chí Nguyễn Ái Quốc dùng trong lá truyền đơn của mình: “đồng bào…, cách mạng Việt Nam…, nếu chúng ta cứ bỏ mặc cho tất cả giống nòi Việt Nam bị quét sạch, v.v.” chứng tỏ khuynh hướng sai lầm đó đã tồn tại và không thể biện bạch nổi”.

Thực ra, ngay cả những điểm trên đây mà Hà Huy Tập đã thuật lại những quan điểm của Hội nghị hợp nhất cũng không chính xác.

Tiếp nối dòng phê phán những quan điểm của Hồ Chí Minh trong các văn kiện Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, Hà Huy Tập viết: “Cương lĩnh của Hội nghị hợp nhất nhất đề ra vấn đề làm cách mạng điền địa, nhưng không đả động một lời nào đến giai cấp địa chủ. Hội nghị chỉ nói đến việc tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc nhưng không nói gì đến việc tịch thu ruộng đất của địa chủ. Như vậy là cuộc cách mạng ruộng đất mà Hội nghị hợp nhất đề ra chỉ là một cuộc cách mạng bộ phận vì thế nó không có khả năng xoá bỏ các hình thức bóc lột tiền tư bản chủ nghĩa ở nông thôn Đông Dương…Chẳng những Hội nghị hợp nhất không nêu khẩu hiệu đánh đổ giai cấp địa chủ, tịch thu hết thảy ruộng đất của chúng, mà còn nêu ra vấn đề sử dụng, hoặc ít ra cũng trung lập bọn tiểu và trung địa chủ. Như thế là Hội nghị không hiểu rằng cần phải tiêu diệt chúng về mặt giai cấp. Đối với giai cấp tư sản bản xứ, Hội nghị đã bỏ họ vào cùng một bị với bọn địa chủ. Hội nghị cũng nêu ra vấn đề sử dụng hoặc trung lập giai cấp tư sản bản xứ. Đề ra một sách lược như thế có nghĩa là từ bỏ cuộc đấu tranh chống lại ảnh hưởng tai hại của giai cấp tư sản bản xứ trong quần chúng lao động Đông Dương…Đối với phú nông, Hội nghị cũng đề ra vấn đề sử dụng hoặc trung lập…Đối với trí thức và giai cấp tiểu tư sản, Hội nghị cũng nêu ra vấn đề liên minh. Đây cũng là một sách lược sai lầm”.

Đem lý lẽ ra mà phê phán, mà lại trên quan điểm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản thì làm sao mà không át lại được.

Hồ Chí Minh không tranh luận với những ý kiến đó, mà tiếp tục dấn thân vào hoạt động thực tế.

Đến nỗi mà đến năm 1935, ngày 31 tháng 3, nghĩa là sau Đại hội I Đảng Cộng sản Đông Dương và ngay trước Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản, trong Thư của Ban Chỉ huy ở ngoài (của Đảng Cộng sản Đông Dương) khá dài gửi Quốc tế Cộng sản, bên cạnh Hồ Chí Minh được “Ban Chỉ huy ở ngoài và Ban Trung ương của Đảng chỉ định là đại diện của Đảng ở Quốc tế Cộng sản”, còn viết rõ: “ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc tranh đấu công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa duy tâm của đảng của các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản. Cuộc tranh đấu không nhân nhượng chống những học thuyết cơ hội này của đồng chí Quốc và của Đảng Thanh niên là rất cần thiết. Hai Đảng Cộng sản Xiêm và Đông Dương đã viết một quyển sách chống những khuynh hướng này[48]. Chúng tôi đề nghị đồng chí Lin viết một cuốn sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”[49].

Không biết “đồng chí Lin” (tức Hồ Chí Minh) sau đó có viết cuốn sách nào để tự phê bình không. Chắc chắn là không, vì Hồ Chí Minh là con người có bản lĩnh, không dễ gì sai khiến. Hồ Chí Minh kiên trì với những điều mà mình cho là đúng. Mà ở đây không hiểu sao lại “viết sách” để tự phê bình mà không viết bản tự phê bình?

Tại sao Quốc tế Cộng sản và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương hiểu lầm Hồ Chí Minh ? Tôi cho rằng, có mấy điểm chủ yếu nhất sau đây:

Một là: Quan điểm không đúng của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản năm 1928 và ảnh hưởng dai dẳng của nó tới cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa.

Quốc tế Cộng sản là chàng hiệp sĩ của thế kỷ XX. Nó được lập ra năm 1919 do sáng kiến của V.I. Lênin và tự giải tán năm 1943 khi chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn quyết liệt. Quốc tế Cộng sản đã giương cao vai trò thúc đẩy phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên thế giới, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Hàng loạt đảng cộng sản trên thế giới đã ra đời trong thời gian này.

Nhưng, Quốc tế Cộng sản cũng không tránh khỏi những hạn chế, nhất là sau khi V.I. Lênin mất, tính “chỉ huy” càng được bộc lộ một cách đậm nét hơn trong sự tác động của Đảng Cộng sản Liên Xô và của J. Xtalin. Điều này không đáp ứng được sự vận động tích cực, chủ động của các đảng cộng sản trên thế giới, nhất là các nước thuộc địa phương Đông xa trung tâm Mátxcơva.

Quốc tế Cộng sản đã đúng trong việc lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc những năm V.I. Lênin còn sống: lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, quan điểm nêu rõ trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin. Bản Luận cương này được V.I. Lênin viết xong vào tháng 6, 7-1920, đăng trên tạp chí Quốc tế Cộng sản, số 11, ngày 14-7-1920; báo L‘Humanité (Nhân đạo) của Đảng Xã hội Pháp đăng vào tháng 7-1920 và được thảo luận tại Đại hội II Quốc tế Cộng sản họp từ ngày 19-7 đến ngày 7-8-1920 ở Pêtơrôgrát (sau gọi là Lêningrát và nay gọi lại là Санкт Петербург – Xanh Pêtécbua).

Với tư tưởng của V.I. Lênin thể hiện trong Luận cương cũng như các văn kiện của Đại hội II, Quốc tế Cộng sản đã khẳng định sự đoàn kết của giai cấp vô sản và quần chúng lao động ở tất cả các dân tộc trên thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc, thực dân.

Tư tưởng của V.I. Lênin toả sáng là ở chỗ: giai cấp vô sản cũng như Quốc tế Cộng sản “thực sự ngày nay…không những là đại diện cho những người vô sản trong tất cả các nước, mà còn đại diện cho cả những dân tộc bị áp bức”[50]. Do ảnh hưởng trực tiếp của tư tưởng đó, ngay sau Đại hội II của Quốc tế Cộng sản, đã diễn ra Đại hội các dân tộc phương Đông họp từ ngày 1-9-1920 đến ngày 7-9-1920 tại Bacu (Adécbaigian), trong đó có ch­ương trình nghị sự về vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Đại hội Bacu có 1891 đại biểu (trong đó có 1273 đại biểu là đảng viên cộng sản) đại diện cho 37 dân tộc ph­ương Đông tham dự (Cápcadơ, Trung á, Thổ Nhĩ Kỳ, Ápganixtan, Xiri, Trung Quốc, Iran, Triều Tiên, Ấn Độ, Ai Cập, v.v.). Đại hội này đã bàn các vấn đề: ruộng đất; dân tộc và thuộc địa; nhiệm vụ của nhân dân lao động trong các dân tộc phương Đông, v.v. do các tiểu ban nêu lên.

Đại hội Bacu hoàn toàn ủng hộ các nghị quyết của Đại hội II Quốc tế Cộng sản và thông qua các nghị quyết cũng như lời kêu gọi các dân tộc phương Đông đấu tranh chống áp bức. Đồng thời, Đại hội Bacu cũng ra lời kêu gọi nhân dân lao động châu Âu, châu Mỹ, Nhật Bản ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc của các dân tộc phư­ơng Đông.

Đại hội Bacu đã quyết định thành lập Ban Tuyên truyền và hành động của các dân tộc phương Đông với tư­ cách là một cơ quan thư­ờng trực thuộc Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản để tổ chức thực hiện những nghị quyết đã đ­ược Đại hội Bacu thông qua. Đại hội Bacu còn quyết định xuất bản tạp chí “Những dân tộc phương Đông”. Đây là tạp chí ra hàng tháng, song không rõ vì lý do gì, tạp chí này chỉ ra đư­ợc số duy nhất vào tháng 10-1920 tại Bacu bằng các thứ tiếng Nga, Ba Tư­, Thổ Nhĩ Kỳ, Arập. Chính đây là tạp chí lần đầu tiên nêu lên câu “Vô sản tất cả các n­ước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”.

V.I. Lênin đánh giá rất cao ý nghĩa của Đại hội II Quốc tế Cộng sản cũng nh­ư Đại hội Bacu. Tại Hội nghị các chủ tịch Ban chấp hành xôviết huyện, tổng và thôn thuộc tỉnh Mátxcơva ngày 15-10-1920, V.I.Lênin nói: “Đó là những đại hội quốc tế đã đoàn kết những ngư­ời cộng sản và chỉ ra rằng ở tất cả các nước văn minh và ở tất cả các n­ước lạc hậu ở phư­ơng Đông, lá cờ của chủ nghĩa bônsêvích, cương lĩnh của chủ nghĩa bônsêvích, phư­ơng thức hành động của những ng­ười bônsêvích là ngọn cờ giải phóng, ngọn cờ đấu tranh của những người công nhân ở tất cả các nước văn minh, của những ngư­ời nông dân ở tất cả các nư­ớc thuộc địa lạc hậu…Trong suốt ba năm gần đây…chúng ta đã lôi kéo và đang lôi kéo không phải hàng ngày, mà là hàng giờ, những bạn đồng minh mới về phe mình…Những điều mà các đại hội đã nêu lên…là một thành tựu có tầm quan trọng hơn một số thắng lợi về quân sự”[51].

Quốc tế Cộng sản thời V.I. Lênin còn sống đã xác định rõ thái độ của các đảng cộng sản trên thế giới “phải trực tiếp ủng hộ các phong trào cách mạng của những dân tộc phụ thuộc…và thuộc địa”[52] và dưới tư tưởng của V.I. Lênin, Quốc tế Cộng sản đã được vũ trang bằng tư tưởng của ông về trách nhiệm cần “ủng hộ tích cực nhất phong trào giải phóng dân tộc”[53].

Hồ Chí Minh chính là một trong những người nhiệt thành nhất đối với V.I. Lênin, kể cả phương diện quan điểm cũng như sự khâm phục về mặt đạo đức, đời tư của V.I. Lênin. Hồ Chí Minh giác ngộ chủ nghĩa cộng sản cũng chính bắt đầu từ V.I. Lênin, từ Luận cương của V.I. Lênin.

Về sau này nhớ lại, Hồ Chí Minh viết: “Về cảm tính, tôi thấy mình có mối tình đoàn kết với cuộc cách mạng Nga và người lãnh đạo cuộc cách mạng ấy, nhưng tôi chưa hề đọc tác phẩm nào của Lênin…Khi tôi nêu câu hỏi: “Ai khẳng định rõ ràng là mình đoàn kết với các dân tộc bị chủ nghĩa thực dân áp bức?” thì người ta trả lời: Quốc tế thứ ba. Rồi một đồng chí đưa cho tôi đọc Luận cương về các vấn đề thuộc địa và dân tộc của Lênin vừa đăng trên báo Nhân đạo…Từ đó tôi đã có một sự lựa chọn: tán thành Quốc tế thứ ba và hoàn toàn tin theo Lênin”[54].

Cũng tương tự như vậy, tháng 4 năm 1960, trong bài viết cho tạp chí Những vấn đề phương Đông (Liên Xô) nhân Kỷ niệm lần thứ 90 Ngày sinh của V.I. Lênin, Hồ Chí Minh kể lại: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao. Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta””[55].

Trong các trang viết của mình, mỗi khi đề cập V.I. Lênin thì Hồ Chí Minh đều dành cho V.I.Lênin những tình cảm nồng hậu nhất bởi vì trong trái tim Hồ Chí Minh, V.I. Lênin luôn luôn có một vị trí đặc biệt.

Với những quan điểm của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Hồ Chí Minh coi ông là người đặt cơ sở thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa. Luận cương của V.I. Lênin là tiếng nói phê bình nghiêm khắc những thành kiến và sự hiểu biết không đúng của các đảng cộng sản châu Âu đối với các phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định từ năm 1926 rằng: “Chỉ nhờ thái độ khôn khéo của Lênin đối với vấn đề thuộc địa, mới có thể lay động quần chúng chưa giác ngộ, và lạc hậu nhất trong các nước thuộc địa…Đối với tất cả các dân tộc bị áp bức và bị nô dịch, Lênin đã thể hiện một bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời đau khổ và bị mất quyền của họ, là tượng trưng cho một tương lai mới, xán lạn”[56].

Ấy vậy mà chỉ sau có 4 năm thôi, tức là đến Đại hội VI Quốc tế Cộng sản năm 1928, quan điểm của Quốc tế Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộc địa đã lệch sang một phía tả, cực tả.

Thực ra, V.I. Lênin cũng đã lường thấy được nguy cơ của bệnh tả khuynh trong phong trào cộng sản quốc tế. Tác phẩm của V.I.Lênin “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản” đã được ông viết năm 1920 là nhằm đề phòng nguy cơ đó. Tại Đại hội III Quốc tế Cộng sản vào tháng 6 năm 1921, V.I. Lênin tiếp tục phê phán một cách gay gắt bệnh giáo điều tả khuynh. Ông phát biểu: “Nếu Đại hội không tiến hành kiên quyết chống những sai lầm như thế, chống những điều ngu xuẩn “tả” như vậy, thì toàn bộ phong trào sẽ không tránh khỏi tan vỡ. Tôi tin tưởng sâu sắc như vậy”[57].

Đáng tiếc thay, từ khi V.I. Lênin qua đời, nguy cơ tả khuynh không những không được chú ý ngăn chặn mà nó đã trở thành hiện thực trực tiếp đe doạ sự lớn mạnh của phong trào cộng sản quốc tế, điển hình nhất, biểu hiện rõ ràng nhất là ở Đại hội VI Quốc tế Cộng sản năm 1928.

Đại hội VI Quốc tế Cộng sản cuối năm 1928 đánh giá với thiên hướng tả đối với giai cấp tư sản nói chung và đối với giai cấp tư sản dân tộc ở các nước thuộc địa. Cũng có nguyên do của sự đánh giá đó. ấy là vì lúc này, trên thế giới đã có một số sự kiện nói lên sự phản bội của giai cấp tư sản ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, phụ thuộc đối với phong trào cách mạng của công – nông chống đế quốc và phong kiến.

Đó là sự phản bội của Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc bắt đầu vào ngày 3-4-1927 đối với đường lối “Liên Nga, liên cộng, ủng hộ công nông” do Tôn Trung Sơn nêu lên và đã có tác dụng tốt trong cuối những năm 30 thế kỷ XX. Sau ngày đó, hàng loạt các chiến sĩ cộng sản, yêu nước của Trung Quốc cũng như của các dân tộc khác đang hoạt động ở Trung Quốc đã bị khủng bố (Trong khi cơ quan đại diện — Đoàn Cố vấn Bôrôđin của Liên Xô vẫn chưa rút đi). Đường lối Quốc – Cộng hợp tác đã bị Tưởng Giới Thạch rũ bỏ.

Còn ở Ấn Độ, với thuyết Bất bạo động của Găngđi cộng với ảnh hưởng của tình hình quốc tế, nên giai cấp tư sản Ấn Độ bị nhìn nhận, bị đánh giá một cách phiến diện, không thấy được tính tích cực của nó trong phong trào giải phóng dân tộc ở đây.

Phong trào cộng sản ở các nước, theo tinh thần của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, đã có những biểu hiện tả khuynh nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, chủ quan về đánh giá lực lượng cách mạng ở các nước thuộc địa, đánh giá sai tương quan lực lượng các giai cấp. Chủ quan đến mức là nhiều đảng cộng sản cho rằng, “châu Âu ngày mai sẽ là châu Âu xã hội chủ nghĩa”. Họ không chú trọng lắm đến lập mặt trận dân tộc thống nhất để không những đoàn kết, tập hợp công nông, mà còn tập hợp các giai cấp, tầng lớp khác chống chủ nghĩa đế quốc.

Một sai lầm nghiêm trọng nữa của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản cuối năm 1928 là cho rằng, các đảng Dân chủ Xã hội cùng toàn bộ Phong trào Xã hội dân chủ là “chỗ dựa chính của chủ nghĩa đế quốc trong việc thống trị giai cấp công nhân”, là kẻ tòng phạm, là “anh em sinh đôi” của chủ nghĩa phátxít. Họ say sưa hướng lực lượng cách mạng vào cuộc đấu tranh “giai cấp chống giai cấp”[58], chống giai cấp tư sản và chống cả lực lượng và trào lưu xã hội dân chủ.

Đó là chưa kể một điều tệ hại nữa là Đại hội VI Quốc tế Cộng sản cuối năm 1928 còn xác định nhiệm vụ chống cả các thế lực tôn giáo, cho vào một rọ/gắn liền với các nhiệm vụ chống chủ nghĩa đế quốc, phong kiến và tư sản bản xứ. Thật quá tả, hết sức quá tả. Chống đế quốc, chống phong kiến, chống tư sản, chống tôn giáo, chống lực lượng xã hội dân chủ. Chống tất. Chỉ độc có có công nông là cách mạng mà thôi. Quá biệt phái. Như vậy, chẳng khác gì Đại hội VI đưa ra một thông điệp rằng, chỉ có những người cộng sản trên thế giới, nhất là ở các nước thuộc địa, mới là người tiến bộ, còn các lực lượng khác là phản tiến bộ.

Đại hội VI Quốc tế Cộng sản hừng hực khí thế xông lên, tưởng là cách mạng, nhưng kỳ thực không phải vậy. Tả khuynh thì chỉ gặt hái thất bại mà thôi, không chóng thì chầy. Từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây trong lịch sử đã minh chứng rõ điều đó.

Điều này có căn nguyên của nó do quá trình bônsêvích hoá các đảng cộng sản trên thế giới kéo dài để gột rửa những ảnh hưởng của chủ nghĩa cơ hội, cải lương từ Quốc tế II. Một loạt các đảng cộng sản ra đời vốn là từ hợp nhất với các đảng xã hội hoặc đảng dân chủ-xã hội. Quốc tế Cộng sản ở Đại hội VI lo lắng cho tình hình các đảng cộng sản ở các nước thuộc địa phương Đông bị chịu ảnh hưởng nhiều từ các tàn tích của chế độ phong kiến, lo rằng các đảng đó có thể dễ thoả hiệp với giai cấp tư sản dân tộc. Đó là cái lo của một người bề trên, nhưng là người bề trên ở xa, quan liêu, và tự cho mình cái quyền bắt cấp dưới phải vâng lời, bất chấp tình hình thực tế cụ thể của đảng đó, dân tộc đó.

Thứ nữa, Quốc tế Cộng sản tại Đại hội VI đã “chọn mẫu” không phù hợp để khái quát chung tình hình các phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Quốc tế Cộng sản đã chọn Trung Quốc và Ấn Độ làm mẫu để khái quát đánh giá cũng như đề ra chiến lược, sách lược cho hoạt động của các đảng cộng sản ở các nước thuộc địa khác.

Xứ Đông Dương và Việt Nam khác, khác lắm so với thuộc địa Ấn Độ của Anh và nửa thuộc địa ở Trung Quốc.

Hèn gì mà Đại hội VI Quốc tế Cộng sản đã đánh giá các giai tầng ở thuộc địa cực đoan, cứng nhắc và tả khuynh như vậy. Ngay từ năm 1924, tức là trước đó 4 năm so với năm 1928 là năm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng, cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam không diễn ra giống như ở phương Tây; rằng, những địa chủ ở đây “chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ”[59], “địa chủ (ở Việt Nam – MQT) cũng không có vốn liếng gì lớn…đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa”[60], “An Nam chưa bao giờ có tăng lữ và thuế mười phần trăm. Hoàng đế trị vì nhưng chẳng lo cai trị gì. Tất nhiên là đã có quan lại rồi. Nhưng có thể so sánh họ với chúa phong kiến không? Không. Trước hết quan lại được tuyển lựa theo con đường dân chủ: con đường thi cử, mở rộng cho mọi người và mọi người có thể chuẩn bị thi mà chẳng tốn kém gì. Hơn nữa, quyền lực của quan lại được cân bằng bằng tính tự trị của xã thôn. Xã hội Ấn Độ – China – và tôi có thể nói: Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây (tức là như ở phương Tây – MQT)”[61].

Trung Quốc và Ấn Độ mà đã khác với phương Tây thì Việt Nam lại càng khác phương Tây và khác ngay cả với tình hình của nước láng giềng Trung Quốc và với Ấn Độ.

Việc phân hoá xã hội ở Việt Nam diễn ra không nhanh và sâu sắc như ở các nước đó, và thái độ chính trị, do những điều kiện, đặc điểm của xã hội thực dân-phong kiến có khác, do vậy, thái độ xử lý của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam không thể giống với cả Trung Quốc, Ấn Độ và lại càng không giống với phương Tây. Đó là điều không lạ. Hồ Chí Minh đã nói trước rồi. Nhưng Quốc tế Cộng sản không nghe.

Do tình hình trên, nên ngày 1-9-1928, trong Báo cáo được đọc tại Đại hội VI Quốc tế Cộng sản mang tên Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, Quốc tế Cộng sản đã đưa ra quan điểm đánh giá về thái độ chính trị của các giai cấp một cách không đúng.

Chẳng hạn, đối với giai cấp tư sản dân tộc, Quốc tế Cộng sản cho rằng:

1. Giai cấp tư sản dân tộc một mặt có liên hệ với bọn đại địa chủ, mặt khác lại liên hệ với tư bản nước ngoài nên giai cấp tư sản dân tộc thuộc về phe phản cách mạng;

2. Giai cấp địa chủ, dù bất kỳ loại nào, nghĩa là từ đại địa chủ cho đến tiểu địa chủ, đều phải đánh đổ vì điều này phục tùng quan điểm xoá bỏ các quan hệ tiền tư bản;

3. Lực lượng trí thức và tiểu tư sản không phải là lực lượng liên minh với giai cấp vô sản vì họ là đại biểu kiên quyết nhất không những cho lợi ích riêng của giai cấp tiểu tư sản mà cả cho lợi ích của giai cấp tư sản, chỉ có một số ít thoát ly khỏi giai cấp họ, nhận thức được nhiệm vụ đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản và trở thành những người bảo vệ tích cực lợi ích giai cấp vô sản.

Đại hội VI Quốc tế Cộng sản đưa ra khẳng định rằng: “Không giải phóng quần chúng lao động khỏi ảnh hưởng của giai cấp tư sản và chủ nghĩa dân tộc cải lương, thì không thể đạt được mục tiêu chiến lược cơ bản của phong trào cộng sản trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản: vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản”[62].

Người đọc báo cáo chính tại Đại hội VI Quốc tế Cộng sản là Đimitơri Dakhailôvích Manuinxki, lúc ấy là Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, và về sau 30 năm liền là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Sau này, chính bản thân Đ.D. Manuinxki cũng đã tự phê bình và tự nhận thấy sai lầm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản về vấn đề chỉ đạo cách mạng cho các đảng cộng sản ở các nước thuộc địa và phụ thuộc.

Phải nói rằng, với lỗi này, từ quan điểm gốc này của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, dẫn đến về sau đó là hàng loạt chỉ đạo cụ thể đối với cách mạng ở Đông Dương không phù hợp và cách mạng ở Đông Dương đã chịu hậu quả không tốt.

Văn kiện đầu tiên, ngay sau đó mà Quốc tế Cộng sản chỉ đạo cho cách mạng Việt Nam là Nghị quyết về Đông Dương ra tháng 12-1929. Chắc chắn rằng, những hiểu biết của Quốc tế Cộng sản về Đông Dương lúc đó không có được cơ sở thực tế chắc chắn, hơn nữa lại được thông qua tin tức của các học viên Việt Nam tại Trường Đại học Cộng sản phương Đông – những hạt giống mà Hồ Chí Minh và Quốc tế Cộng sản ươm tại Mátxcơva, hy vọng đó là những hạt giống quý để tung về nước bùng nở các phong trào cách mạng theo đường lối cách mạng vô sản. Quốc tế Cộng sản đã hướng cho việc thành lập ở Đông Dương một đảng cộng sản duy nhất trên cơ sở tập hợp hết thảy những phần tử tiên tiến nhất, cách mạng và tích cực nhất trong tất cả các nhóm cộng sản với một cương lĩnh hành động minh bạch phù hợp với đường lối chung của Quốc tế Cộng sản.

Nghị quyết về Đông Dương của Quốc tế Cộng sản cuối năm 1929 lại là sự liền mạch và là sự triển khai một cách chặt chẽ, cụ thể nhất những quan điểm của Đại hội VI trước đó 1 năm. Nghị quyết chỉ rõ: phải “tịch thu không bồi thường ruộng đất của địa chủ” (toàn bộ địa chủ); giữ nguyên thái độ đối xử với giai cấp tư sản dân tộc: “Giai cấp tư sản bản xứ, nói chung là yếu ớt, gắn liền với sở hữu ruộng đất và giai cấp địa chủ; mặt khác họ chịu ảnh hưởng của giai cấp tư sản Tàu cùng lập trường phản cách mạng của giai cấp đó. Một bộ phận của giai cấp tư sản hiện nay đã hợp tác với chủ nghĩa đế quốc Pháp. Một bộ phận khác đang tìm cách thoả hiệp với họ. Điều rõ ràng là giai cấp tư sản, trong toàn bộ của họ, không thể nào vượt quá giới hạn của chủ nghĩa quốc gia cải lương và với đà phát triển của cách mạng ruộng đất, nhất định họ sẽ nhảy qua hàng ngũ phản cách mạng. Tuy nhiên, điều đó không gạt bỏ khả năng là một vài tầng lớp của giai cấp tư sản có mưu đồ muốn đứng ra lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Nhưng mục đích của họ là nhằm phá hoại phong trào, phá hoại cách mạng. Chính yếu tố này sẽ quyết định lập trường của chúng ta đối với giai cấp tư sản”[63].

Còn đối với phú nông thì Quốc tế Cộng sản, trong Nghị quyết của mình, ngày 28-5-1931, nêu chủ trương: “Chủ nghĩa đế quốc Pháp tìm mọi cách lôi kéo phú nông vào mặt trận phản cách mạng bằng cách hứa hẹn những điều cải cách có lợi cho họ (xét lại luật lệ về công điền và thuế khoá, tín dụng, v.v.); tuy vậy, trong đám phú nông ở các tỉnh và nhất là ở Nam Kỳ, còn xuất hiện những khuynh hướng chống lại chủ nghĩa đế quốc Pháp do nạn cướp đất, thuế nặng, v.v. đẻ ra. Giai cấp vô sản…không bao giờ được liên minh với họ”[64].

Đối với giai cấp tiểu tư sản, tầng lớp trí thức, Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản năm 1929 cho rằng: họ cũng thuộc vào bộ phận nghèo, như thợ thủ công không thuê mướn nhân công, thương nhân, hàng rong, tiểu trí thức thất nghiệp, “tuy vậy, không nên cường điệu khuynh hướng cách mạng của giai cấp tiểu tư sản thành thị, lại càng không nên xem những phần tử ít cách mạng nhất, tầng lớp tiểu thương, như là động lực của cách mạng”[65].

Như vậy, với quan điểm của Đại hội VI năm 1928 và quan điểm của Nghị quyết về Đông Dương cuối năm 1929, Quốc tế Cộng sản, trừ hai giai cấp công nhân và nông dân ra, đã gạt sạch tất cả các giai cấp, tầng lớp còn lại của một xã hội thuộc địa, phong kiến ra ngoài vòng các lực lượng cần tập hợp. Đã thế, trong Nghị quyết về Đông Dương, Quốc tế Cộng sản đưa ra một lời cảnh báo, chặn trước rằng: Quốc tế Cộng sản “Chỉ có thể thừa nhận là tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương…chỉ những tổ chức và nhóm hoàn toàn chấp nhận những quyết định của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản”[66].

Hai là: hành động “lội ngược dòng” của Hồ Chí Minh

Ngay trong khoảng một năm rưỡi (từ giữa năm 1923 đến cuối năm 1924) khi hoạt động trong Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh có dịp học tập một thời gian ngắn ở Trường Đại học Cộng sản Phương Đông và tham gia Đại hội V và một loạt hội nghị của các tổ chức Quốc tế Cộng sản.

Chính từ trong môi trường hoạt động này, Hồ Chí Minh có cái nhìn toàn diện hơn, sâu hơn về chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa Lênin. Và, ngay từ những năm này, Hồ Chí Minh đã có một thiên hướng tiếp thu sáng tạo chủ nghĩa Mác.  Trong cuốn sách Hồ Chí Minh, những bài viết 1914 – 1969 do Alain Ruscio biên soạn, xuất bản ở Pari năm 1990, từ trang 69 đến trang 74, có in bài của Hồ Chí Minh viết năm 1924 ở Mátxcơva nhan đề Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995 đã in lại bài này vào phần phụ lục, từ trang 464 đến trang 469. Hiện tại, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã sưu tầm được toàn văn tài liệu này và dự định bổ sung chính thức, toàn văn đầy đủ tài liệu này vào Hồ Chí Minh Toàn tập).

Trong bản Báo cáo đó, Hồ Chí Minh cho rằng: “Cuộc đấu tranh giai cấp (ở phương Đông – MQT) không diễn ra giống như ở phương Tây… Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông… Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho người cu li biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc dục thanh niên bãi khoá, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917”[67].

Cũng trong bản báo cáo trên, Hồ Chí Minh chỉ ra phương hướng chung là: “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản”[68], đồng thời đánh giá đó là “một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ xôviết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế. Trong khi chờ đợi, chủ nghĩa dân tộc sẽ quấy rối chủ nghĩa đế quốc Pháp và bằng việc làm này, Quốc tế cộng sản sẽ được lợi trực tiếp”[69].

Quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh cho chúng ta hiểu rõ thêm bốn vấn đề sau đây:

Một: Ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã có một thiên hướng tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo.

Đây là một vấn đề nhất quán trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Thật ra, việc tiếp thụ và vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin cũng là tuân thủ sự chỉ dẫn của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin.

C. Mác và Ph. Ăngghen nói rõ rằng, học thuyết của các ông không phải là một giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động. Còn V.I. Lênin thì khẳng định rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng, những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt là cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng những nguyên lý ấy thì, xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga”[70].

Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời ở phương Tây, nó đề cập những nguyên lý chung cho cách mạng vô sản trên thế giới trên cơ sở chủ yếu từ mảnh đất hiện thực ở châu Âu. Đã vậy, V.I. Lênin còn nhắc nhở những người xã hội chủ nghĩa ở nước Nga rằng, khi áp dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác, cần chú ý những đặc điểm khác nhau giữa các nước châu Âu. Đối với phương Đông, càng phải chú ý vận dụng sáng tạo. Hồ Chí Minh là người tắm mình trong phong trào cách mạng thế giới, do vậy có một lợi thế trong tư duy phân tích và so sánh nên càng thấm thía hơn vấn đề đó.

Hai: Hồ Chí Minh đánh giá cao chủ nghĩa dân tộc

ở vào hoàn cảnh của một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nổi lên trên hết và trước hết là yêu cầu giải phóng dân tộc. Yêu cầu này là cấp bách, nó bao trùm lên xã hội Việt Nam. Hơn nữa, cơ sở kinh tế-xã hội Việt Nam lạc hậu, xã hội chưa đạt tới sự phân tầng, phân hoá một cách sâu sắc như ở đại đa số các nước ở châu Âu. Do vậy, Hồ Chí Minh đã coi chủ nghĩa dân tộc là “động lực vĩ đại”, “động lực lớn của đất nước” và chính sách phát động chủ nghĩa dân tộc là “một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời”.

Về vấn đề chủ nghĩa dân tộc, Tôn Trung Sơn – lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Tân Hợi (năm 1911) của Trung Quốc, người đề ra thuyết tam dân – đã đề cập trong các bài giảng của mình năm 1924 — đã phân tích kỹ tình hình Trung Quốc và cũng đã đề cao chủ nghĩa dân tộc. Tôn Trung Sơn muốn từ “chủ nghĩa tông tộc” và “chủ nghĩa gia tộc” là những ý thức thiêng liêng của người Trung Quốc để hướng tới chủ nghĩa quốc tộc (tức là chủ nghĩa dân tộc).

Theo Tôn Trung Sơn, “người Trung Quốc nói chung chỉ có chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc, không có chủ nghĩa quốc tộc. Đối với gia tộc và tông tộc, người Trung Quốc có sức liên kết vô cùng mạnh. Để bảo vệ tông tộc, người Trung Quốc không tiếc hy sinh tính mệnh của mình. Chẳng hạn như hai họ ở Quảng Đông đánh nhau, người hai họ hy sinh không biết bao nhiêu tính mạng tài sản, vẫn không chịu thôi. Đó là do quan niệm thân tộc quá sâu. Vì thứ chủ nghĩa này ăn sâu vào lòng người, do đó người ta có thể vì nó mà hy sinh. Còn đối với quốc gia, trước nay người ta chưa hề có một lần hy sinh với tinh thần cực lớn, do đó sức đoàn kết của người Trung Quốc chỉ có thể đạt đến tông tộc, chưa mở rộng được tới quốc tộc”[71]. Tôn Trung Sơn muốn từ đó xây dựng chủ nghĩa dân tộc ở Trung Quốc trên cơ sở tình đoàn kết các dòng họ.

Ở Việt Nam có khác so với Trung Quốc, chủ nghĩa dân tộc không phải là nấc thang phát triển từ chủ nghĩa gia tộc và chủ nghĩa tông tộc mà là từ yêu cầu bức xúc giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại bang. Trong lịch sử dân tộc, chủ nghĩa dân tộc đã có từ lâu, và hơn nữa, nó là một trong hai yếu tố cơ bản cho quá trình hình thành dân tộc Việt Nam khác với châu Âu.

Chính chủ nghĩa dân tộc này đã trở thành dòng truyền thống truyền từ đời này sang đời khác và cứ mỗi lần truyền nó lại được phát huy thêm. Chính chủ nghĩa dân tộc này là sức hút mầu nhiệm tất cả các cộng đồng dân cư, các giai cấp, các  tầng lớp đứng cùng một trận tuyến chống kẻ thù chung nhằm giải phóng dân tộc, tuy họ còn có những mâu thuẫn. Như vậy, Hồ Chí Minh đã tìm thấy cái điểm tương đồng, mẫu số chung lớn nhất của các giai tầng là độc lập cho dân tộc. ở Việt Nam, nước mất thì nhà tan, hay như Trần Hưng Đạo nói với tướng sĩ, với quý tộc của Nhà Trần: nếu nước mất “thì chẳng những thái ấp của ta không còn mà bổng lộc của các ngươi cũng mất”.

Ba: chủ nghĩa dân tộc gắn liền với chủ nghĩa cộng sản.

Hiện nay, mặc dù đất nước ta đang trải nghiệm trong những năm đổi mới rồi mà vẫn có người ngại ngần khi nêu rõ hoặc nhấn mạnh vấn đề chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Hồ Chí Minh. Có thể vẫn có cái vòng kim cô, sợ bị truy chụp về quan điểm. Năm 1924, khi nêu vấn đề này mà Hồ Chí Minh còn không sợ nữa là. Có gì lạ đâu và có gì ngại đâu về vấn đề này khi lịch sử thế giới vài thập niên trở lại đây đã chứng minh rất rõ vấn đề dân tộc. Đằng này, Hồ Chí Minh không đề cập chủ nghĩa dân tộc chung chung mà nó nằm trong dòng chủ lưu, hợp với xu thế của thời đại, đó là xu thế tiến lên chủ nghĩa cộng sản.

Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc là nấc thang để tiến tới chủ nghĩa cộng sản. Theo đó, chúng ta cần hiểu chủ nghĩa dân tộc đó có định hướng cho sự phát triển tiến bộ của xã hội, không phải thứ chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Trong chế độ phong kiến Việt Nam, chủ nghĩa dân tộc đã phát huy tác dụng và đã thành công, khi thành công thì nó dẫn đến hoặc là triều đại phong kiến này thay thế cho triều đaị phong kiến khác hoặc là lại nẩy sinh chủ nghĩa dân tộc sô vanh và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

Quan điểm về chủ nghĩa dân tộc của Hồ Chí Minh không có gì chung với cái đó. Chính trên điểm này mà một số người đã hiểu lầm Hồ Chí Minh, hiểu lầm một cách dai dẳng và cay nghiệt. Chẳng hạn, một số người đã cho rằng, Hồ Chí Minh là người dân tộc chủ nghĩa, quốc gia cải lương. Xin nhấn mạnh lại một lần nữa rằng, chủ nghĩa dân tộc tiến tới chủ nghĩa cộng sản, đó là quan điểm độc đáo của Hồ Chí Minh so với học thuyết Mác – Lênin và là quan điểm đúng đắn đối với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Với quan điểm chủ nghĩa dân tộc gắn liền hoặc đi tới chủ nghĩa cộng sản, Hồ Chí Minh là người tiên phong trong việc củng cố và bổ sung chủ nghĩa Mác – Lê-nin “bằng dân tộc học phương Đông”, bổ sung và làm giàu thêm học thuyết Mác – Lênin. Từ trong bản chất của sự phát triển, tất cả các học thuyết chính trị nói chung, kể cả học thuyết Mác – Lênin, đều rất cần đến sự bổ sung, phát triển. Chính bản thân Hồ Chí Minh là người sống trong lòng các sự kiện vận động cách mạng của thế giới, chịu khó xem xét, tổng kết thực tiễn, do vậy, ông chính là một người bổ sung nhiều nhất cho chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, điều mà V.I. Lênin, đặc biệt là C. Mác và Ph. Ăngghen, chưa thể hoặc chưa có điều kiện hiểu sâu.

Với phong cách và bản lĩnh đó, cộng thêm thời gian Hồ Chí Minh  hoạt động ở Trung Quốc, chuẩn bị cả về tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của chính đảng cách mạng Mác – Lênin ở Việt Nam bằng cách tại Quảng Châu lập ra tổ chức Việt Nam Cách mệnh Thanh niên, đưa thanh niên yêu nước Việt Nam sang đào tạo, huấn luyện; cộng thêm thời gian ông hoạt động ở Xiêm (Thái Lan), v.v. đã hình thành ở ông những đường hướng, quan điểm nhất quán về cách mạng Việt Nam mà khác với tinh thần của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản năm 1928.

Một điều cần khẳng định là không phải Hồ Chí Minh không hay biết gì về những quan điểm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, mặc dù cuối năm 1928 ông không có mặt tại Mátxcơva. Tháng 4-1927, quân Tưởng Giới Thạch làm đảo chính chống lại đường lối tiến bộ của Quốc dân Đảng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo “Liên Nga, dung cộng, ủng hộ công nông”, quay ra đàn áp những người yêu nước, cách mạng, trong đó có những người Việt Nam đang hoạt động ở Trung Quốc.

Lúc này, Hồ Chí Minh đang hoạt động ở Quảng Châu (Trung Quốc) nhằm chuẩn bị cả về tư tưởng và tổ chức, chủ yếu là huấn luyện, đào tạo cán bộ được tuyển lựa từ trong nước sang, tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức tiến bộ của Trung Quốc cho các hoạt động của những người Việt Nam yêu nước ngay tại đất Trung Quốc lúc ấy, đồng thời có thể giúp cách mạng Việt Nam về lâu dài. Đầu tháng 5-1927, do có người báo tin, Hồ Chí Minh đã kịp thời thoát khỏi sự lùng bắt của quân Tưởng Giới Thạch, đến Hồng Công, rồi Thượng Hải, từ đó đáp tàu từ Thượng Hải đi Vlađivaxtốc (vùng Viễn Đông của Liên Xô, gần Trung Quốc). Từ Vlađivaxtốc, ông trở lại Mátxcơva.

Tháng 11-1927, Hồ Chí Minh được Quốc tế Cộng sản cử sang Pháp công tác. Mới ở Pháp một thời gian ngắn, chưa kịp hoạt động gì nhiều, theo sự phân công của Quốc tế Cộng sản, ông đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn chống đế quốc từ ngày 9-12-1927 đến ngày 12-12-1927 tại Brúcxen (thủ đô nước Bỉ). Sau cuộc họp tại Bỉ, Hồ Chí Minh đến Đức và trong một bức thư gửi Quốc tế Cộng sản, ông tiếp tục hối thúc Quốc tế Cộng sản cho mình được phép trở về Đông Dương.

Theo nguyện vọng từ lâu của Hồ Chí Minh, Quốc tế Cộng sản, trong một Quyết định ngày 25-4-1928, đã đồng ý cho phép ông trở về Đông Dương. Từ Đức, đầu tháng 6-1927, Hồ Chí Minh qua Thụy Sĩ rồi sang Italia. Đến cuối tháng 6-1927, Hồ Chí Minh từ cảng Napôli của Italia đáp tàu của Nhật Bản đi Xiêm (từ năm 1939 gọi là Thái Lan). Đến Xri Lanca, sau khi dừng ở đó ít ngày, Hồ Chí Minh lên một tàu khác đi tiếp đến Xiêm. Như vậy là suốt từ tháng 6-1927 cho đến tháng 11 năm 1929, Hồ Chí Minh có mặt tại Đông bắc Xiêm. Và cũng chính trong thời gian này, ở trong nước, ngày 10-10-1929, Hồ Chí Minh bị Toà án Nam Triều tại Vinh (Nghệ An) xử vắng mặt và tuyên án tử hình cùng 6 người khác.

Là một cán bộ của Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, dù đã xa Mátxcơva mấy năm, dù điều kiện thông tin lúc đó còn hạn chế, nhưng Hồ Chí Minh biết chắc tất cả những gì diễn ra ở Quốc tế Cộng sản và tình hình Đông Dương. Hồ Chí Minh là phóng viên của nhiều tòa báo, những tin tức cơ bản vẫn đến với ông.

Biết, nhưng vẫn làm khác với những quan điểm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản. Hồ Chí Minh có ý không thực hiện nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, nghĩa là buộc phải làm sai cái nguyên tắc tối thiểu của một thành viên của một tổ chức cộng sản mà chính sau này ông luôn nhấn mạnh phải tuân theo khi vận dụng nguyên tắc xây dựng đảng kiểu mới của giai cấp vô sản do V.I. Lênin nêu ra.

Hồ Chí Minh sẵn sàng chịu trận của cái cách lội ngược dòng. Hồ Chí Minh bình tĩnh chấp nhận đi vào cơn bão. Hồ Chí Minh tự tin là mình đúng và kiên trì bảo vệ cái đúng theo cách riêng của ông. Và, tuyệt vời thay, và may thay, về sau này, cuối cùng Hồ Chí Minh đã sống, sống với cả nghĩa đen, và quan điểm của Hồ Chí Minh đã được thực tế chứng minh là hoàn toàn đúng đắn. Đó chính là bản lĩnh chính trị của nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp và nhà văn hoá kiệt xuất Hồ Chí Minh.

Một bản Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ năm 1924 chưa là gì cả và chưa có động chạm, chưa có tiếng vang trong đời sống của Quốc tế Cộng sản cuối những năm 20 của thế kỷ XX.

Sóng gió chỉ thực sự bắt đầu khi Hồ Chí Minh đưa ra các văn kiện cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian Hội nghị hợp nhất hai tổ chức cộng sản là Đông Dương cộng sản đảng và An Nam cộng sản đảng, bắt đầu từ ngày 6-1-1930 tại Hồng Công. Trong các văn kiện đó, Hồ Chí Minh đã đưa tất cả các giai cấp, tầng lớp vốn đã bị quan niệm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản gạt ra ngoài, vào một đội quân cách mạng do giai cấp công nhân lãnh đạo.

Giai cấp tư sản dân tộc ở các nước thuộc địa, dưới quan điểm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản thì đó là đối tượng cần phải đánh đổ của cách mạng dân tộc do giai cấp vô sản lãnh đạo, thì trong cương lĩnh đầu năm 1930, Hồ Chí Minh lại “cãi” rằng: “Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bản Pháp hết sức ngăn trở sức sinh sản làm cho công nghệ bản xứ không thể mở mang được. Còn về nông nghệ một ngày một tập trung đã phát sinh ra lắm khủng hoảng, nông dân thất nghiệp nhiều. Vậy tư bản bản xứ không có thế lực gì, ta không nên nói cho họ đi về phe đế quốc được”[72]; “Đảng tập hợp và lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung”[73].

Toàn bộ giai cấp địa chủ ở các nước thuộc địa, theo Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, là giai cấp phải đánh đổ, thì trong cương lĩnh, Hồ Chí Minh lại khẳng định: “Chỉ bọn đại địa chủ mới có thế lực và đứng hẳn về phe đế quốc chủ nghĩa”[74]; “Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ trung lập”[75].

Đối với tiểu tư sản, trí thức ở các nước thuộc địa, trong khi Đại hội VI Quốc tế Cộng sản ngăn rằng, không được liên minh với họ, chỉ một số ít trong họ thoát khỏi sự ảnh hưởng từ giai cấp của họ đứng về phía cách mạng mà thôi, thì trong cương lĩnh, Hồ Chí Minh lại khẳng định: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức…để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”[76].

Đã thế, cách thành lập đảng cộng sản của Hồ Chí Minh không theo đúng tinh thần chỉ đạo từ xa của Quốc tế Cộng sản, khi Quốc tế Cộng sản chủ trương thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương thì Hồ Chí Minh lại thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông giữ quan điểm này một cách kiên trì trên tinh thần thực hiện quyền dân tộc tự quyết mà V.I. Lênin đã nêu ra. Có lúc ông chịu lùi. Chỉ mấy tháng sau khi hợp nhất các tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị tháng 10-1930 do Trần Phú chủ trì, đã thực hiện chủ trương của Quốc tế Cộng sản, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhưng, đến tháng 2 năm 1951, tại Đại hội II ở Tuyên Quang, ông lại chủ trương lập lại Đảng Cộng sản ở Việt Nam riêng (Đảng Lao động Việt Nam), còn ở Lào và Campuchia sẽ lập các đảng riêng.

Một điều mà Hồ Chí Minh khác với Quốc tế Cộng sản nữa là ông chủ trương thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam thành một đảng cộng sản duy nhất, trong khi đó chủ trương của Quốc tế Cộng sản cho rằng, thành phần của các tổ chức cộng sản ở Đông Dương năm 1929 rất phức tạp, do đó phải cải thiện thành phần xã hội của Đảng, phải lựa chọn những phần tử ưu tú nhất trong các tổ chức cộng sản đó để thành lập Đảng chứ không thể hợp nhất tất cả các đảng viên sẵn có của các đảng được. Hồ Chí Minh không làm theo ý trên vì có hoàn cảnh của nó.

Có thể là:

1. Hồ Chí Minh chưa nhận được ý kiến chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản ghi trong Nghị quyết về Đông Dương cuối năm 1929.

2. Cho dù có nhận được nghị quyết trên đây đi chăng nữa thì chắc chắn Hồ Chí Minh không làm theo vì không có đủ thì giờ để các đảng trước khi thống nhất làm cái việc đó, trong khi phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam cuối những năm 20 thế kỷ XX như cuồn cuộn sóng trào, các tổ chức đảng cách mạng đang được lập ở nhiều nơi.

3. Các đảng viên của các đảng ít nhiều đã chịu “trận mạc”, đã qua thử thách, dám đi vào chốn có thể bất cứ lúc nào bị máu chảy đầu rơi, tù đày. Đúng là họ vào Đảng với thái độ, động cơ như thế của thời máu lửa thực dân-phong kiến chưa được độc lập, tự do chứ không phải như thời Đảng đã trở thành Đảng cầm quyền như sau này để có người vào Đảng là nhằm “làm quan phát tài”, cho nên khó mà có thể “lựa chọn những phần tử” nào là những phần tử “ưu tú nhất trong các tổ chức cộng sản” đang hiện hữu của Việt Nam để lập ra một đảng mới.

Chỉ có cách như Hồ Chí Minh làm là phù hợp nhất đối với tình hình Việt Nam đầu năm 1930: hợp nhất, thống nhất các đảng lại, gộp tất cả các đảng viên của các đảng lại thành một đảng mới: Đảng Cộng sản Việt Nam. Còn để “lựa chọn những phần tử ưu tú nhất” thì việc này là công việc thường xuyên theo quy luật tự đào thải của thực tế, người nào không chịu được thử thách khắc nghiệt trong quá trình hoạt động của Đảng, sẽ bị bật ra ngoài, nếu dùng theo cách của Quốc tế Cộng sản thì đó là một quá trình tự nhiên của bônsêvích hoá đảng cộng sản.

4. Theo ý kiến chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản trong Nghị quyết về Đông Dương trên đây, thì việc “lựa chọn những phần tử ưu tú nhất trong các tổ chức cộng sản” để thành lập đảng duy nhất ở Đông Dương là để “cải thiện thành phần xã hội của Đảng”. Mà thành phần xã hội của các đảng cộng sản ở Việt Nam khác nhiều so với thành phần xã hội của các đảng cộng sản khác ở trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu.

Nếu cứ chăm chăm vào công nhân thôi thì đâu có nhiều, công nhân đại công nghiệp, đại cơ khí như quan niệm của C. Mác thì lại càng vô cùng hiếm, nếu không nói là không có ở cái xứ thuộc địa Đông Dương thuộc Pháp. Trong thành phần của các đảng cộng sản trước khi thống nhất vào một Đảng Cộng sản duy nhất phần nhiều là trí thức tiểu tư sản, là những học sinh đầy nhiệt huyết với non sông bỏ học giữa chừng đi hoạt động cách mạng, còn một ít nữa là nông dân. Làm rẹt một cái để thanh lọc, hay nói theo cái từ đẹp hơn mà Quốc tế Cộng sản đã dùng là “lựa chọn” thì có khi không ra đời được cái Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930 đâu.

Những hành động trên đây của Hồ Chí Minh không qua được mắt Quốc tế Cộng sản. Và, Quốc tế Cộng sản đã “trị” Hồ Chí Minh trên một chuỗi các việc.

Đầu tiên là với sự kiện Hội nghị tháng 10-1930 do Trần Phú chủ trì. Trần Phú là học trò của Hồ Chí Minh tại lớp huấn luyện của Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) và được Hồ Chí Minh cử vào nhóm Cộng sản Đoàn, được giới thiệu sang học tại Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông (gọi tắt là Trường Đại học Phương Đông), làm Bí thư của nhóm lưu học sinh tại Trường, được Quốc tế Cộng sản để mắt đến như là một cán bộ trung kiên để tung về Đông Dương thực hiện chủ trương bônsêvích hoá Đảng Cộng sản Việt Nam vừa mới được thành lập. Và, có thể nói rằng, Trần Phú là một trong những người tích cực nhất trong việc thực thi Nghị quyết Đại hội VI Quốc tế Cộng sản ở Đông Dương.

Bản thảo Luận cương chính trị đã được Trần Phú khởi thảo sơ bộ tại Mátxcơva theo đúng những gì mà Đề cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa của Đại hội VI cuối năm 1928 đã nêu và theo đúng sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản trong Nghị quyết về Đông Dương cuối năm 1929. Bản luận cương đó được Trần Phú bổ sung, hoàn thiện khi từ Mátxcơva tốt nghiệp về nước từ tháng 4-1930 và được Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản chỉ định bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, rồi được Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930 bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Bây giờ nhìn lại, là người nói sau, mà nói sau thì bao giờ cũng dễ nói, chứ hồi đó, thiết nghĩ rằng, thật khó có ai, kể cả Trần Phú, có thể làm khác. Trần Phú học tập ở trong lòng Quốc tế Cộng sản, tắm mình trong các sự kiện ở đại bản doanh Quốc tế Cộng sản, chịu ảnh hưởng, bị nhiễm tinh thần hừng hực lửa cách mạng (tả khuynh) lúc đó. Trần Phú lại là một cán bộ xuất sắc, được Quốc tế Cộng sản “quy hoạch” cho đội ngũ cán bộ chủ chốt của phong trào cộng sản Đông Dương.

Chỉ có Hồ Chí Minh là làm khác được, bởi tầm nhìn và bản lĩnh của Hồ Chí Minh là ở tầm cao, không những cao hơn tầm của người học trò của mình là Trần Phú, mà còn cao hơn tầm của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản.

Hồ Chí Minh hiểu rõ một cách tường tận trình độ, năng lực của nhiều người trong Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong một báo cáo gửi Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản vào ngày 16-1-1935, Hồ Chí Minh cho rằng: các đồng chí đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương rất dũng cảm và hăng hái, công tác rất tận tụy, nhưng đại đa số đảng viên của Đảng có trình độ lý luận và chính trị rất thấp.

Hậu quả của trình độ thấp ấy là “Đa số các đồng chí – ngay cả những đồng chí có trách nhiệm – cũng không hiểu thật rõ “cách mạng dân chủ tư sản” là gì. Các đồng chí ấy nhắc đi nhắc lại những chữ ấy mà không hiểu nghĩa. Vì không thể giải thích được cho công nhân và nông dân, cho nên các đồng chí ấy thường tỏ vẻ lúng túng trong công tác tuyên truyền và cổ động. Để khỏi lung tung, các đồng chí buộc phải “bịa ra”. Do đó, một sự ngu dốt này làm phát sinh một sự ngu dốt khác và một sai lầm này gây nên các sai lầm khác…Các đồng chí ấy cũng không hiểu tại sao phải kết hợp cuộc cách mạng phản đế với cách mạng ruộng đất. Vì vậy mà những khẩu hiệu đưa ra lộn xộn, không phối hợp với nhau…Các đồng chí ấy không hiểu sự khác nhau giữa Đảng với các tổ chức khác”[77].

Từ đó, Hồ Chí Minh đề nghị Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản “phải giúp đỡ các đồng chí của chúng ta khắc phục những khó khăn ấy bằng cách tạo điều kiện cho các đồng chí tiếp thụ được những kiến thức sơ đẳng nhất mà những chiến sĩ đều phải có”[78]. Hồ Chí Minh đề nghị cho xuất bản hàng chục quyển sách để giúp đỡ họ nâng cao trình độ và lưu ý rằng: “Khi xuất bản những tập sách nhỏ ấy, cần phải chú ý đến: 1. Những khó khăn về việc in lại sách ở các xứ này; 2. Khó khăn về việc giữ sách; 3. Khó khăn của độc giả cất giấu sách; 4. Trình độ học vấn thấp của các đồng chí chúng tôi không thể đọc và hiểu được những điều diễn dạt quá dài, quá khó. Vì vậy, các tập sách nhỏ ấy phải ngắn, từ ngữ phải rất đơn giản, rất rõ ràng và dễ hiểu đối với quần chúng. Nếu có thể được, nội dung nên trình bày dưới dạng câu hỏi và trả lời”[79].

Với “bức tranh” về trình độ như vậy thì nhiều người trong Đảng Cộng sản Đông Dương khó mà thông suốt được nhiều điều về quan điểm của Hồ Chí Minh.

Thật ra thì trong cuộc đời bản thân mình, Hồ Chí Minh không phải không có những lúc không thật là chính mình, nghĩa là vẫn bị một số thế lực đâu đó chi phối. Con chim phượng hoàng có lúc cũng bay thấp, chứ không phải lúc nào cũng bay cao. Do vậy, những điều trên đây thật dễ hiểu và chúng ta hoàn toàn thông cảm cho hoàn cảnh của Trần Phú cũng như những yếu nhân của Đảng Cộng sản Đông Dương lúc bấy giờ về thái độ của họ đối với những quan điểm của Hồ Chí Minh.

Bản thân Hồ Chí Minh cũng vậy thôi. Có không ít những dẫn chứng. Chẳng hạn, Đại hội II của Đảng tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang, một Đại hội diễn ra đầu của nửa cuối thế kỷ XX, một Đại hội ghi đậm dấu ấn vai trò chỉ đạo của Hồ Chí Minh khi ông về nước thực thi quan điểm nhất quán của mình trước đó đã bị hiểu lầm, nhưng rất lạ thay ông đã nêu cao cả vai trò J. Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông. Điều này thể hiện rõ trong Chính cương Đảng Lao động Việt Nam, trong Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam được Đại hội thông qua.

Trong phần Mục đích và tôn chỉ, Điều lệ Đảng Lao động Việt Nam có viết: “Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Ăngghen – Lênin – Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng”[80]. Chủ nghĩa Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông không xứng đáng đứng ở cái tầm “nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động” như thế đối với Đảng Lao động Việt Nam. Có lẽ do cái tầm công lao của Liên Xô đối với chiến thắng chủ nghĩa phátxít và tầm vóc thắng lợi của cách mạng Trung Quốc năm 1949 — những sự kiện cách Đại hội II của Đảng không xa lắm — cho nên mới ảnh hưởng đến Đảng Lao động Việt Nam và bản thân Hồ Chí Minh đến thế.

Ngay trước đó, trong dịp đi thăm Liên Xô để tìm sự ủng hộ của Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô đối với cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng bị J. Xtalin “chấn chỉnh” về vấn đề cách mạng ruộng đất, cộng với giáo điều với cách giải quyết vấn đề ruộng đất của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho nên Đảng Lao động Việt Nam, và cả trách nhiệm cá nhân Hồ Chí Minh nữa, mới có những sai lầm trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất những năm 50 thế kỷ XX, v.v. Con người ta không phải là thánh thần. Cái sai có khi do hoàn cảnh buộc phải như thế. Con người ta là tác giả của các cơ chế, nguyên tắc do mình đặt ra cũng đồng thời chính là nạn nhân của các cơ chế, nguyên tắc ấy, có lúc bị chúng nghiền nát.

Ngoài tính đúng đắn của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, thì Hội nghị này đã triệt để thực hiện tính tả khuynh của Đại hội VI Quốc tế Cộng sản vào hoàn cảnh của Việt Nam. Hội nghị đã ra nghị quyết trong đó phản ánh nhận thức chưa đúng đắn, chưa đầy đủ tình hình các lực lượng trong một xã hội Việt Nam thuộc địa-phong kiến khi tất cả các giai tầng đều có yêu cầu chống đế quốc giành độc lập dân tộc. Hội nghị chủ trương sắp xếp lực lượng không đúng: đánh giá không đúng khả năng của giai cấp tư sản dân tộc, trung, tiểu địa chủ, tiểu tư sản, trí thức trong việc đi với công nông, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, để giành lấy độc lập cho dân tộc; do đó chưa có những quyết sách phù hợp trong việc lập mặt trận dân tộc thống nhất chống đế quốc.

Đáng tiếc thay, Hội nghị tháng 10-1930 của Trung ương Đảng đã ra Án Nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị nói về tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, trong đó chỉ trích một cách gay gắt những cách làm và quan điểm của Hồ Chí Minh trong Hội nghị thành lập Đảng. Nghị quyết nêu rõ: Hội nghị thành lập Đảng đã mắc phải sai lầm về việc tổ chức Đảng; sai lầm về chính trị trong vấn đề thổ địa, trong vấn đề đánh giá giai cấp tư sản dân tộc, “chỉ lo đến việc phản đế, mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu”; sai lầm về Điều lệ và tên Đảng, v.v. Đáng tiếc nhất là Nghị quyết nêu: “Thủ tiêu chánh cương sách lược và Điều lệ cũ của Đảng, lấy kinh nghiệm trong thời kỳ vừa qua mà thực hành công việc cho đúng như Án nghị quyết và Thơ chỉ thị của Q.T.C.S”[81].

Tư tưởng tả khuynh của Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 sau đó cũng đã được điều chỉnh do Trần Phú cùng các đồng chí Thường vụ Trung ương, Xứ uỷ nhận ra qua thực tế phong trào cách mạng 1930-1931.

Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về vấn đề thành lập Hội phản đế đồng minh, trong đó có quan điểm mới là vạch rõ sự cần thiết phải thực hiện khẩu hiệu chia ruộng đất cho dân cày, có như thế mới nhận được sự hưởng ứng của nông dân; ngoài liên minh công nông, “còn mặt khác nữa là giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật đông, thật kín thì cuộc cách mạng cũng khó thành công (rộng là toàn dân cùng đứng trong một mặt trận chống đế quốc và tụi phong kiến làm tay sai phản động hèn hạ; kín là công nông trong bức tường thành dân tộc phản đế bao la)”[82].

Ban Thường vụ Trung ương Đảng cũng đã dũng cảm nêu lên những khuyết điểm của Đảng về nhận thức và phương pháp tổ chức các đoàn thể cách mạng, đó là việc chỉ bó hẹp đơn thuần trong hàng ngũ công nông trong khi đó các lực lượng khác cũng rất đông đảo và hăng hái. Tình trạng đó, như Nghị quyết của Ban Thường vụ Trung ương Đảng nêu rõ: “Do đó, thiếu mặt tổ chức thật quảng đại quần chúng, hấp thụ các tầng lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc, họ là tầng lớp trên hay ở vào tầng lớp giữa cũng vậy, và cho tới cả những người địa chủ, có đầu óc oán ghét đế quốc Pháp, mong muốn dộc lập quốc gia, để đưa tất cả những tầng lớp và cá nhân đó vào trong hàng ngũ chống đế quốc Pháp, để cần kíp tổng động viên toàn dân nhất tề hành động mặt này hay mặt khác mà chống khủng bố trắng và ủng hộ cách mạng công nông”[83].

Một sự kiện nữa không nên bỏ qua. Sau khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một cao trào cách mạng rộng lớn đã nổ ra — cao trào cách mạng 1930-1931– mà sau này nhiều người cho rằng, đó là cuộc tổng diễn tập đầu tiên cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong cao trào đó, tiếp nối tả khuynh, đầu tháng 4-1931, Xứ uỷ Trung Kỳ ra Chỉ thị thanh Đảng với nội dung chủ yếu là đưa những đảng viên xuất thân từ trí thức, con nhà giàu, con em quan lại, ra khỏi Đảng. Chỉ thị này đề ra khẩu hiệu: “Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Tỉnh uỷ Nghệ An, một trong những trọng điểm của cao trào và là nơi cùng với Hà Tĩnh có lập được các chính quyền xôviết ở các làng xã, cũng ra Chỉ thị truyền đạt Chỉ thị của Xứ uỷ Trung Kỳ xuống tận cơ sở, trong đó nhắc lại khẩu hiệu trên.

Cái hay là ngày 20-5-1931, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã gửi Chỉ thị cho Xứ uỷ Trung Kỳ về vấn đề thanh Đảng trên đây. Ban Thường vụ Trung ương Đảng chỉ trích một cách gay gắt rằng: “Xứ uỷ Trung Kỳ, nhất là đồng chí Bí thư, ra chỉ thị thanh Đảng viết rõ từng chữ: thanh trừ trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ, như vậy thì gốc đâu mà đào, xem rễ đâu mà trốc, quả là một ý nghĩ mơ hồ, một chỉ thị võ đoán và là một lối hành động quàng xiên chi tướng”[84].

Có như vậy thật. Và đó là sự phê bình thật đáng trân trọng.

Nhưng, những quan điểm mới đó không nhất quán, không chủ lưu, nó có loé lên ở những thời điểm nhất định, và Tổng Bí thư Trần Phú ra đi quá sớm, hy sinh một cách oanh liệt trong nhà tù đế quốc với niềm tin toàn thắng cộng sản và với lời nhắn nhủ đồng chí: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu!”. Không chỉ riêng Trần Phú, mà còn không ít đồng chí nữa trong Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương cũng đã hiểu lầm Hồ Chí Minh.

Hiểu lầm dai dẳng đến nỗi tại Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 3-1935 diễn ra ở Ma Cao, Hồ Chí Minh chỉ được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tuy rằng, đã từ lâu, trên thực tế Hồ Chí Minh đã là lãnh tụ của Đảng, là cán bộ của Quốc tế Cộng sản. Cũng có thể với tư cách như vậy cho nên Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương, tuy không đánh giá cao Hồ Chí Minh, nhưng buộc phải cử Hồ Chí Minh làm Đại diện của Đảng trong Quốc tế Cộng sản và cử ông làm đại biểu chính thức dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (lúc này Hồ Chí Minh đang ở Liên Xô).

Nghi ngờ và hiểu lầm dai dẳng đến nỗi Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản diễn ra vào tháng 7-1935 ở Mátxcơva, khi Hồ Chí Minh đang ở đó mà Quốc tế Cộng sản không cử ông làm đại biểu chính thức dự Đại hội, mà chỉ được mời dự mà thôi (Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương gồm 3 người: Lê Hồng Phong (Dẫn đầu), Hoàng Văn Nọn, Nguyễn Thị Minh Khai, và Đại hội VII đã bầu Lê Hồng Phong làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Trung Quốc có ba người được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản tại Đại hội VII: Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Vương Minh).

Xét cho cùng, Đại hội VII, với Báo cáo của G. Đimitơrốp “Sự tiến công của chủ nghĩa phátxít và nhiệm vụ của Quốc tế Cộng sản trong cuộc đấu tranh vì sự thống nhất giai cấp công nhân, chống chủ nghĩa phátxít” cùng các báo cáo khác của P. Tôliátti, Đ. Manuinxki…đã thực chất tự phê phán đường lối, quan điểm tả khuynh của đại hội VI Quốc tế Cộng sản năm 1928, phần nào “trở về” với những quan điểm rất đúng đắn của Hồ Chí Minh trong việc tập hợp lực lượng cách mạng.

Lẽ ra, với quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh về tập hợp lực lượng cách mạng chống đế quốc, chống các lực lượng phản động, trong đó có chủ nghĩa phátxít, ông sẽ được trọng dụng trong việc soạn thảo, đề đạt ý kiến góp vào việc hình thành các văn kiện của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản năm 1935. Nhưng không. Đoàn Chủ tịch Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản đã thành lập một Uỷ ban chuẩn bị các văn kiện Đại hội VII gồm các nhân vật sau đây mà không có tên Hồ Chí Minh: G. Đimitơrốp, Ô. Cuixinhen, P. Tôliátti, Đ. Manuinxki, V. Pích, B. Cun, I. Piatnhiki, Ph. Khéckerơ, E. Vécga, B. Xmeran. Tạp chí Quốc tế Cộng sản đã lập một Mục “Diễn đàn Đại hội VII” để lấy ý kiến thảo luận rộng rãi những vấn đề sẽ đặt ra tại Đại hội VII.

Hồ Chí Minh lúc này đang ở Mátxcơva và vẫn đang bị hiểu lầm, và không được giao nhiệm vụ gì ngoài việc học tập. Ông không có ý kiến gì trong các sinh hoạt của Quốc tế Cộng sản cho Đại hội VII sắp tới. Có ý kiến cho rằng, lúc này Hồ Chí Minh có giúp đỡ Đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương, góp ý cho các bản báo cáo của các đồng chí Lê Hồng Phong, Hoàng Văn Nọn, Nguyễn Thị Minh Khai. Nhưng, đó chỉ là dự đoán, chưa có căn cứ xác đáng về tài liệu khẳng định. Quốc tế Cộng sản chỉ chấp nhận 3 đại biểu với tư cách là đại biểu chính thức trong 4 đại biểu do Đảng Cộng sản Đông Dương cử sang dự Đại hội VII (Lê Hồng Phong – bí danh Hải An, Nguyễn Thị Minh Khai – bí danh Phan Lan, Hoàng Văn Non – bí danh Văn Tân. Nguyễn Ái Quốc chỉ được chấp nhận làm đại biểu tư vấn).

Nhân vật cốt yếu nhất của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản là G. Đimitơrốp, một lãnh tụ cộng sản Bungari, một trong những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống chủ nghĩa phátxít Bungari năm 1923, sau đó lại hoạt động cho Quốc tế Cộng sản ở Tây Âu. Ông biết rất rõ và có nhiều kinh nghiệm về lãnh đạo chống chủ nghĩa phátxít. G. Đimitơrốp hoạt động tại Đức, bị phátxít Đức vu cho là người chủ mưu đốt nhà Quốc hội Đức năm 1933, cho nên bị chúng bắt và đưa ra xét xử tại toà án Laixích. Ông không thuê luật sư mà tự bào chữa một cách hùng hồn, được trắng án, do vậy người ta gọi ông là “Người anh hùng Laixích”.

Từ trong lòng chủ nghĩa phátxít, G. Đimitơrốp đã thiết kế được một đường lối đúng đắn để đoàn kết tất thảy các giai cấp, các lực lượng trên thế giới đứng trong một mặt trận rộng rãi chống phátxít, chống chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, hoà bình. Theo ông (và sau này trở thành quan điểm của Đại hội VII Quốc tế cộng sản), ở trong mặt trận này, không chỉ có công nông, mà còn có cả giai cấp tư sản và tất cả các lực lượng xã hội dân chủ, cùng tất cả các tầng lớp nhân dân khác ở tất cả các nước trên thế giới đoàn kết chống nguy cơ của chủ nghĩa phátxít đang đến gần.

Quốc tế cộng sản ở Đại hội VI là một bước lùi. Còn Quốc tế Cộng sản ở Đại hội VII là một bước tiến khổng lồ về nhận thức lý luận và thực tiễn. Cũng chính tại Đại hội này, G. Đimitơrốp, kiến trúc sư của đường lối lập mặt trận trên toàn thế giới chống chủ nghĩa phátxít, đã xứng đáng được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản. Đại hội VII còn thay đổi được quan điểm không phù hợp của Quốc tế Cộng sản tồn tại suốt từ Đại hội I đến Đại hội VI là cách mạng ở các nước thuộc địa phải phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở “chính quốc”.

Với lôgíc của đường lối này, về bản chất, là sự gặp gỡ với những quan điểm của Hồ Chí Minh, tuy rằng quan điểm của Hồ Chí Minh là về cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa, còn quan điểm của G. Đimitơrốp là ở trên mặt trận chống chủ nghĩa phátxít, đòi tự do, dân chủ, hoà bình. Những hiểu lầm về Hồ Chí Minh, theo đó, lẽ ra sẽ được giải tỏa. Nhưng không. Vẫn còn đó, nguyên vẹn, không suy xuyển. Trong con mắt Quốc tế Cộng sản và đồng chí của mình, Hồ Chí Minh vẫn là một nhà dân tộc chủ nghĩa, quốc gia cải lương, một người hay cãi, một người “cứng đầu” đối với những quan điểm của Quốc tế Cộng sản về cách mạng Việt Nam.

Bởi trước đó, lại thêm một sự kiện “bất lợi” nữa cho Hồ Chí Minh. Ông bị bắt ở Hồng Công năm 1931 và mãi đến năm 1932-1933 mới được thả ra. May mắn thay và cũng thật là oái oăm thay, ông được thả ra chủ yếu và đặc biệt là nhờ sự giúp đỡ vô cùng có hiệu quả của vợ chồng luật sư Lôdơby (không cộng sản, người Anh) đồng thời phần nào có sự giúp đỡ của Cứu tế đỏ và sự giúp đỡ của Vayăng Cutuyriê, Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp. Vốn đang bị hiểu lầm mà lại trắng án, ra tù của đế quốc, lại chủ yếu do những người không cộng sản cứu thoát, thì việc trở về đại bản doanh Mátxcơva, Hồ Chí Minh không thể lấy lại được niềm tin của Quốc tế Cộng sản.

Chính vì vậy, trong một bức thư của bà Vêra Iacôvlépna Vaxiliêva và Miphơ, là những cán bộ Phòng Đông Dương thuộc Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa, gửi cho Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản ngày 29-6-1935, có viết rằng: “Về việc liên quan đến Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi cho rằng, ít nhất trong hai năm tới đây, đồng chí ấy cần phải học tập một cách nghiêm túc và không thể làm một việc gì khác. Sau khi đã học ở chỗ chúng tôi, sẽ có kế hoạch đặc biệt để sử dụng đồng chí ấy. Vì thế, các đồng chí cần xác định rõ mối quan hệ với Nguyễn Ái Quốc”[85]. Họ nghi ngờ rằng: “Qua lời kể của Nguyễn Ái Quốc thì khó xác định được tại sao đồng chí ấy lại dễ dàng ra khỏi nhà tù và thoát khỏi tay cảnh sát Pháp…Đồng chí ấy nói rằng, chuyến đi này được tiến hành nhờ sự giúp đỡ của Vayăng Cutuyriê trong thời gian ở Trung Quốc. Tôi nghĩ rằng, tất cả những việc này cần được kiểm tra một cách thận trọng”[86].

Quốc tế Cộng sản cử Hồ Chí Minh học ở Trường Quốc tế Lênin sau khi ông đi nghỉ ở Xôtri (bên bờ biển Đen) trở về Mátxcơva tháng 10-1934. Đây là một trường dành cho cán bộ của các đảng cộng sản trên thế giới. Trường Quốc tế Lênin được thành lập vào năm 1926, nhằm:

– Giúp đỡ các phân bộ của Quốc tế Cộng sản nâng cao trình độ cho cán bộ của mình. Những cán bộ đó phải nắm vững lý luận Mác – Lênin và những kinh nghiệm đấu tranh cách mạng. Đồng thời, họ phải nghiên cứu trực tiếp những kinh nghiệm chính trị và tổ chức của Đảng Cộng sản Liên Xô cũng như kinh nghiệm và công tác hiện tại của các đảng cộng sản ở các nước tư bản và thuộc địa. Thông qua học tập tại trường, họ phải tìm hiểu những kinh nghiệm cách mạng của giai cấp công nhân châu Âu trong thế kỷ XIX và những phương pháp đấu tranh của giai cấp vô sản trong các hoàn cảnh lịch sử cụ thể qua việc nghiên cứu, học tập các tác phẩm của C. Mác và Ph. Ăngghen.

– Phân tích về chủ nghĩa đế quốc, chiến lược và sách lược của giai cấp vô sản quốc tế trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa. Nghiên cứu những điều kiện và hình thức của cuộc đấu tranh chuẩn bị giành chính quyền về tay giai cấp vô sản, duy trì và sử dụng chính quyền (chủ yếu thông qua việc học tập các tác phẩm của V.I. Lênin).

– Nghiên cứu những kinh nghiệm tổ chức chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô trong việc chuẩn bị và tiến hành cách mạng vô sản, sử dụng chính quyền vì quyền lợi của nhân dân lao động Liên Xô, vì chiến thắng chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới. Điều này bắt buộc học viên không những học tập, nghiên cứu những tác phẩm của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, các văn kiện của Đảng Cộng sản Liên Xô, mà còn phải trực tiếp tham gia các công tác của Đảng Cộng sản Liên Xô.

– Nghiên cứu kinh tế thế giới và các bộ phận của nó, đặc biệt về quan hệ của các nước tư bản chủ nghĩa, các thuộc địa và của Liên Xô.

– Nghiên cứu những vấn đề chiến lược và sách lược của Quốc tế Cộng sản, những kinh nghiệm tổ chức và chính trị của các đảng cộng sản các nước và nhận xét, phê bình những công tác hiện thời của các đảng cộng sản.

Hồ Chí Minh học ở Trường này, khoá 1934-1935.

Tôi cần viết thêm rằng, bộ ba: Trường Đại học Cộng sản Phương Đông, Trường Quốc tế Lênin, Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa đã đóng vai trò rất to lớn và cực kỳ quan trọng đối với việc đào tạo cán bộ chủ chốt cho phong trào cộng sản ở Việt Nam những ngày đầu trứng nước. Các cơ quan đó cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và các quan điểm của Quốc tế Cộng sản vào phong trào yêu nước, cách mạng ở Việt Nam những năm 20 và 30 của thế kỷ XX.

Có một người duy nhất học xong Chương trình Nghiên cứu sinh, đó là Nguyễn Khánh Toàn, với đề tài luận án “Cuộc chiến tranh nông dân ở Đông Dương thế kỷ XVIII. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn”. Còn hai người nữa phải bỏ dở Chương trình Nghiên cứu sinh, đó là Lê Hồng Phong khi vừa bắt tay viết luận án “Tình hình kinh tế và chính trị ở Đông Dương” do tình hình thay đổi[87] và đó là Lin (Hồ Chí Minh) với đề tài “Cách mạng ruộng đất ở các nước Đông Nam Á”.

Bộ ba cơ quan đó đã đào tạo được hàng loạt chiến sĩ cộng sản kiên trung cho cách mạng Việt Nam[88], tuy rằng, qua thử thách nghiệt ngã của thời cuộc, một số ít người đã phản bội lại sự nghiệp cách mạng đã được đào tạo.

Sau khi tốt nghiệp Trường Quốc tế Lênin, Hồ Chí Minh muốn trở về Việt Nam, nhưng vì nhiều lý do, ông chưa được chấp thuận. Hồ Chí Minh được cử vào làm cán bộ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản. Đây là một Viện vốn là từ một Ban đặc biệt dành cho những học viên cộng sản ở các thuộc địa học ở Trường Đại học cộng sản Phương Đông, Ban này lập năm 1921. Từ năm 1932, Ban này được tách ra thành Viện nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa do Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản trực tiếp quản lý. Từ biên chế của Viện này, đầu năm 1937, Hồ Chí Minh cùng với 20 cán bộ khác được cử làm nghiên cứu sinh của Viện, khối ngành Lịch sử và Kinh tế.

Trong thời gian làm nghiên cứu sinh tại Viện nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa, Hồ Chí Minh phải tuân thủ những quy định, chương trình của một học viên[89].

Chính đây là quãng thời gian Hồ Chí Minh cảm thấy mình là người ở ngoài của Đảng, sốt ruột, và coi là không được giao nhiệm vụ gì.

Tại sao được cử đi học mà lại tự coi là không được giao nhiệm vụ gì? Học tập cũng là một nhiệm vụ chứ sao? ấy là đối với Hồ Chí Minh, với những gì mà Quốc tế Cộng sản đánh giá, với những chuỗi sự kiện nối tiếp nhau, trong đó có việc ra tù của Anh ở Hồng Công, Quốc tế Cộng sản muốn Hồ Chí Minh học, nghiên cứu để trở thành một giáo sư cung cấp cho các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Quốc tế Cộng sản (như trường hợp giáo sư Nguyễn Khánh Toàn).

Trong một bức thư năm 1935 gửi cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, bà V. Ia. Vaxiliêva (lúc này là Trưởng Phòng Đông Dương và Xiêm thuộc Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa thuộc Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản), viết: “Đối với đồng chí Nguyễn Ái Quốc, chúng tôi cho rằng trong hai năm tới đây, đồng chí ấy cần phải nghiêm túc, nỗ lực học tập và không được làm một việc gì khác. Sau khi học xong, chúng tôi có những kế hoạch riêng để sử dụng đồng chí ấy”[90].

Mà điều này không đúng với ý định của Hồ Chí Minh, một con người năng nổ, ưa hoạt động thực tiễn, học trong thực tiễn, lấy tự học làm chính, tích lũy tri thức qua thực tế để trở về nước hoạt động với mục tiêu giành độc lập cho Tổ quốc, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào. Do đó, Hồ Chí Minh mới có tâm trạng của một người chịu áp lực của tâm lý sống trong “tình trạng không hoạt động”, và sống trong “tình cảnh đau buồn”.

Cũng may cho Hồ Chí Minh, sau bức thư ngày 6-6-1938 gửi cho một đồng chí ở Quốc tế Cộng sản, và chắc chắn sau một số cuộc gặp với cấp trên, ông được chấp thuận cho xoá tên khỏi danh sách nghiên cứu sinh, mặc dù ông đã trả thi xong năm thứ nhất và đã nhận đề tài luận án Phó tiến sĩ sử học “Cách mạng ruộng đất ở Đông Nam Á”. Ông trở lại Trung Quốc năm 1939 lúc tình hình trên thế giới đang có có sự biến chuyển dữ dội do Chiến tranh thế giới thứ hai sắp chính thức nổ ra và tình hình cách mạng Việt Nam đang có sự chuyển hướng chiến lược quan trọng theo hướng đi theo tư tưởng của Hồ Chí Minh về những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Và, lạ thay, có thể do sự nhạy cảm nào đó của Hồ Chí Minh, nếu ông có ở lại Mátxcơva năm sau, năm 1939, thì các trường và Viện Nghiên cứu những vấn đề dân tộc và thuộc địa của Quốc tế Cộng sản cũng giải thể vì chiến tranh thế giới thứ hai. Do như vậy chăng, ông đã biết trước chăng?

Chỉ đến Nguyễn Văn Cừ nhận trách nhiệm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc 26 tuổi năm 1938, một nhà lý luận xuất sắc của Đảng, mới cùng Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chuyển hướng chiến lược tại cái mốc Hội nghị Trung ương Đảng trong 3 ngày 6, 7, 8 tháng 11 năm 1939 tại Bà Điểm (Gia Định), kíp trở lại với những quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam (do thấm nhuần quan điểm của Hồ Chí Minh hay do thời thế buộc phải vậy? Cũng có thể do Nguyễn Văn Cừ và các cộng sự của ông là những người không học trong cái “lò” của Quốc tế Cộng sản ở Mátxcơva cho nên không bị tiêm nhiễm quan điểm tả khuynh của đại hội VI Quốc tế Cộng sản).

Hội nghị đã xác định: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng dân tộc”. Tất cả giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, đó là chiến lược được thay thế cho cách mạng tư sản dân quyền và thổ địa cách mạng; tất cả mọi nhiệm vụ, kể cả cách mạng ruộng đất đều phải phục tùng nhiệm vụ dân tộc; thành lập chính phủ cộng hoà dân chủ, không chỉ riêng cho công nông.

Muốn vậy, phải thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế rộng rãi bao gồm công nông, tiểu tư sản, các tầng lớp tư sản bản xứ, trung tiểu địa chủ, các dân tộc ít người, các tôn giáo, v.v. Rồi sau đó, qua Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940 có bước lùi; đến Hội nghị tháng 5-1941 tại Pác Bó (Cao Bằng) do Hồ Chí Minh chủ trì, mà trước đó quan điểm của Trung ương Đảng cùng Quyền Tổng Bí thư Trường-Chinh đã thống nhất với tư tưởng của Hồ Chí Minh. Đó là sự gặp gỡ tuyệt đẹp, chấm dứt hoàn toàn sự hiểu lầm của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương đối với Hồ Chí Minh.

Sự hiểu lầm về Hồ Chí Minh cũng có thể còn do sự không mặn mà của một số người trong Đảng Cộng sản Pháp đối với Hồ Chí Minh khi ông đang hoạt động ở Liên Xô. Lúc này, Hồ Chí Minh đã phê bình một cách quyết liệt, gay gắt tính không triệt để và không kiên quyết của Đảng Cộng sản Pháp đối với vấn đề thuộc địa.

Khi trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp và khi còn ở Pháp đến mùa hè năm 1923, Hồ Chí Minh đã kiến nghị, góp ý cho Trung ương Đảng Cộng sản Pháp ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở các thuộc địa do Pháp chiếm đóng, đặc biệt là đối với Đông Dương. Nhưng, sang đến Liên Xô, vẫn với tư cách là một đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp, hoạt động trong bộ máy của Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh tiếp tục luồng sinh khí ấy, nghĩa là có những góp ý, thậm chí phê bình gay gắt Đảng Cộng sản Pháp trong vấn đề thuộc địa.

Ông đã phê bình Đảng Cộng sản Pháp trong việc không thực hiện một cách tích cực những nghị quyết của Đại hội II Quốc tế Cộng sản, trong đó thể hiện những quan điểm của V.I. Lênin nêu trong Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa. Ông phê bình với những từ ngữ, lời lẽ mà nghe ra rất đanh, có vẻ chói tai: những nghị quyết của Đảng Cộng sản Pháp về vấn đề dân tộc và thuộc địa “chỉ được dùng để tô điểm mặt giấy”[91]. Trong các điều kiện gia nhập Quốc tế Cộng sản nêu ở Đại hội II Quốc tế Cộng sản, V.I. Lênin chỉ ra rằng, mỗi đảng cộng sản phải cam đoan tiến hành một công tác cổ động có hệ thống trong quân đội nước mình nhằm chống lại mọi áp bức dân chúng thuộc địa và mỗi đảng cộng sản phải ủng hộ, không những bằng lời nói mà cả bằng hành động, phong trào giải phóng của các thuộc địa.

Theo sáng kiến của Hồ Chí Minh, từ năm 1921, báo L’ Humanité (Nhân đạo) của Đảng Cộng sản Pháp đã mở một chuyên mục Diễn đàn của các thuộc địa. Nhưng, chẳng bao lâu sau, chuyên mục này đã bị bỏ. Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh nói rõ quan điểm của mình: “Thật là không thích đáng nếu cứ lắp đi lắp lại mãi một điều mà không làm gì cả. Và những người bị áp bức khốn khổ thấy chúng ta chỉ luôn luôn hứa hẹn nhưng cũng luôn luôn không hành động gì thì bắt đầu tự hỏi rằng không biết thực ra chúng ta là những người đứng đắn hay là những kẻ lừa phỉnh”[92]. Tháng 7-1923, từ Mátxcơva, ông viết thư cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đề nghị mở lại chuyên mục viết về thuộc địa trong báo L’Humanité (Nhân đạo) và trong tất cả các báo chí của Đảng Cộng sản Pháp, đề cập vấn đề thuộc địa “trong hết thảy các đại hội, mít tinh hoặc hội nghị của Đảng”[93], “cử các nghị sĩ đi thăm các thuộc địa”[94], v.v.

Những đề nghị trên đây của Hồ Chí Minh sau khi ông rời khỏi địa bàn Pháp không được Đảng Cộng sản Pháp chấp nhận. Rõ ràng là, với khẩu khí này thì có thể những người được góp ý khó mà tiếp thu, và khó mà có thiện cảm.

Ngay như tại Đại hội V của Quốc tế Cộng sản năm 1924 mà Hồ Chí Minh tham dự và có lời phát biểu, cũng thể hiện được khí khái thẳng như ruột ngựa của ông lúc đó. Trong Phiên họp ngày 23-6-1924, ông nói: “Tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, sẽ gợi ra những vấn đề và nếu cần tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa…Các thuộc địa trở thành nền tảng của các lực lượng phản cách mạng. Thế mà các đồng chí khi nói về cách mạng, các đồng chí lại khinh thường thuộc địa…Tại sao các đồng chí lại xem thường thuộc địa trong lúc chủ nghĩa tư bản lại dựa vào nó để tự bảo vệ và chống lại các đồng chí?…Bàn về khả năng và các biện pháp thực hiện cách mạng…các đồng chí Anh và Pháp cũng như các đồng chí ở các đảng khác hoàn toàn bỏ qua luận điểm cực kỳ quan trọng có tính chiến lược này. Chính vì thế, tôi hết sức kêu gọi các đồng chí: Hãy chú ý”[95].

Tại một diễn đàn tại Phiên họp lần thứ 22 Đại hội đó, ngày 1-7-1924, với tư cách là một đảng viên của Đảng Cộng sản Pháp, và nhân danh một người ở dân tộc thuộc địa, Hồ Chí Minh phát biểu để “bổ sung những ý kiến phê bình của đồng chí Manuinxki về chính sách của chúng ta trong vấn đề thuộc địa”.

Ông phê bình cả Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Cộng sản Anh và đảng cộng sản một số nước chưa quan tâm đến cách mạng ở các thuộc địa. Hồ Chí Minh nói: “Sẽ không phải là quá đáng nếu nói rằng chừng nào Đảng Pháp và Đảng Anh chúng ta chưa thi hành một chính sách thật tích cực trong vấn đề thuộc địa, thậm chí chưa đề cập đến quần chúng các thuộc địa, thì toàn bộ chương trình rộng lớn của hai đảng đó vẫn không có hiệu quả gì. Chương trình ấy sẽ không có hiệu quả gì vì nó trái với chủ nghĩa Lênin”[96].

Hồ Chí Minh phát biểu tiếp: “Còn các đảng cộng sản của chúng ta như Đảng Cộng sản Anh, Hà Lan, Bỉ và các đảng cộng sản các nước khác mà giai cấp tư sản ở đấy chiếm giữ thuộc địa, thì đã làm những gì? Các đảng này, từ khi chấp nhận bản Luận cương của Lênin, đã làm được những gì để giáo dục cho giai cấp công nhân nước mình tinh thần quốc tế chủ nghĩa chân chính, tinh thần gần gũi với quần chúng lao động các nước thuộc địa? Tất cả những việc mà các đảng của chúng ta đã làm về mặt này, thật hầu như chưa có gì cả. Còn về tôi, là một người sinh trưởng ở một nước hiện nay là thuộc địa của Pháp và là một đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng Đảng Cộng sản Pháp chúng tôi làm rất ít cho các nước thuộc địa”[97]. Hồ Chí Minh phát biểu một cách gay gắt, với khẩu khí thật mạnh và đưa ra những đề nghị rất cụ thể: “Vậy phải hành động thực tiễn như thế nào? Đề ra những luận cương dài dằng dặc và thông qua những nghị quyết rất kêu để sau Đại hội đưa vào viện bảo tàng như từ trước vẫn làm thì chưa đủ. Chúng ta cần có biện pháp cụ thể. Tôi đề nghị mấy điểm dưới đây:

1. Mở trên báo L’Humanité một mục để đăng đều đặn hằng tuần ít nhất hai cột các bài về vấn đề thuộc địa.

2. Tăng cường tuyên truyền và tuyển lựa đảng viên của Đảng trong những người bản xứ ở những nước thuộc địa đã có phân bộ cộng sản.

3. Gửi những người bản xứ vào Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông ở Matxcơva.

4. Thoả thuận với Tổng Liên đoàn lao động thống nhất để tổ chức những người lao động của các thuộc địa làm việc ở Pháp.

5. Đặt nhiệm vụ cho các đảng viên của Đảng phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề thuộc địa”[98].

Trong một bức thư đề ngày 11-4-1924 gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh nêu nhận xét của mình: “Những thuộc địa của Pháp nói chung và xứ Đông Dương nói riêng, rất ít được biết tới trong giới vô sản…Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Pháp đều hiểu biết rất ít về những gì xảy ra tại thuộc địa đó”[99].

Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm của giai cấp vô sản ở “chính quốc”, đặc biệt trong đó là giai cấp công nhân Pháp, phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ở thuộc địa, sự kết hợp đó tạo thành một mặt trận thống nhất của giai cấp vô sản toàn thế giới.

Gốc của vấn đề này là ở chỗ, Hồ Chí Minh thấy được tính chất quốc tế của chủ nghĩa đế quốc. Hồ Chí Minh cho rằng: những nước thực dân đã tuyển những binh lính người bản xứ cho các đạo quân phản cách mạng của nó, như nước Pháp đã gửi những đạo quân người Đông Dương sang Xibia để giúp bọn bạch vệ chống lại Hồng quân thời kỳ nội chiến cách mạng, cũng như họ đã tuyển những người thuộc địa châu Phi đi đàn áp những người da trắng, v.v. Do đó, công nhân Pháp phải kết tình anh em với binh lính bản xứ, “phải làm cho binh lính bản xứ hiểu rằng, cả công nhân ở chính quốc lẫn binh lính ở thuộc địa, đều cùng bị chung một bọn chủ áp bức và bóc lột, do đó họ đều là anh em cùng giai cấp và khi tới lúc phải chiến đấu thì cả hai bên đều phải cùng đánh bọn chủ chung của mình, chứ anh em không nên đánh lẫn nhau”[100].

Hồ Chí Minh đi tới tận cùng của tư duy về chủ nghĩa thực dân và những biện pháp cách mạng trong thực tế. Hồ Chí Minh cho rằng, giai cấp vô sản chính quốc và đảng tiên phong của nó “không phải chỉ tỏ tình đoàn kết với những anh em cùng giai cấp ở đấy bằng lời nói, mà còn phải giác ngộ họ, giáo dục họ về ý thức tổ chức và về phương pháp tổ chức”[101].

Trên cơ sở đó, năm 1925, ông đề nghị Quốc tế Cộng sản:

a) Làm cho đội tiên phong của giai cấp vô sản ở các thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây để dọn đường cho một sự hợp tác thực sự sau này. Chỉ có sự hợp tác đó mới có thể bảo đảm cho giai cấp công nhân quốc tế giành được thắng lợi cuối cùng;

b) Làm cho các dân tộc thuộc địa – từ trước đến nay rời rạc với nhau – hiểu biết nhau và đoàn kết với nhau, do đó đặt cơ sở cho một khối liên hợp tương lai giữa các nước phương Đông, khối liên hiệp đó là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản;

c) Giai cấp vô sản các nước tư bản có thuộc địa cần nêu một tấm gương về những điều họ có thể và phải làm cho những anh em của họ đang bị áp bức[102].

Cái “án” vẫn cứ treo lơ lửng chưa được gột rửa ra khỏi đầu một số người giữ trọng trách trong môi trường phong trào cộng sản quốc tế. Đã có không ít người nghiên cứu đặt vấn đề rằng, không biết bằng cách nào mà Hồ Chí Minh lại có thể tồn tại được trong một không khí thanh trừng nội bộ gay gắt những năm 1934-1938 ở Liên Xô đối với các chiến sĩ quốc tế đang sống và hoạt động ở đó.

Những năm này, ở Liên Xô đã diễn ra cảnh đàn áp không những một số nhà hoạt động của Đảng Cộng sản Liên Xô, mà còn thanh trừng một số nhân vật chủ chốt của các đảng cộng sản đang ở đó. Tạp chí Những vấn đề lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, số tháng 3 năm 1989, viết: “Hầu hết các cán bộ lãnh đạo đảng cộng sản lưu vong sống ở Liên Xô khi đó như Hunggari (với Tổng Bí thư Bêla Cun), Ba Lan, Mông Cổ…đều bị sát hại”. Còn theo Sự kiện và Nhân chứng, số 8 năm 2005 thì các vụ án trong thời gian này, đặc biệt là từ ngày 1-5-1937 đến ngày 1-9-1938, có gần 40000 cán bộ chỉ huy cao cấp và trung cấp trong Quân đội Liên Xô bị thủ tiêu. Trong những năm 1937-1938, lãnh đạo cao nhất của Liên Xô đã ký các quyết định xử bắn 44440 người; 3 nguyên soái; 3 tư lệnh phương diện quân; 10 tư lệnh tập đoàn quân; 50 tư lệnh quân đoàn; 154 tư lệnh sư đoàn; 25 chính uỷ tập đoàn quân; 58 chính uỷ sư đoàn; 401 đại tá. Trong những năm 1941-1945, 994000 quân nhân đã bị đưa ra xét xử, trong đó có 157000 người bị xử bắn.

Hồ Chí Minh chỉ “bị” cử đi học và làm cán bộ nghiên cứu rồi sau đó làm nghiên cứu sinh là còn có may mắn hơn những người khác. Mãi đến sau này, năm 1950, trong lần bí mật đến Liên Xô của đợt hoạt động ngoại giao vận động các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và ủng hộ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đặc biệt là đi vận động Trung Quốc và Liên Xô, khi hội kiến với J. Xtalin, Hồ Chí Minh còn bị J. Xtalin phê bình về tính “không cách mạng” trong việc giải quyết vấn đề ruộng đất.

Cái đúng không phải bao giờ dễ chấp nhận.

Hồ Chí Minh đã trải qua những năm tháng không mấy êm đẹp, không mấy suôn sẻ trong lòng đại gia đình Quốc tế Cộng sản và trong quan hệ với Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương những năm đầu khi Đảng mới thành lập.

Hình như đó là số phận.

Mà đã là số phận thì Hồ Chí Minh không thể chạy trốn khỏi số phận, không thể chạy trốn khỏi những hậu quả tất yếu từ các hành động của mình.

Hồ Chí Minh chấp nhận, đương đầu, lúc nhu, giữ mình để hoạt động và chờ có dịp, khởi phát và thực thi có hiệu quả những quan điểm của mình. Thời cuộc, thời thế sản sinh ra bản lĩnh chính trị Hồ Chí Minh. Ông vững tâm và tỏ rõ bản lĩnh ấy, nhất là trong những lúc khó khăn nhất của cuộc đời mình và trong những lúc vận mệnh của dân tộc rất hiểm nghèo như “trứng treo đầu đẳng”. Bản lĩnh đó của Hồ Chí Minh thể hiện ở không ít thời kỳ.

Và cũng lạ thay, chính trải qua những sóng gió của quá trình bị hiểu lầm đó, Hồ Chí Minh đã thay đổi được khẩu khí và tính cách có lúc “cứng” của mình để không những vẫn giữ được quan điểm, nguyên tắc, nhưng đã “mềm” hơn rất nhiều trong các mối quan hệ ứng xử. Có lẽ sau những năm tháng ở vào “tình cảnh đau buồn”, không được Quốc tế Cộng sản giao nhiệm vụ gì, cảm thấy đứng ở bên lề, bên ngoài của Đảng, Hồ Chí Minh đã tỉnh ngộ ra cái điều nói chung ở Quốc tế Cộng sản và ở phương Đông, đặc biệt là ở Việt Nam, không phải cứ cứng mà được, không phải cứ nói thẳng, nói to là xong, không phải cứ thẳng thắn là mọi việc đều chạy.

Khi mới đến Liên Xô năm 1923-1924, Hồ Chí Minh đã thấy được tính ưu việt của chế độ Xôviết, ông ca ngợi Liên Xô nếu chưa phải là thiên đường của tất cả mọi người thì ít nhất cũng là thiên đường của trẻ em. Hồ Chí Minh đã viết “Nhật ký chìm tàu” (hiện đang bị thất lạc) để ca ngợi chế độ mới ở Liên Xô. Nhưng cũng chính Hồ Chí Minh, chứ không phải là ai khác, đã lớn tiếng chỉ trích, chỉ trích một cách gay gắt, không khoan nhượng, đối với một số thói hư tật xấu, sự nhũng nhiễu của một số cán bộ Xôviết.

Vào đầu năm 1924, Hồ Chí Minh gửi cho thủ trưởng của mình là Pêtơrốp, Trưởng Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản, một bức thư, nói rõ:

“Tôi đã nhận được bức tối hậu thư của Sở quản lý nhà giục phải trả 40 rúp 35 côpếch về chỗ ở của tôi, không có thì tôi sẽ bị đưa ra tòa.

Tôi phải cho đồng chí biết rằng:

1- Trong những tháng, tháng mười hai, tháng giêng và tháng hai tôi thuê phòng số 176, ở đây bao giờ cũng có 4 và 5 người thuê. Ban ngày thì tiếng ồn liên tục ngăn trở tôi làm việc. Ban đêm tôi bị rệp ăn thịt, không cho tôi nghỉ ngơi.

Vì vậy tôi không muốn trả 5 rúp về tiền thuê nhà để tỏ sự phản đối.

2- Từ tháng 3, tôi nhận một phòng nhỏ, rất nhỏ. Sở quản lý nhà buộc tôi gánh 13 rúp 74 cho tháng 3, và 11 rúp 61 cho những tháng sau.

So sánh không gian hẹp và trang bị nội thất quá đơn sơ với các phòng khác rộng hơn nhiều, tiện nghi hơn, có nhiều đèn, điện thoại, tủ, ghế bành dài, phòng tắm, v.v. và tiền thuê thoả đáng thì giá mà người ta muốn buộc cho tôi là hoàn toàn đáng công phẫn.

3- Vì vậy tôi xin đồng chí vui lòng làm một cuộc điều tra. Và sau cuộc điều tra đó, với mọi quyết định của mọi toà án, tôi tuân theo tinh thần của đồng chí về công bằng và bình đẳng”[103].

Hồi còn hoạt động ở Pari để tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã để lại “ấn tượng” mạnh cho các nhân viên mật thám Pháp, những người được cử theo dõi ông. Trong nhà của Tiến sĩ, luật sư Phan Văn Trường ở Pari, khi tranh luận với nhóm của Phan Châu Trinh về tình hình Việt Nam và cách thức giải phóng dân tộc, mật thám đã nhận xét Nguyễn Ái Quốc là “người quá khích” do phát biểu rất mạnh mẽ lên án sự thối nát của thực dân Pháp trong khi quan điểm của Cụ Phan Châu Trinh có khác.

Hồ Chí Minh cũng là người vừa nhiệt thành vừa có khẩu khí mạnh, trực diện, thậm chí “bốp chát”. ấy là khi đang phát biểu tại Đại hội Tua cuối tháng 12 năm 1920 kêu gọi Đảng Xã hội “cần phải hoạt động một cách thiết thực để ủng hộ những người bản xứ bị áp bức”, thì Giăng Lôngghê (con rể của C. Mác, người thuộc phái hữu của Đảng Xã hội Pháp, gọi là “phái nghị viện”) cắt ngang: “Tôi đã phát biểu ý kiến để bảo vệ những người bản xứ”. Hồ Chí Minh “đập” luôn: “Ngay khi tôi bắt đầu nói, tôi đã yêu cầu mọi người tuyệt đối im lặng…”. Rồi lúc sau, một đại biểu khác của phái nghị viện tiếp tục nói xen vào khi ông đang phát biểu, thì ông lại “quát” tiếp: “Im đi! Phái nghị viện”.

Con người Nguyễn Ái Quốc cũng đã có một số lần được mời lên gặp Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Anbe Xarô (cuối tháng 2-1921 và tháng 6-1922), ông đã “đập bàn, đập ghế” với vị Bộ trưởng này khi Bộ trưởng vừa đe dọa vừa dụ dỗ, xúc phạm tới ông và nhân dân Việt Nam. Hồ Chí Minh đã nói với Anbe Xarô trước khi rời trụ sở của Bộ Thuộc địa Pháp: “Cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi được độc lập”.

Những bài báo của Hồ Chí Minh viết trong quãng thời gian này đả kích thật chua cay, đập thẳng vào mặt sự dối trá, thối nát của những ông quan thực dân. Con người nổi dậy này đã từng được mật thám Pháp cho rằng là một người sẽ cắm cây thập tự chinh lên mộ chủ nghĩa thực dân Pháp. Cũng con người đó, nhiều lúc lại phải đối diện với sự trói buộc cường quyền từ sự tả khuynh của Quốc tế Cộng sản.

Đúng là không có gì bằng thầy dạy của cuộc sống. Những bài học từ thực tế sôi động trong lòng phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc đã được Hồ Chí Minh tự rút ra và từ đó tự điều chỉnh hành vi, thái độ ứng xử. Những năm không vui, những năm ở vào “tình cảnh đau buồn” 1934-1938 đã dạy cho Hồ Chí Minh nhiều điều, rèn dũa thêm cho Hồ Chí Minh tính kiên trì, mềm mỏng hơn trong các mối quan hệ nội bộ, trầm lắng và khôn khéo hơn. Âu đó cũng là cách để giữ mình, để tồn tại, tồn tại để hoạt động phụng sự cho đại sự, cho mục tiêu, lý tưởng cao cả mà bản thân mình đã đặt ra, để đạt hiệu quả cao cho công việc. Cứ gì phải nói to, nói lớn, nói gay gắt mới được.

Qua từng thời kỳ, từng giai đoạn sóng gió của thời cuộc và của cuộc đời mình, Hồ Chí Minh đã học, đã thấm và đã chuốt được thêm chữ “Nhẫn”.

Điều này không dễ và không phải ai cũng làm được.

  1. Được đánh giá cao trở lại

Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu và con đường cách mạng Việt Nam đã được thực tế lịch sử khẳng định giá trị và ý nghĩ to lớn.

Trường-Chinh, với chức trách Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng là người đề cập sớm về vấn đề này. Tháng 7 năm 1948, trong báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ hai, Trư­ờng-Chinh nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là ng­ười mácxít đầu tiên đã tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam. Theo Ng­ười, chủ nghĩa Mác – Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng Việt Nam và nhân dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Chính Ng­ười đã vận dụng một cách xuất sắc chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối, chính sách và phương pháp cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”[104].

Một người viết tương đối nhiều và cũng viết tương đối sớm về Hồ Chí Minh như Trường-Chinh là Phạm Văn Đồng. Những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, Phạm Văn Đồng là ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại Nam Trung Bộ. Phạm Văn Đồng viết bài  “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc” (8-1948). Ông có những trang viết rất cảm động về phong cách Hồ Chí Minh. Những ý tứ Phạm Văn Đồng viết về Hồ Chí Minh toát lên sự hoà quyện cả những vấn đề về quan điểm, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Phạm Văn Đồng cho rằng, Hồ Chí Minh là ng­ười rất giản dị, lão thực, có một tầm nhìn xa trông rộng, “nhìn thấy những cái mọi ng­ười không nhìn thấy: hiện tại, tương lai, cái to, cái nhỏ”. Phạm Văn Đồng nêu lên những suy nghĩ về sự giản dị và lão thực trong các quan điểm chính trị của Hồ Chí Minh. Điều đó giải thích tại sao tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh lại dễ dàng thấm vào lòng người dân Việt Nam như vậy. Đó là những quan điểm giản dị, chân thành, trung thực, đi đúng vào khát vọng của nhân dân, đó là độc lập cho đất n­ước, hạnh phúc, tự do cho nhân dân, “bênh vực quyền lợi của mọi ng­ười Việt Nam, nhân quyền, dân quyền và tài quyền của mọi người Việt Nam”[105].

Phạm Văn Đồng sớm viết về vấn đề cán bộ, đảng viên nên học tập Hồ Chí Minh. Ông cho rằng: “Hồ Chủ tịch thu góp tất cả tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Ngư­ời cũng thu góp tinh hoa của thế giới văn minh, của nhân loại tiến bộ ngày nay”[106]. Phạm Văn Đồng nhấn mạnh: “Học Hồ Chủ tịch là học trung với nước, hiếu với dân, học đoàn kết, học phấn đấu, học cần, kiệm, liêm, chính… nh­ưng học Hồ Chủ tịch cần học nhiều bài học khác nữa. ấy là học con đường chính trị, sự lãnh đạo cuộc cách mạng dân tộc giải phóng Việt Nam của Hồ Chủ tịch ngót ba mươi năm nay. ấy là học luyện con mắt cho tinh, thấy rõ tình hình mỗi lúc, thấy bề mặt và bề trái, thấy cây và rừng, biết mình, biết ngư­ời, không cận thị, không chủ quan, như­ thế để nắm vững thời cơ và chủ trương cho đúng… Cuối cùng chúng ta học ph­ương pháp học tập do Hồ Chủ tịch chủ trương: vừa làm vừa học, làm để học, học để làm, học sách vở đi đôi với học thực tế, học kinh nghiệm, nhất là học quần chúng, ông thầy của tất cả chúng ta”[107].

Đặc biệt là, ở một tầm Đại hội – là tổ chức sinh hoạt chính trị cao nhất của Đảng – trong lịch sử hoạt động của mình, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương có mấy điểm đặc biệt đáng chú ý.

Một là, Đại hội diễn ra từ ngày 11 đến ngày 19-2-1951, tức là sau thời gian dài 15 năm, kể từ Đại hội I tháng 3-1935. Mà thời điểm của Đại hội II diễn ra vào đúng cái năm đầu tiên của nửa sau thế kỷ XX, như trong Báo cáo chính trị của Đại hội II, do Hồ Chí Minh đọc, có viết là: “lúc khoá sổ nửa trước và mở màn nửa sau của thế kỷ XX. Nó là lúc rất quan trọng trong lịch sử loài người”. Nói thế để thấy rằng, 15 năm là một bước khá dài về thời gian, và nhiều hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đóng vai trò như là đại hội, vì ở đó đã xác định, thông qua đường lối, quan điểm lớn có tính cương lĩnh chính trị của Đảng.

Đại hội II thừa hưởng, kế tục và phát triển những cái đúng của các hội nghị Trung ương Đảng trước đó, đặc biệt là Hội nghị tháng 11-1939 ở Bà Điểm, Gia Định (hiện nay là Tp. Hồ Chí Minh) và Hội nghị tháng 5-1941 ở Pác Bó (tỉnh Cao Bằng). Song, với ý nghĩa của một Đảng chính trị cầm quyền, cả đất nước vẫn đang còn trong chiến tranh giải phóng, cho nên Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn chưa thể bàn được nhiều những vấn đề cho việc xây dựng một xã hội mới theo xu hướng cộng sản chủ nghĩa, mặc dù, những năm giữa thế kỷ XX này, thế giới đã tiến những bước dài do sự phục hồi của nhiều quốc gia sau chiến tranh thế giới thứ hai và do cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật đang phát triển mạnh mẽ.

Hai là, đây là Đại hội lần đầu tiên diễn ra ở trong nước, ở xã Vinh Quang, huyện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, trong vùng giải phóng của cách mạng. Hai lần trước, Hội nghị thành lập Đảng tháng 1-1930 và Đại hội I tháng 3-1935 đều diễn ra ở nước ngoài, trong điều kiện bí mật.

Ba là, đây là Đại hội có mặt lãnh tụ Hồ Chí Minh, và điều đặc biệt hơn là, Hồ Chí Minh đã được tôn vinh, nghĩa là sau những tháng năm dài bị nhiều người trong Trung ương Đảng hiểu lầm, thì đến khi về nước đầu năm 1941 và sau đấy, ông thực sự đã trở thành một lãnh tụ có uy tín cao độ và có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của Đảng, nhất là qua Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và ông trở thành Chủ tịch nước đầu tiên của chế độ chính trị mới.

Đó là một quá trình tương đối dài lâu. Khi Hồ Chí Minh được xoá tên khỏi danh sách nghiên cứu sinh ở Mátxcơva cuối năm 1938 thì chiến tranh thế giới thứ hai đang ngấp nghé bên trời Âu. Trước khi về hẳn trong nước, Hồ Chí Minh hoạt động ở Trung Quốc, đặc biệt là vùng phía nam, nơi địa bàn có lẽ là quen thuộc với ông hơn cả. Chắc chắn là Hồ Chí Minh tiếp tục cập nhật tình hình ở Việt Nam và có một số bài viết về thời kỳ này, đặc biệt là bức thư “Những chỉ thị mà tôi nhớ và truyền đạt”, viết năm 1939 về những vấn đề hoạt động của mặt trận đoàn kết dân tộc, rất hay.

Thời cuộc đã chuyển đổi trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trong tình hình thế giới rục rịch cho những biến chuyển xấu đi do chủ nghĩa phát xít trỗi dậy, mà cái trục là phát xít Đức, Italia, Nhật Bản. Nhưng, phong trào cộng sản đã có đường lối của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản năm 1935, một đường lối thích hợp cho việc tập hợp lực lượng rộng rãi nhất chưa từng có để chống chủ nghĩa phátxít quốc tế. Một điều mặc nhiên là những quan điểm của Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam mà cả Quốc tế Cộng sản lẫn Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương hiểu chưa đúng thì giờ đây không mấy ai kỳ thị nữa. Cũng có thể do biến chuyển của thời cuộc như bên trên tôi đã viết, nhưng cũng có thể do nhiều nguyên nhân khác.

Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939 tại Bà Điểm (Gia Định) là một cái mốc lớn, rất lớn, không những cho sự chuyển hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam mà còn, về thực tế, dù có ý thức chủ định hay không có ý thức chủ định, đã “xoá án” lửng lơ bấy lâu nay trên đầu Hồ Chí Minh, vì nhiều người trong Quốc tế Cộng sản và Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương coi ông là người dân tộc chủ nghĩa, quốc gia cải lương.

Thế hệ lãnh đạo của Đảng lúc này là Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Lê Duẩn…, những người không hoạt động ở Liên Xô những năm khuynh tả trong Quốc tế III mà Đại hội VI năm 1928 của Quốc tế Cộng sản là điển hình. Những người này đã khác với “thế hệ” của Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập…, nghĩa là không chịu ảnh hưởng của đường lối tả khuynh của Quốc tế III. Gì thì gì chứ Nguyễn Văn Cừ, một yếu nhân của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã từng nổi tiếng đi “vô sản hoá” trong mỏ than Mạo Khê (Quảng Ninh), người dày công xây dựng các cơ sở cách mạng, lập ra nhiều chi bộ cộng sản ở vùng mỏ Quảng Ninh và sau này lăn lộn trong các phong trào cách mạng ở Nam Bộ, là người có tài về lý luận sắc bén qua tổng kết vấn đề mặt trận 1936-1939, đã viết tác phẩm lừng danh “Tự chỉ trích”, hoàn toàn xứng đáng với sự tín nhiệm của các đồng chí mình khi làm Tổng Bí thư của Trung ương Đảng từ Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11 năm 1939.

Chính Nguyễn Văn Cừ mặc dù không học ở Mátxcơva, không tiếp xúc với Hồ Chí Minh, nhưng lại là người nhanh chóng nhất tiếp thu những quan điểm của Hồ Chí Minh. Hội nghị Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương, khẳng định mục tiêu đánh đổ đế quốc và tay sai, làm cho Đông Dương được hoàn toàn độc lập. Đáng chú ý là, lần đầu tiên, Trung ương Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ chủ trương tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản động; thay khẩu hiệu lập chính quyền Xôviết công nông binh bằng khẩu hiệu lập chính phủ Cộng hoà dân chủ; ngoài lực lượng chính là công-nông, còn đoàn kết với cả tiểu tư sản thành thị và nông thôn, đồng minh hoặc trung lập tạm thời với giai cấp tư sản dân tộc, với cả trung và tiểu địa chủ.

Với cái đà ấy, sau này, đến Hội nghị tháng 11 năm 1940, Hội nghị do Xứ uỷ Bắc Kỳ triệu tập biến thành Hội nghị Trung ương Đảng bởi Trung ương Đảng đã bị địch bắt hết, Trường-Chinh được Hội nghị cử làm Quyền Bí thư Trung ương Đảng, lại kế tiếp cái xu hướng đi vào thống nhất với những quan điểm của Hồ Chí Minh.

Khi Hồ Chí Minh ở phía nam Trung Quốc năm 1939 thì ở trong nước đã tự nhiên có một địa bàn thuận lợi cho Hồ Chí Minh khi nếu ông trở về nước, cộng với một thời gian hoạt động xem xét thêm tình hình và tích luỹ thêm nhiều kinh nghiệm xây dựng lực lượng cách mạng, Hồ Chí Minh đã dần dần trở thành linh hồn cho một đường lối mới trong Trung ương Đảng. Trung ương Đảng cử Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp sang đất Trung Quốc đón Hồ Chí Minh.

Ngày 28-1-1941 là thời khắc đáng nhớ trong cuộc đời của Hồ Chí Minh. Sau 30 năm bôn ba, có thể nói có nhiều quang vinh nhưng cũng không ít long đong lận đận, Hồ Chí Minh vượt Cột mốc số 108 ở biên giới Việt Nam – Trung Quốc (địa phận tỉnh Cao Bằng) trong tư thế của một người đã hoàn toàn được giải toả khỏi những quan điểm hiểu lầm.

Đến Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941 ở Pác Bó (Cao Bằng) thì đây là một mốc cực kỳ sáng trong sự thắng thế của quan điểm của Hồ Chí Minh về các vấn đề hệ trọng của cách mạng Việt Nam, trong đó có vấn đề dân tộc giải phóng. Lần đầu tiên, với tư cách cán bộ Quốc tế Cộng sản, Hồ Chí Minh trực tiếp chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng để chính thức hoá quan điểm của mình. Đây chính là một Hội nghị bàn kỹ nhất, chi tiết nhất mọi tình hình có liên quan đến cách mạng giải phóng dân tộc của Việt Nam theo đúng những văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930.

Bàn tay chuyển tải những chi tiết ấy, theo đúng những quan điểm của Hồ Chí Minh là Trường-Chinh (ông được bầu chính thức làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị này), mặc dù lời văn có vẻ dài dòng mà Hồ Chí Minh đã nhắc nhở Trường-Chinh khắc phục cái lối viết dài ấy. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941 đã nêu cao vấn đề dân tộc: tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương, không phân biệt thợ thuyền, dân cày, phú nông, địa chủ, tư bản bản xứ, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu góp toàn lực đem tất cả ra giành quyền độc lập, tự do cho dân tộc, đánh tan giặc Pháp – Nhật xâm chiếm nước ta. Đây đúng là cái hồn của Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng do Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị hợp nhất của Đảng đầu năm 1930.

Vẫn còn dè dặt đôi chút, có thể sợ bị hiểu lầm, trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941 còn có đoạn viết: “Nói như thế không phải Đảng ta thủ tiêu vấn đề giai cấp đấu tranh trong cuộc cách mạng Đông Dương…Nhưng trong giai đoạn hiện tại, quốc gia trước hết, thì tất thảy những yêu sách của bộ phận mà có hại đến quyền lợi của toàn thể, của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc, thì phải gác lại để giải quyết sau”[108].

Còn đoạn sau đây của Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5 năm 1941 thì đúng là sự thăng hoa của quan điểm Hồ Chí Minh: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[109].

Cái thời gian và cái giá phải trả đối với Hồ Chí Minh, thật quá lớn. Nhưng, đó là điều thật may mắn cho cả một dân tộc. Nếu không, cuộc tranh đấu cho dân tộc độc lập của nước Việt Nam này có thể còn gặp nhiều trắc trở khi mọi biến chuyển của thời cuộc đang cần một con người có cái tầm hiểu biết, nhìn xa, trông rộng, có tài tổ chức, có đủ uy tín để đứng mũi chịu sào, chèo lái con thuyền cách mạng đi đến đích.

Thời cuộc cần một con người. Đúng thế. Đúng như C. Mác đã nêu: “Mỗi thời đại xã hội đều cần có những con người vĩ đại của nó và nếu không có những con người vĩ đại như thế thì thời đại sẽ sáng tạo ra những con người như thế”[110].  Và thời cuộc đã chọn nhân vật chính cho mình, đó là Hồ Chí Minh.

Lịch sử luôn đi theo những bước riêng của nó, có khi khúc khuỷu, gập ghềnh, nhưng rồi cuối cùng nó vẫn cứ theo một quy luật. Bắt đầu một thời kỳ đắc chí của Hồ Chí Minh khi về nước đầu năm 1941, nhưng trước mắt còn nhiều chông gai, hiểm trở. Chính điều này càng làm thấm và đã đọng lại trong Hồ Chí Minh một cảm xúc vui sướng khôn cùng khi viết bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà để đọc tại Vườn hoa Ba Đình trước một biển người chiều ngày 2-9-1945 trịnh trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào, với toàn thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[111].

Cũng do vậy mà Đại hội II đã bầu Hồ Chí Minh làm Uỷ viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng trong tổng số 19 uỷ viên chính thức và 10 uỷ viên dự khuyết, và bầu ông làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam (Nguyên văn trong Diễn văn bế mạc Đại hội, ngày 19-2-1951, là “Đại hội đã bầu Hồ Chủ tịch làm Chủ tịch Đảng” chứ không phải như có người nói rằng, Đại hội chỉ tôn vinh Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng, không thông qua bầu – Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 484).

Đại hội II của Đảng là một Đại hội ghi đậm dấu ấn phong cách Hồ Chí Minh, nó thực sự dân chủ, thiết thực, bảo đảm đúng cho một cái tầm của bộ óc chiến lược của đất nước.

ở phông trang trí của Đại hội, ảnh của Hồ Chí Minh được đặt trang trọng. Nhưng, như đã viết ở phần trên, Đại hội còn tôn vinh cả J. Xtalin và Mao Trạch Đông nữa. Vấn đề này có hoàn cảnh lịch sử của nó. Cũng qua bức ảnh về Đại hội II có đăng ở nhiều sách, chúng ta thấy bức ảnh chân dung Hồ Chí Minh rất to được treo chính giữa phông của Đại hội, chứng tỏ uy tín của Hồ Chí Minh đã được xác nhận như thế nào. Tại sao nói Hồ Chí Minh là một người khiêm tốn mà để cho treo ảnh mình như vậy? Theo tôi, đó cũng là do hoàn cảnh, sự đòi hỏi của hoàn cảnh mà thôi.

Đáng chú ý là Diễn văn khai mạc Đại hội II do Tôn Đức Thắng đọc đã tôn vinh Hồ Chí Minh. Ở trong Diễn văn đó, có đoạn: Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân dựng nên sự nghiệp lớn…là nhờ ở một người lãnh tụ vĩ đại của Đảng, của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam: Hồ Chủ tịch, người cộng sản Đông Dương đầu tiên và là sáng lập viên của Đảng. Người đã đem thân thế và tài năng của mình hoàn toàn cống hiến cho Đảng và cho công cuộc giải phóng của giai cấp công nhân và dân tộc. Người đã cùng một số đồng chí khác thành lập và thống nhất Đảng, và chính Người đã đào tạo cho Đảng những cán bộ lãnh đạo, kể từ Trần Phú, Lê Hồng Phong trở đi; tất cả các lãnh tụ của Đảng đều trực tiếp hưởng thụ sự giáo dục của Người, rồi đem kết quả của sự giáo dục đó, truyền lại cho toàn thể đảng viên của Đảng.

Trong Diễn văn, đặc biệt có đoạn: “Đường lối chính trị, nền nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta hiện nay là đường lối, tác phong và đạo đức Hồ Chủ tịch…Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy, là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng đi mau đến thắng lợi hoàng toàn”[112].

Như vậy, không những Đại hội II cho rằng, toàn Đảng phải học tập “tác phong”, “đạo đức” Hồ Chí Minh, mà còn phải “ra sức học tập đường lối chính trị” của Hồ Chí Minh nữa. Lúc bấy giờ gọi là “đường lối chính trị” của Hồ Chí Minh, tôi cũng có thể hiểu đó như là cách gọi “Tư tưởng Hồ Chí Minh” sau này, bởi vì, như cách diễn đạt của không ít người, thì tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm toàn diện của ông về tất cả các vấn đề liên quan đến sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội – giai cấp, giải phóng con người.

Đại hội II của Đảng có nhấn mạnh đến công lao của Hồ Chí Minh, nhấn mạnh đến đạo đức, tác phong của Hồ Chí Minh, nhưng Đại hội của Đảng đã đề cập đến giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh với cái nghĩa trên đây.

Còn trong bài phát biểu về Luận cương cách mạng Việt Nam “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội”, Trường-Chinh đã dành hẳn một mục – Mục V “Hồ Chủ tịch, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta” trong Phần thứ tư “Đảng Lao động Việt Nam” – để chuyên viết riêng về Hồ Chí Minh, đánh giá cao Hồ Chí Minh.

Trường-Chinh viết: Cách mạng Việt Nam được như hiện thời là nhờ công lao của bao đồng chí, chiến sĩ hy sinh cho cách mạng, nhờ sự cố gắng của đảng viên và quần chúng nhân dân, “nhưng chủ yếu là nhờ công lao vĩ đại của Hồ Chí Minh, người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng ta. Từ ngày thành lập Đảng, dù ở ngoài nước hay ở trong nước, Hồ Chí Minh luôn luôn săn sóc đến Đảng, rèn luyện Đảng thành một đảng cách mạng kiểu mới của giai cấp công nhân, lãnh đạo Đảng vượt mọi khó khăn, nguy hiểm để giành lấy thắng lợi.

Có lẽ đã có nhiều kiểm nghiệm từ thực tế, nhất là qua cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và qua thời kỳ xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ và trải qua mấy chiến dịch thắng lợi của kháng Pháp, Trường-Chinh, vốn là một con người nổi tiếng rất cẩn thận, đã đánh giá rằng: “Đến mỗi bước ngoặt của lịch sử cách mạng Việt Nam, ta thấy Hồ Chủ tịch gạt tay lái một cách rất mau lẹ. Nhờ đó, con tàu của Đảng vượt được bao cơn phong ba bão táp, tránh được bao mỏm đá ghềnh để lướt tới đích”.

Trường-Chinh đánh giá khái quát: Hồ Chí Minh là “người rèn luyện đảng viên, rèn luyện cán bộ. Người nêu gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, nêu gương kiên quyết đấu tranh, nêu gương trung thành rất mực với Đảng, với giai cấp và dân tộc; nêu gương tích cực, vui vẻ, nhẫn nại, giản dị và khiêm tốn”[113].

Tiếp nối luồng ý kiến đã được Tôn Đức Thắng nêu trong Diễn văn khai mạc, lần đầu tiên trong một cuộc sinh hoạt Đảng, mà là sinh hoạt chính trị ở tầm cao nhất là Đại hội Đảng, Trường-Chinh nêu lên một cách cụ thể việc học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh trên mấy điểm:

– Dùng tự phê bình và phê bình để đấu tranh tư tưởng trong Đảng và ngoài Đảng.

– Lề lối làm việc, tác phong lãnh đạo.

– Gắn với quần chúng, tin quần chúng, học quần chúng, lãnh đạo quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng. Đảng viên phải tiên phong, làm gương mẫu cho quần chúng. Làm cho dân tin, dân phục, dân yêu.

– Kết hợp tinh thần hăng hái cách mạng với óc thực tế, gắn lý luận với thực tiễn.

– Luôn luôn nắm lấy khâu chính của công tác, kiên quyết tập trung tinh thần, năng lực làm cho bằng được.

– Có tinh thần, ý thức kỷ luật cao trong mọi công việc, to cũng như nhỏ.

– Thương yêu đồng chí, quý cán bộ.

– Đem tinh thần yêu nước hoà hợp với tinh thần quốc tế chân chính.

– Giữ vững khối đại đoàn kết.

Trong Mục V này, có lẽ đoạn đánh giá sau đây là nổi bật và đặc sắc hơn cả, vì nó chỉ ra đúng vào cái điểm thú vị nhất khi nhìn nhận về con người Hồ Chí Minh: Do sự thấm nhuần lý luận Mác – Lênin, cho nên Hồ Chí Minh áp dụng lý luận đó rất khôn khéo trong mỗi một trường hợp; khôn khéo đó là luôn luôn kết hợp sự mềm dẻo của chiến thuật với sự cứng rắn của nguyên lý, không vì lợi ích thiển cận nhất thời mà chệch hướng cách mạng. Khi định ra những khẩu hiệu và chính sách, không căn cứ vào những công thức đã học thuộc lòng, mà căn cứ vào những điều kiện cụ thể của cuộc vận động cách mạng Việt Nam, vào những điều kiện cụ thể ở trong và ngoài nước, chú trọng kinh nghiệm của nước mình đồng thời học hỏi kinh nghiệm của các nước. Mỗi khi tình hình đổi mới, điều kiện mới của cuộc vận động cách mạng đã đẻ ra, thì phải lập tức xét lại chủ trương, chính sách và phương pháp vận động, căn cứ vào tình hình mới mà định phương châm chiến lược và chiến thuật, không nên bám lấy những khuôn khổ cũ kỹ.

Thì ra, đây chính là sự đánh giá đầu tiên (mà tôi nhấn mạnh lại là: phát biểu tại sinh hoạt Đại hội Đảng), có tính chất khái quát, nghị luận, có lý sự chặt chẽ và nêu bật cái đáng nêu nhất trong tư tưởng và phong cách của Hồ Chí Minh.

II.  Anh hùng dân tộc vĩ đại

Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 phút ngày 2-9-1969 tại Nhà 67 trong Phủ Chủ tịch (Hà Nội), đúng vào ngày Kỷ niệm lần thứ 24 Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Nhà nước mới của Việt Nam do chính ông đọc lời khai sinh với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ.

Thế giới tỏ lòng th­ương tiếc, đánh giá cao cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và đối với sự phát triển tiến bộ của nhân loại. Đọc lại những bức điện, những bức thư chia buồn của nhiều nguyên thủ quốc gia, của những chính khách nổi tiếng trên thế giới, của các tổ chức chính trị nước ngoài gửi đến cho Việt Nam những ngày tháng 9 lịch sử ấy, liệu có bao nhiêu phần trăm là lời ngoại giao thuần tuý, nghĩa là cũng theo phong tục của Việt Nam coi “nghĩa tử là nghĩa tận” để rồi có những lời ca ngợi theo kiểu “xã giao”, “hữu nghị”  đối với Hồ Chí Minh?

Tôi cho là không có cái lối ấy khi người ta đánh giá Hồ Chí Minh, một nhân vật suốt đời hy sinh cái riêng cho sự tiến bộ của Việt Nam cũng như của nhân loại.

Không có chỗ để viết lấy một lời chia buồn đến gia quyến Hồ Chí Minh, bởi Hồ Chí Minh không có vợ con, còn những người trong gia đình thân thuộc gần nhất của Hồ Chí Minh đã ra đi trước ông cả rồi. Quả thực, xét riêng về mặt này thì Hồ Chí Minh là người khiếm khuyết. Hồ Chí Minh sống một cuộc sống dâng hiến cho đời, cho dân tộc, cho nhân loại cần lao, tiến bộ. Sự ra đi của Hồ Chí Minh đúng là sự nuối tiếc cho cái đẹp, cái tốt, cái thánh thiện, mà lạ thay, ngay cả đối với những người khác “chiến tuyến” với Hồ Chí Minh, nếu được gọi và phải gọi thì cũng là như thế. Hồ Chí Minh đi vào cõi bất tử, là con người của sự sống.

Lẽ dĩ nhiên, đối với sự ra đi của Hồ Chí Minh, Việt Nam phải tổ chức một lễ truy điệu trọng thể. Điều đó được diễn ra vào một buổi sáng ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình (Thủ đô Hà Nội), nơi thường được tổ chức cho những buổi lễ trọng của đất nước, bắt đầu từ chính ngày 2-9-1945. Điều lạ thay, sáng 9-9-1969 là một buổi trời quang mưa tạnh sau những ngày lê thê Hà Nội và cả vùng đồng bằng Bắc Bộ mưa tầm tã.

Nhà thơ Tố Hữu, lúc ấy đang là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đã “chộp” cái biểu cảm của thiên nhiên ấy vào trong một bài thơ dài về Hồ Chí Minh, trong đó có những câu:

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

Đời tuôn nước mắt trời tuôn mưa

Và, lẽ dĩ nhiên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải có một Điếu văn, trong đó đánh giá cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh — lãnh tụ của Đảng và dân tộc — một khi đã khuất núi, một khi đã rụng về cội. Có thể chăng, việc đánh giá về người đã khuất có phần dễ hơn là đánh giá về người đó khi người đó đang sống?

Tôi cho rằng, đối với Hồ Chí Minh, sự đánh giá của Đảng Cộng sản, Chính phủ Việt Nam đối với ông, từ khi thôi bị hiểu lầm trở đi, là hoàn toàn nhất quán. Chỉ có điều, đọc lại Điếu văn ấy, thấy có nhiều đoạn thật đúng và thật hay, thật cảm kích. Trong một không gian thương tiếc, lại được chất giọng đọc diễn cảm và đầy sâu lắng của Bí thư­ thứ nhất Lê Duẩn, một chất giọng Quảng Trị pha chút giọng Nam Bộ và Bắc Bộ, hầu như không ai là không bùi ngùi. Có nhiều người khóc tại buổi lễ và khóc khi nghe qua làn sóng điện tường thuật trực tiếp buổi lễ ấy (Rất muộn, Việt Nam đến lúc này chưa có vô tuyến truyền hình). Lúc đó, tôi đang là một thanh niên học sinh ở một miền quê xa Hà Nội, nghe qua Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, tôi chưa cảm nhận được nhiều về ý tứ, nội dung của bài Điếu văn, nhưng đúng là có một không khí thật đặc biệt, khó tả trong tất cả những người xung quanh, nhất là đối với những thày giáo của chúng tôi quê ở miền Nam Việt Nam.

Điếu văn không dài, khoảng 3 500 chữ gì đó thôi, có nhiều đoạn đánh giá về Hồ Chí Minh rất cảm động, và đã dùng cả những từ cao quý nhất để đánh giá về Hồ Chí Minh. Đó là những từ “lãnh tụ thiên tài”, “người thầy vĩ đại”, “nhà yêu nước vĩ đại”, chiến sĩ quốc tế “lỗi lạc”, “xuất sắc”, v.v. Có đoạn sau đây tôi cho là đặc sắc hơn cả: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nư­ớc ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, ngư­ời anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nư­ớc ta”[114].

Vậy là, lần đầu tiên trong một văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta thấy Trung ­ương Đảng đánh giá Hồ Chí Minh là “Anh hùng dân tộc vĩ đại”. Đây là sự tôn vinh chính thức, rất có ý nghĩa của một tổ chức là Ban Chấp hành Trung ư­ơng Đảng khi đánh giá cuộc đời và sự nghiệp của lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, với tư cách là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Lê Duẩn nói tại Hội nghị cán bộ huyện An Thụy (Hải Phòng) ngày 31-10-1969, nêu lên những quan điểm lớn của Hồ Chí Minh quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đoàn kết, tình thương yêu đồng bào, đồng chí… Lê Duẩn nói: “Chúng ta vừa phải trải qua những ngày đau thương vô hạn. Nhưng không lúc nào bằng lúc này, mỗi người chúng ta đều thấy vô cùng tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Việt Nam đẹp nhất, vĩ đại nhất đã làm rạng rỡ cho dân tộc Việt Nam ta. Đối với tất cả chúng ta, không có vinh dự nào to lớn hơn là được sống trong thời đại vẻ vang của nước nhà gắn liền với tên tuổi của Hồ Chủ tịch. Sống như thế dù chỉ một ngày vẫn quý hơn là quằn quại ngàn, vạn ngày trong cuộc đời nô lệ”[115].

Viết nhân dịp Kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (2-1970), trong một tác phẩm của mình, Lê Duẩn khẳng định: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin”[116]. Lê Duẩn nhấn mạnh: “Hồ Chủ tịch là lãnh tụ vĩ đại của Đảng và là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc. Người là tượng trưng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý tưởng độc lập, tự do với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, giữa chủ nghĩa yêu nước nồng nàn với tinh thần quốc tế vô sản chân chính. Hồ Chủ tịch là kết tinh những giá trị tinh thần của nhân dân ta suốt bốn nghìn năm lịch sử. ở Người, tinh hoa của dân tộc được kết hợp với chủ nghĩa Mác – Lênin, đỉnh cao của tư tưởng loài người trong thời đại mới”[117]. “Cuộc đời của Hồ Chủ tịch trong như ánh sáng. Đó là một tấm gương tuyệt vời về chí khí cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập tự chủ, lòng nhân đạo và yêu mến nhân dân thắm thiết, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị. Tư tưởng và đạo đức cao cả của Người mãi mãi soi sáng và nâng cao tâm hồn chúng ta. Ngọn cờ chói lọi của Người mãi mãi chỉ lối cho chúng ta tiến lên phía trước”[118].

Trong những năm 70 của thế kỷ XX, Lê Duẩn còn có nhiều bài viết, bài nói đề cập những cống hiến của Hồ Chí Minh. Đó là Diễn văn tại lễ kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đảng (2-1970) nêu rõ “Quyết tâm thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; bài viết nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh V.I. Lênin; bài nói Hãy xứng đáng là đoàn thanh niên mang tên Bác nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 ngày thành lập Đoàn, tháng 3-1971. Tại cuộc mít tinh trọng thể mừng Việt Nam đại thắng (5-1975), Lê Duẩn đọc Diễn văn, nhấn mạnh: “Hãy xứng đáng hơn nữa với Bác Hồ“.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam  tháng 12 năm 1976 diễn ra sau khi cuộc chiến đấu chống xâm lư­ợc Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nước đư­ợc thống nhất. Khi tổng kết lại giai đoạn chống Mỹ, cứu nước, trong văn kiện của Đại hội có đoạn: “Thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cũng như­ những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam ngót nửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ng­ười sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh nền Cộng hoà Dân chủ Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại (Tôi nhấn mạnh – MQT), người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế”[119].

Như­ vậy, không có gì khác trước trong đánh giá về Hồ Chí Minh. Cũng đánh giá Hồ Chí Minh là “Anh hùng dân tộc vĩ đại”, như­ng năm 1969 sự đánh giá như­ vậy là ở “tầm” của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, còn lần này, cuối năm 1976, sự đánh giá về Hồ Chí Minh là ở “tầm” Đại hội Đảng – “cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng” như­ tất cả Điều lệ Đảng được các Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng nhất quán thông qua, ghi rõ.

Cũng cần nói rằng, Hồ Chí Minh qua đời khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam vẫn đang ở hồi cam go, quyết liệt nhất. Cuộc kháng chiến vẫn chưa ngưng nghỉ. Năm 1969, tiếng súng, tiếng bom đạn mới tạm thời yên ắng ở miền Bắc Việt Nam, thực ra thì mới yên ắng từ Hà Tĩnh, Nghệ An trở ra, rồi đến tháng 4 năm 1972, Mỹ lại đem máy bay, tàu chiến đánh phá trở lại (Gọi là cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai). Tiếng súng vẫn rền nổ ở mảnh đất phía nam của Tổ quốc Việt Nam.

Người lãnh tụ Đảng và dân tộc nằm xuống khi sự nghiệp đuổi thế lực xâm lược ngoại bang ra khỏi đất nước đang còn dang dở. Nhưng, cái đà thắng đã có. Và, điều quan trọng là Hồ Chí Minh đã đào tạo, bồi dưỡng được nhiều học trò tài ba kế tục sự nghiệp còn dang dở của mình. Quan trọng hơn nữa là Hồ Chí Minh có một dân tộc, một nhân dân, một quân đội đoàn kết thành một khối thống nhất, quả cảm, đi theo đường lối của mình, trên cái nền văn hoá của dân tộc kết hợp với tinh hoa của nhân loại. Hồ Chí Minh đi vào tâm khảm mọi người với tư cách là một nhà văn hoá hơn là với tư cách là một lãnh tụ chính trị.

Tại buổi mít tinh trọng thể kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh Hồ Chí Minh (5-1980), Lê Duẩn đọc lời khai mạc, nhấn mạnh: “Chúng ta nguyện tiếp tục học tập tư tưởng cách mạng của Người, không ngừng trau dồi đạo đức cách mạng, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Bác, đồng thời chăm lo “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau” để kế tục xứng đáng sự nghiệp vẻ vang của Bác và của Đảng”.

Trong dịp này, trên cương vị Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trường-Chinh đã đọc bài Diễn văn tại cuộc mít tinh kỷ niệm lần thứ 90 Ngày sinh của Hồ Chí Minh. Trong Diễn văn, Trường-Chinh khẳng định: “Công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với nhân dân ta thật như trời như biển. Kỷ niệm ngày sinh của Người, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại sự nghiệp mà Người đã để lại cho chúng ta. Đó là sự nghiệp của một người mácxít chân chính, một nhà tư tưởng vĩ đại, một nhà chiến lược thiên tài, một nhà tổ chức xuất sắc, một chiến sĩ cộng sản có phẩm chất và đạo đức cao quý”[120].

Cuối Diễn văn, Trường-Chinh nhắc lại: “Kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta hãy ra sức học tập tư tưởng, đạo đức và tác phong của Người để thực hiện đầy đủ Di chúc thiêng liêng của Người và hoàn thành tốt mọi  nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới”[121]. “Là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đóng một vai trò quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam và tích cực góp phần vào cách mạng thế giới”[122].

Nhìn lại một quá trình trên đây, như vậy là đến tháng 5 năm 1980, nhiều vị lãnh đạo Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam đã đề cập vấn đề “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin” với nội dung xuyên suốt là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là những vấn đề về chiến lược và sách lược, về tổ chức lực lượng, về đạo đức và tác phong.

Những nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh trong dịp kỷ niệm lần thứ 90 ngày sinh của Người đã được chính thức đưa vào Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (3-1982): “Đảng phải đặc biệt coi trọng việc tổ chức học tập một cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong toàn Đảng”[123].

Đặc biệt là trong dịp kỷ niệm 95 năm Ngày sinh Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một di sản vô giá về tư tưởng, đạo đức và tác phong. Chúng ta phải ra sức nghiên cứu, học tập để vận dụng đầy đủ trong việc định ra đường lối, chính sách của Đảng, trong hoạt động của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân”[124]. Hồ Chí Minh đã mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, thời đại độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là thời đại Hồ Chí Minh quang vinh. Tất cả các thế hệ người Việt Nam ngày nay và mai sau nguyện “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”.

Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Đây là Đại hội mở đầu sự nghiệp đổi mới. Trong Diễn văn khai mạc, Nguyễn Văn Linh nhấn mạnh: “Đại hội chúng ta thành kính hướng về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, vị lãnh tụ kính yêu mà tư tưởng và đạo đức sống mãi trong sự nghiệp của nhân dân ta với sức giáo dục và động viên đặc biệt sâu xa và nóng hổi, đòi hỏi chúng ta nhìn thẳng vào sự thật và rút ra những kết luận đích đáng”.

  1. Sự kiện của UNESCO

M¹ng http://www.thehehochiminh.net ®­a nhiÒu th«ng tin vÒ c¸c tæ chøc quèc tÕ ®¸nh gi¸ Hå ChÝ Minh. §Æc biÖt nhÊt lµ sau khi Hå ChÝ Minh qua ®êi th¸ng 9 n¨m 1969, c¸c c¸ nh©n, c¸c tæ chøc chÝnh trÞ-x· héi trªn thÕ giíi ®· tËp trung ®¸nh gi¸ cuéc ®êi, sù nghiÖp Hå ChÝ Minh, vai trß cña Hå ChÝ Minh ®èi víi sù ph¸t triÓn v¨n minh, tiÕn bé cña nh©n lo¹i. Nh÷ng ®¸nh gi¸ ®ã tõ nh÷ng ng­êi céng s¶n, tõ nh÷ng chÝnh kh¸ch kh«ng céng s¶n, tõ nh÷ng nhµ ho¹t ®éng x· héi næi tiÕng, nh÷ng v¨n nghÖ sÜ cã tªn tuæi. TÊt c¶, tÊt c¶ ®Òu ®¸nh gi¸ sù cèng hiÕn lín lao cña Hå ChÝ Minh ®èi víi sù ph¸t triÓn cña nh©n lo¹i, kh«ng nh÷ng ®èi víi thÕ kû XX mµ cßn ®èi víi thÕ kû XXI vµ c¸c thÕ kû tiÕp theo.

Nay th× thÊy mét sè m¹ng ®iÖn tö tiÕng ViÖt nãi xÊu Hå ChÝ Minh. §iÒu nµy xuÊt ph¸t tõ th¸i ®é th©m thï ®èi víi sù nghiÖp c¸ch m¹ng ViÖt Nam do §¶ng Céng s¶n ViÖt Nam l·nh ®¹o. GhÐt sù nghiÖp råi ghÐt lu«n c¶ con ng­êi cña sù nghiÖp Êy — ®ã lµ c¸i l«gÝc cña nh÷ng ý kiÕn th©m thï.

Cßn trªn thÕ giíi, Hªr«mi« Carªra – nhµ b¸o Vªnªxuªla – trong b¸o DiÔn ®µn nh©n d©n, sè 775, ngµy 19-5-1990, viÕt r»ng: “Bé m¸y tuyªn truyÒn cña ®Õ quèc vµ c¸c thÕ lùc ph¶n ®éng ®· rÊt næi tiÕng trong nghÖ thuËt vu khèng xÊu xa, hßng lµm mÊt uy tÝn nh÷ng ®Þch thñ cña hä. Hä ®· chi tiªu rÊt nhiÒu tiÒn hßng b«i nhä tr­íc d­ luËn quèc tÕ ®èi víi nh÷ng ai, b»ng c¸ch nµy hay c¸ch kh¸c, chèng l¹i sù thèng trÞ cña hä…TÊt c¶ nh÷ng l·nh tô céng s¶n næi tiÕng trªn thÕ giíi ®Òu ®­îc hä d¸n cho nh÷ng nh·n hiÖu nh­ lµ kÎ c­íp hoÆc kÎ khñng bè. Duy chØ cã Hå ChÝ Minh, do cuéc ®êi vµ ®¹o ®øc cña «ng, ®· lµm cho nh÷ng kÎ chuyªn nghÒ vu c¸o ph¶i kÝnh nÓ”.

Tr­íc khi nªu sù kiÖn cña UNESO n¨m 1987 ®èi víi Hå ChÝ Minh, t«i muèn nªu mét vµi sù kiÖn cã liªn quan.

Vµo thêi ®iÓm s¾p söa kÕt thóc thÕ kû XX cña thiªn niªn kû thø hai vµ b­íc sang thÕ kû XXI cña thiªn niªn kû thø ba, tê Time (Thêi b¸o) cña Mü ®· phèi hîp víi H·ng TruyÒn h×nh CBS lµm mét cuéc lÊy ý kiÕn b»ng c¸ch ph¸t ra 7 triÖu phiÕu göi ®i nhiÒu n­íc ®Ó bÇu chän lÊy 100 nh©n vËt næi tiÕng nhÊt, cã ¶nh h­ëng nhÊt thuéc c¸c lÜnh vùc kh¸c nhau cña thÕ kû XX. KÕt qu¶ ®­îc c«ng bè cuèi th¸ng 12 n¨m 1999. Trong sè 100 nh©n vËt ®­îc chän, cã Hå ChÝ Minh. Trong sè 100 nh©n vËt ®ã, ng­êi ta l¹i ph©n ra danh s¸ch 20 nhµ l·nh ®¹o cã uy tÝn nhÊt trªn thÕ giíi trong thÕ kû XX. Hå ChÝ Minh lµ mét trong sè 20 nh©n vËt ®ã, cïng víi V.I. Lªnin, M. G¨ng®i, W. Sícxin, A. Kh«mªny, N. Man®ªla, T. Rud¬ven, F.D. Rud¬ven, M. Xang¬, Luth¬ Kinh, R. Rig©n, v.v. §iÒu ®ã gi¶i thÝch t¹i sao Tr­ëng §¹i diÖn cña tuÇn b¸o Time ë Hµ Néi lóc Êy coi “Hå ChÝ Minh lµ mét trong nh÷ng nh©n vËt cã ¶nh h­ëng m¹nh mÏ nhÊt trong thÕ kû XX”.

Tr­íc ®ã n÷a, n¨m 1983, ®Ó chuÈn bÞ cho sù ra ®êi cña t¸c phÈm lo¹i tõ ®iÓn tiÓu sö mang tªn V¨n ho¸ thÕ kû XX (XXth Century culture) do Alan Bullock vµ R.B. Wodinger chñ biªn (Do Harper and Row xuÊt b¶n n¨m 1983), 300 nhµ khoa häc trªn thÕ giíi ®· ®­îc hái ý kiÕn ®Ó b×nh chän danh nh©n v¨n ho¸ thÕ kû XX. C¸c nhµ khoa häc nµy ®· th¶o luËn nh÷ng tiªu chÝ thÕ nµo lµ danh nh©n v¨n ho¸ thÕ giíi trong thÕ kû XX. C¸c nhµ khoa häc ®· ®­a ra quan niÖm nh­ sau:

a. ThÕ kû XX lµ thÕ kû cña nh÷ng ®¶o lén khoa häc vµ c«ng nghÖ, ch¼ng h¹n ThuyÕt T­¬ng ®èi cña A. Anhxtanh. Ai ph¸t minh ra nh÷ng kÕt qu¶ khoa häc vµ c«ng nghÖ lµm ®¶o lén thÕ giíi th× ng­êi ®ã lµ danh nh©n v¨n ho¸ thÕ giíi.

b. ThÕ kû XX lµ thÕ kû cña nh÷ng cuéc chiÕn tranh tµn b¹o. Ai tÝch cùc ®Êu tranh cho quyÒn sèng cña con ng­êi, bªnh vùc con ng­êi, gi¶i phãng con ng­êi, lµ ng­êi tiªu biÓu cho chñ nghÜa nh©n v¨n, ng­êi ®ã lµ danh nh©n v¨n ho¸ thÕ giíi.

c. ThÕ kû XX lµ thÕ kû phi thùc d©n ho¸ (dÐcolonisation). Ai lµ ng­êi gãp phÇn tÝch cùc gi¶i phãng c¸c thuéc ®Þa, gi¶i phãng c¸c d©n téc bÞ ¸p bøc, lµm ®¶o lén thÕ giíi thuéc ®Þa, vÏ l¹i b¶n ®å chÝnh trÞ thÕ giíi, th× ®ã lµ danh nh©n v¨n ho¸ thÕ giíi.

Hå ChÝ Minh ®· ®­îc 300 nhµ khoa häc chän lµ mét nh©n vËt tra cøu trong c«ng tr×nh ®ã (c¸c trang 322, 333).

C¸c nhµ khoa häc ®ã thõa biÕt r»ng, Hå ChÝ Minh lµ ng­êi céng s¶n, mµ mét sè ng­êi trªn thÕ giíi kh«ng ­a chñ nghÜa céng s¶n. Nh­ng Hå ChÝ Minh lµ ng­êi céng s¶n ®Ých thùc, lµ nhµ v¨n ho¸, lµ chiÕn sÜ tiªn phong cña mét d©n téc tiªn phong tÝch cùc nhÊt, hy sinh cho sù nghiÖp gi¶i phãng c¸c d©n téc bÞ ¸p bøc, gi¶i phãng con ng­êi, cho nªn Hå ChÝ Minh xøng ®¸ng ®­îc chän.

Trong c¸c cuéc th¶o luËn, 300 nhµ khoa häc nhÊt trÝ cho r»ng: “Hå ChÝ Minh lµ nhµ m¸cxÝt hay nhµ Nho, ®iÒu ®ã kh«ng quan träng. Hå ChÝ Minh lµ ng­êi céng s¶n hay lµ ng­êi d©n téc chñ nghÜa, ®iÒu ®ã kh«ng quan träng. ChØ cÇn biÕt Hå ChÝ Minh lµ NguyÔn ¸i Quèc – ng­êi yªu n­íc – thÕ lµ ®ñ ®Ó xÕp «ng vµo hµng danh nh©n v¨n ho¸ thÕ giíi thÕ kû XX. V× Hå ChÝ Minh lµ ng­êi khëi x­íng vµ gi­¬ng cao ngän cê gi¶i phãng c¸c d©n téc thuéc ®Þa vµ trë thµnh ng­êi dÉn ®­êng chñ chèt ®­îc mÆc nhiªn thõa nhËn vµ kÝnh träng cña ch©u ¸ vµ cña thÕ giíi thø ba”[125].

Cßn ®èi víi UNESCO, cã mét sù kiÖn liªn quan ®Õn Hå ChÝ Minh cÇn lµm s¸ng râ h¬n.

Víi sù cèng hiÕn næi bËt cña Hå ChÝ Minh ®èi víi sù ph¸t triÓn cña ®Êt n­­íc vµ ®èi víi sù ph¸t triÓn v¨n minh tiÕn bé cña nh©n lo¹i, ViÖt Nam — mét quèc gia thµnh viªn — ®· göi hå s¬ tíi Tæ chøc Gi¸o dôc, Khoa häc vµ V¨n ho¸ cña Liªn hîp quèc (UNESCO) ®Ó Tæ chøc nµy xem xÐt kû niÖm nh©n dÞp 100 n¨m Ngµy sinh cña «ng.

Trong Kho¸ häp toµn thÓ lÇn thø XXIV t¹i Pari (thñ ®« n­­íc Céng hoµ Ph¸p) tõ ngµy 20-10 ®Õn ngµy 20-11-1987, UNESCO cã mét ch­­¬ng tr×nh nghÞ sù th¶o luËn, xem xÐt vµ cuèi cïng ®· th«ng qua NghÞ quyÕt vÒ Kû niÖm 100 n¨m Ngµy sinh cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh[126].

CÇn nh¾c l¹i r»ng, n¨m 1974, t¹i Kho¸ häp lÇn thø XVIII cña m×nh, §¹i Héi ®ång UNESCO ®· ®Þnh víi nhau r»ng: ®Þnh kú xÐt ®Ó tæ chøc kû niÖm c¸c danh nh©n v¨n ho¸ thÕ giíi theo tiªu chÝ chung nhÊt lµ “nh÷ng ng­êi ®· ®Ó l¹i nh÷ng dÊu Ên quan träng trong qu¸ tr×nh ph¸t triÓn v¨n minh, tiÕn bé cña nh©n lo¹i”. Nh÷ng danh nh©n nµy sÏ ®­îc long träng kû niÖm nh©n kû niÖm c¸c n¨m sinh ch½n 100, 200… T¹i Kho¸ häp lÇn thø XXIV, §¹i Héi ®ång UNESCO ®· xem xÐt ®Ó ra nghÞ quyÕt kû niÖm c¸c danh nh©n cã c¸c kû niÖm n¨m sinh ch½n vµo c¸c n¨m 1988, 1989, 1990. Hå ChÝ Minh lµ 1 trong 6 ng­êi cã hå s¬ ®Ò cö (cã c¶ J. Nªru (Ên §é), A. Macarenc« (Liªn X«), 1 cña Th¸i Lan, 1 cña Céng hoµ Liªn bang §øc, 1 cña Thæ NhÜ Kú). TÝnh ®Õn Kho¸ häp §¹i Héi ®ång UNESCO lÇn thø XXIV n¨m 1987 nµy, ®· cã 21 ng­êi ®­îc ra nghÞ quyÕt kû niÖm.

Bèi c¶nh cña viÖc xem xÐt c¸c danh nh©n trong Kho¸ häp §¹i Héi ®ång UNESCO cuèi n¨m 1987 kh«ng mÊy su«n sÎ, v× tr­íc ®ã ®· cã mét sè quèc gia v× lý do chÝnh trÞ ®· rót ra khái danh s¸ch thµnh viªn cña UNESCO. Cã n­íc chØ ®Ò nghÞ nªn xem xÐt nh÷ng hå s¬ ®Ò cö nµo mµ cã n¨m ch½n 100 (®Õn n¨m 1988) th«i, v× hä cßn “lÊn cÊn”, ch­a th«ng l¾m vÒ c¸c tiªu chÝ. Cã n­íc ®Ò nghÞ UNESCO nªn h¹n chÕ kû niÖm c¸c danh nh©n…

Trong Kho¸ häp lÇn thø XXIV nµy, UNESCO t«n vinh J. Nªru lµ “Nhµ qu¸n qu©n cña phong trµo gi¶i phãng d©n téc”, víi 45 phót th¶o luËn vµ th«ng qua nghÞ quyÕt.

PhÝa ViÖt Nam dù kiÕn khi xÐt Hå ChÝ Minh cã thÓ khã kh¨n h¬n, bëi nhiÒu lý do. Lóc nµy, vÊn ®Ò Campuchia vµ vÊn ®Ò ng­êi ViÖt Nam v­ît biªn tþ n¹n ®ang næi lªn, nhiÒu n­íc ®ang hiÓu lÇm vµ kh«ng thiÖn c¶m. Mét b¶n kiÕn nghÞ göi ®Õn §¹i Héi ®ång cã c¸c ch÷ ký cña 79 ng­êi ViÖt Nam v­ît biªn, di t¶n ph¶n ®èi viÖc xÐt Hå ChÝ Minh. Trong lóc ®ã, hÖ thèng x· héi chñ nghÜa ®ang “cã vÊn ®Ò”, nghÜa lµ ®ang lón s©u vµo cuéc khñng ho¶ng toµn diÖn. Trong tæng l­îng phiÕu 159 n­íc thµnh viªn th× c¸c n­íc x· héi chñ nghÜa chØ cã 8.

ThÕ nh­ng, t×nh h×nh kh«ng r¾c rèi, phøc t¹p nh­ chóng ta t­ëng. Cuéc th¶o luËn cña §¹i Héi ®ång Kho¸ häp XXIV diÔn ra trong kh«ng khÝ h÷u nghÞ, t×nh c¶m ch©n thµnh ®èi víi nh©n vËt ®­îc ®Ò xuÊt trong hå s¬ lµ Hå ChÝ Minh. GÇn 30 n­íc ®· ký tªn ®ång t¸c gi¶ dù th¶o NghÞ quyÕt vÒ Kû niÖm 100 n¨m Ngµy sinh cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh göi lªn §¹i Héi ®ång. Cuéc häp TiÓu ban c¸c vÊn ®Ò v¨n ho¸ ®· th¶o luËn dù th¶o nµy vµ ®­îc th«ng qua t¹i §¹i Héi ®ång b»ng biÓu quyÕt víi ®a sè tuyÖt ®èi. T¹i Héi th¶o quèc tÕ vÒ Hå ChÝ Minh t¹i Thñ ®« Hµ Néi, c¸c ngµy 29 vµ 30 th¸ng 3 n¨m 1990, «ng NguyÔn Dy Niªn, Thø tr­ëng Bé Ngo¹i giao cña ViÖt Nam, Chñ tÞch Uû ban UNESCO cña ViÖt Nam, ®· cã bµi thuËt l¹i nh÷ng nÐt c¬ b¶n nhÊt cña sù kiÖn nµy.

Trong qu¸ tr×nh th¶o luËn, Chñ to¹ Phiªn häp lµ mét quý bµ ng­êi Th¸i Lan. Bµ ®· cho r»ng, t­ t­ëng Hå ChÝ Minh lµ tµi s¶n chung cña nh©n lo¹i, cã gi¸ trÞ vÜnh h»ng, lµ niÒm tù hµo cña c¸c d©n téc. Mét ®¹i biÓu cña Céng hoµ D©n chñ §øc cho r»ng, chñ nghÜa nh©n v¨n Hå ChÝ Minh lµ chñ nghÜa nh©n v¨n cña mäi thêi ®¹i. Mét ®¹i biÓu cña Xri Lanca cho r»ng, Hå ChÝ Minh lµ mét nhµ tiªn tri, Hå ChÝ Minh lµ ngän h¶i ®¨ng cña c¸c d©n téc bÞ ¸p bøc trªn toµn thÕ giíi. Cßn «ng Tr­ëng §oµn ®¹i biÓu cña Ên §é th× cho r»ng, Hå ChÝ Minh lµ mét danh x­ng cao quý, kh«ng chØ n»m ngay trong mçi chóng ta, mµ g¾n víi sù tiÕn bé cña thêi ®¹i, v× vËy, viÖc kû niÖm 100 n¨m Ngµy sinh cña Hå ChÝ Minh võa lµ mét sù kiÖn quan träng, võa lµ niÒm tù hµo, niÒm vinh dù lín lao ®èi víi mäi ng­êi lao ®éng.

NghÞ quyÕt vÒ Kû niÖm 100 n¨m Ngµy sinh cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh cã ®o¹n viÕt:

“XÐt thÊy viÖc tæ chøc kû niÖm trªn quy m« quèc tÕ nh÷ng nhµ trÝ thøc lçi l¹c vµ danh nh©n v¨n ho¸ lµ gãp phÇn vµo viÖc thùc hiÖn nh÷ng môc tiªu cña UNESCO vµ vµo sù hiÓu biÕt trªn thÕ giíi,

Nh¾c l¹i QuyÕt ®Þnh sè 18 C-4351 vÒ viÖc tæ chøc kû niÖm nh÷ng vÜ nh©n vµ nh÷ng sù kiÖn ®· ®Ó l¹i dÊu Ên trong qu¸ tr×nh ph¸t triÓn cña nh©n lo¹i,

Ghi nhËn r»ng, n¨m 1990 sÏ ®­­îc ®¸nh dÊu b»ng lÔ kû niÖm lÇn thø 100 Ngµy sinh cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh, vÞ anh hïng gi¶i phãng d©n téc vµ lµ nhµ v¨n ho¸ kiÖt xuÊt cña ViÖt Nam”.

Nguyªn v¨n tiÕng Ph¸p ®o¹n cuèi cïng cña ba ®o¹n trÝch dÉn nµy trong NghÞ quyÕt cña UNESCO nh­­ sau: “Notant que, 1990 marquera le centiÌme anniversaire de la naissance du PrÐsident Ho Chi Minh, hÐro de la libÐration nationale et Ðminent homme de culture du Vietnam”. §¸ng chó ý lµ côm tõ Ðminent homme de culture ®­îc mét sè ng­­êi dÞch lµ Nhµ v¨n ho¸ lín.

Theo t«i, b¶n NghÞ quyÕt b»ng tiÕng Anh (trong ®ã cã ghi lµ: Ho Chi Minh, Vietnamese hero of national liberation and great man of culture) th× cã thÓ dÞch Nhµ v¨n ho¸ lín, nh­ng còng cã thÓ dÞch lµ Nhµ v¨n ho¸ ­u tó (hoÆc còng cã thÓ dÞch lµ Nhµ v¨n ho¸ xuÊt s¾c hoÆc Nhµ v¨n ho¸ kiÖt xuÊt – great man of culture). Nh­ng ®èi víi b¶n tiÕng Ph¸p th× ph¶i dÞch lµ Nhµ v¨n ho¸ kiÖt xuÊt míi ®óng nghÜa. Mµ ®©y c¶ hai c¸i danh: Anh hïng gi¶i phãng d©n téc vµ Nhµ v¨n ho¸ kiÖt xuÊt ®Òu lµ cña ViÖt Nam (du Vietnam), chø kh«ng ph¶i lµ Anh hïng gi¶i phãng d©n téc lµ cña ViÖt Nam, cßn Nhµ v¨n ho¸ kiÖt xuÊt th× l¹i lµ cña thÕ giíi[127].

Mét vÊn ®Ò cÇn l­­u ý n÷a lµ: b¶n th©n NghÞ quyÕt nµy cña UNESCO ®­­îc th«ng qua theo lêi më ®Çu cã tÝnh mÆc ®Þnh mµ t«i ®· trÝch dÉn ë hai ®o¹n ®Çu bªn trªn. §¸ng chó ý lµ nh÷ng côm tõ, nh­ “Nh÷ng nhµ trÝ thøc lçi l¹c vµ danh nh©n v¨n ho¸” còng nh­ QuyÕt ®Þnh khung sè 18 C-4351 cña UNESCO “Kû niÖm nh÷ng vÜ nh©n vµ nh÷ng sù kiÖn ®· ®Ó l¹i dÊu Ên trong qu¸ tr×nh ph¸t triÓn cña nh©n lo¹i” th× cã thÓ hiÓu ®· mÆc nhiªn c«ng nhËn Hå ChÝ Minh lµ Danh nh©n v¨n ho¸ thÕ giíi råi, chø kh«ng nªn gäi lµ Tæ chøc UNESCO “phong” cho Hå ChÝ Minh danh hiÖu nµy, danh hiÖu nä. T«i nghÜ r»ng, nãi ®óng nh­ thÕ th× sÏ kh«ng phøc t¹p ho¸ vÊn ®Ò.

NghÞ quyÕt trªn ®©y cña UNESCO cßn kh¼ng ®Þnh r»ng: “Chñ tÞch Hå ChÝ Minh lµ mét biÓu t­­îng kiÖt xuÊt vÒ quyÕt t©m cña c¶ mét d©n téc, ®· cèng hiÕn trän ®êi m×nh cho sù nghiÖp gi¶i phãng d©n téc cña nh©n d©n ViÖt Nam, gãp phÇn vµo cuéc ®Êu tranh chung cña c¸c d©n téc v× hoµ b×nh, ®éc lËp d©n téc, d©n chñ vµ tiÕn bé x· héi… Sù ®ãng gãp quan träng vÒ nhiÒu mÆt cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh trong c¸c lÜnh vùc v¨n ho¸, gi¸o dôc vµ nghÖ thuËt, lµ kÕt tinh cña truyÒn thèng v¨n ho¸ hµng ngh×n n¨m cña nh©n d©n ViÖt Nam, vµ nh÷ng t­ t­ëng cña Ng­­êi lµ hiÖn th©n cña nh÷ng kh¸t väng cña c¸c d©n téc trong viÖc kh¼ng ®Þnh b¶n s¾c d©n téc m×nh vµ tiªu biÓu cho viÖc thóc ®Èy sù hiÓu biÕt lÉn nhau”.

Do ®ã, NghÞ quyÕt cña UNESCO ®· nªu râ: “KhuyÕn nghÞ c¸c quèc gia thµnh viªn kÕt hîp kû niÖm lÇn thø 100 Ngµy sinh cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh b»ng c¸ch tæ chøc nh÷ng ho¹t ®éng ®a d¹ng ®Ó t­­ëng niÖm Ng­êi, ®Ó lµm cho mäi ng­­êi hiÓu ®­­îc tÇm vãc to lín cña nh÷ng t­ t­ëng vµ sù nghiÖp cña Ng­­êi v× c«ng cuéc gi¶i phãng d©n téc”.

ViÖc thùc hiÖn NghÞ quyÕt nµy cña UNESCO ë ViÖt Nam, nhÊt lµ ë trªn b×nh diÖn quèc tÕ, ë c¸c n­íc thµnh viªn Tæ chøc UNESCO, cã nhiÒu tr¾c trë.

Ph¶i thÊy ®­îc hoµn c¶nh ®Æc biÖt lóc ®ã.

Sau ngµy 30-4-1975, ViÖt Nam b­íc vµo mét cuéc thö th¸ch míi, ®Çy ch«ng gai trªn b×nh diÖn quèc tÕ. HÇu nh­ ViÖt Nam bÞ c« lËp, Ýt ®­îc b¹n bÌ c¶m th«ng. §©y lµ mét bi kÞch lín. Nãi bi kÞch lín lµ v× lÏ ra mäi ng­êi, hay chÝ Ýt lµ b¹n bÌ sè ®«ng cña ViÖt Nam, sÏ cïng ViÖt Nam sÎ chia mõng vui vµ b¾t tay vµo c«ng cuéc gióp ViÖt Nam b¨ng bã vÕt th­¬ng chiÕn tranh, x©y dùng mét cuéc sèng míi. Nh­ng kh«ng ®¬n gi¶n nh­ vËy. Nãi ®Ó cho ng­êi kh¸c hiÓu lµ viÖc kh«ng ®¬n gi¶n. ViÖc ViÖt Nam ®em qu©n sang Campuchia ch¼ng h¹n. §©y lµ viÖc lµm hîp víi ®¹o lý, nh­ng nhiÒu n­íc coi lµ ViÖt Nam ®· x©m l­îc Campuchia. Hîp chóng quèc Hoa Kú, sau khi b¹i trËn “lÊm l­ng tr¾ng bông” ë ViÖt Nam, l¹i b­íc vµo mét cuéc phiªu l­u míi, tiÕn hµnh cÊm vËn mäi mÆt víi ViÖt Nam. ViÖt Nam b­íc vµo nh÷ng ®ît khã kh¨n míi. N¹n ®ãi ®· x¶y ra trong thêi b×nh. Lßng ng­êi kh«ng yªn. ë ngoµi b¾c thiÕu l­¬ng thùc ph¶i ¨n bo bo ®· ®µnh, nh­ng ®ît c«ng t¸c mµ t«i cã mÆt mét th¸ng t¹i thµnh phè Hå ChÝ Minh mïa hÌ n¨m 1977 ë gi÷a vùa thãc lín ®Êt n­íc mµ vÉn kh«ng ®ñ g¹o ¨n, ph¶i ¨n bo bo. §ã cßn lµ c¬ chÕ vèn chØ thÝch øng trong chiÕn tranh nay ®Õn thêi b×nh tá ra cøng nh¾c nh­ng vÉn ®­îc vËn hµnh vµ ®­¬ng nhiªn nã kh«ng phï hîp mµ §¶ng Céng s¶n ch­a sím nhËn ra.

§· x¶y ra cuéc khñng ho¶ng kinh tÕ-x· héi nghiªm träng. Lµn sãng ng­êi ViÖt Nam å ¹t ra ®i khái ®Êt n­íc, mµ ®©y chñ yÕu lµ lùc l­îng cña chÕ ®é Sµi Gßn lßng ®Çy hËn thï, tr¾c Èn, mÆc c¶m víi chÕ ®é chÝnh trÞ míi ë ViÖt Nam. Trung Quèc, sau nh÷ng chuçi kh«ng ªm ¶ víi ViÖt Nam, ®Çu n¨m 1979 ®· ®­a qu©n sang mÊy tØnh biªn giíi phÝa b¾c ViÖt Nam g©y chiÕn, nãi lµ ®Ó “d¹y cho ViÖt Nam mét bµi häc”.

Trong hoµn c¶nh ®ã, cã sù chèng ph¸ quyÕt liÖt tõ nh÷ng phÇn tö cùc ®oan, nhÊt lµ tõ mét sè ng­êi gèc ViÖt ë n­íc ngoµi. Hä ng¨n trë viÖc Tæ chøc UNESCO ®øng ra tæ chøc lÔ Kû niÖm hoÆc ®øng ra cæ suý cho c¸c quèc gia thµnh viªn tæ chøc c¸c ho¹t ®éng t­ëng niÖm hoÆc lÔ kû niÖm lÇn thø 100 Ngµy sinh cña Hå ChÝ Minh theo ®óng nh­ NghÞ quyÕt cña UNESSCO, viÕt r»ng: “§Ò nghÞ «ng Tæng Gi¸m ®èc UNESCO tiÕn hµnh nh÷ng b­íc ®i phï hîp ®Ó kû niÖm lÇn thø 100 Ngµy sinh cña Chñ tÞch Hå ChÝ Minh vµ gióp ®ì c¸c ho¹t ®éng t­ëng niÖm chung ®­îc tæ chøc nh©n dÞp nµy, ®Æc biÖt lµ nh÷ng ho¹t ®éng diÔn ra ë ViÖt Nam”.

Ngay t¹i Pari, trô së cña §¹i Héi ®ång UNESCO, còng kh«ng tµi nµo tæ chøc næi mét lÔ kû niÖm, t­ëng niÖm Hå ChÝ Minh. ChØ cã hai n­íc lµ ®øng ra tæ chøc ®­îc lÔ kû niÖm theo ®óng tinh thÇn cña NghÞ quyÕt UNESCO, ®ã lµ ViÖt Nam (®­¬ng nhiªn, v× lµ ®Êt n­íc cña Hå ChÝ Minh) vµ Ên §é. LÔ Kû niÖm vµ cuéc Héi th¶o nh©n dÞp Kû niÖm 100 n¨m Ngµy sinh cña Hå ChÝ Minh ®­îc long träng tæ chøc t¹i Hµ Néi víi nhiÒu b¹n bÌ quèc tÕ, nh÷ng ng­êi cã c¶m t×nh víi ViÖt Nam vµ nh÷ng ng­êi nhËn râ nh÷ng cèng hiÕn vÒ nhiÒu mÆt cña Hå ChÝ Minh ®èi víi nh÷ng b­íc tiÕn cña d©n téc ViÖt Nam còng nh­ ®èi víi hµnh tr×nh cña nh©n lo¹i v­¬n tíi tÊt yÕu cña tù do.

Trë l¹i vÊn ®Ò NghÞ quyÕt 18.65 cña phiªn häp lÇn thø 24 §¹i héi ®ång UNESCO n¨m 1987. T¹i sao thÕ giíi ®¸nh gi¸ Hå ChÝ Minh nh­ vËy? T«i thÊy ch¼ng ph¶i ngÉu nhiªn mµ UNESCO ®¸nh gi¸ nh­ thÕ. T«i thÊy nh­ sau:

Mét: Hå ChÝ Minh lµ chiÕn sÜ tiªn phong trong thÕ kû phi thùc d©n ho¸.

¤ng lµ ng­êi lÜnh Ên tiªn phong cña d©n téc ViÖt Nam vµ cña nh©n lo¹i cÇn lao tiÕn c«ng vµo chñ nghÜa thùc d©n ®Ó ®­a l¹i ®éc lËp, tù do cho mçi d©n téc, mçi con ng­êi. ThÕ giíi thÊy Hå ChÝ Minh lµ mét con ng­êi ®Æc biÖt trong thÕ kû XX, mét thÕ kû phi thùc d©n ho¸. Chñ nghÜa thùc d©n lµ mét vÕt nh¬ lín nhÊt trong lÞch sö cña loµi ng­êi. §óng lµ mét vÕt nh¬ thËt. Mét d©n téc ®ang yªn ®ang lµnh th× bçng nhiªn cã mét thÕ lùc thùc d©n ®Õn b¾t lµm n« lÖ, kh«ng cho ng­êi ta cã quyÒn sèng, hoÆc nÕu ®Ó sèng th× c¸i quyÒn con ng­êi sèng bÞ chµ ®¹p. Thùc d©n x©m chiÕm thuéc ®Þa nh­ng l¹i ®­îc che dÊu b»ng nh÷ng lêi lÏ mü miÒu lµ ®i “khai ho¸ v¨n minh”.

Hå ChÝ Minh chän chñ nghÜa thùc d©n lµ môc tiªu lín nhÊt ®Ó c«ng ph¸. ¤ng tè c¸o m¹nh mÏ chñ nghÜa thùc d©n ë tÊt c¶ mäi diÔn ®µn vµ sö dông tÊt c¶ mäi vò khÝ mµ «ng cã. ¤ng viÕt “B¶n ¸n chÕ ®é thùc d©n Ph¸p”. ¤ng tæ chøc vµ l·nh ®¹o c¸c cuéc ®Êu tranh chèng chñ nghÜa thùc d©n. Hå ChÝ Minh lµ mét con ng­êi tiªn phong cña mét d©n téc tiªn phong ®Êu tranh phi thùc d©n ho¸ trªn ®Êt n­íc «ng vµ trªn thÕ giíi.

Víi chiÕn th¾ng §iÖn Biªn Phñ chiÒu ngµy 7-5-1954, ViÖt Nam ®· më ®Çu cho mét qu¸ tr×nh sôp ®æ cña chñ nghÜa thùc d©n cò trªn toµn thÕ giíi. Víi chiÕn th¾ng tr­a ngµy 30-4-1975 t¹i Sµi Gßn, d©n téc ViÖt Nam ®· b¸o hiÖu cho sù sôp ®æ cña chñ nghÜa thùc d©n míi trªn toµn thÕ giíi. Mét d©n téc tiªn phong vµ mét con ng­êi tiªn phong cña nh©n lo¹i tiÕn bé. ThÕ giíi kh«ng ®Æt lÇm. ThÕ giíi ®· ®óng. ViÖt Nam kh«ng lµm hæ danh, kh«ng phô lßng tin cña l­¬ng tri loµi ng­êi tiÕn bé. NÕu t¹c t­îng nh÷ng vÜ nh©n thÕ giíi thuéc thÕ kû XX, mét thÕ kû phi thùc d©n ho¸, th× Hå ChÝ Minh xøng ®¸ng ®­îc t¹c bøc t­îng ®Ñp nhÊt.

Hai: Hå ChÝ Minh lµ mét con ng­êi ®Çy lßng vÞ tha, khoan dung.

Trong mét thÕ giíi ®Çy bÊt tr¾c cña quan hÖ con ng­êi, Hå ChÝ Minh hiÓn hiÖn nh­ mét tÊm lßng bao dung. Hå ChÝ Minh ®· nãi r»ng, sù bao dung lµ nh­ biÓn c¶, nã cã thÓ nhËn bao nhiªu n­íc tõ c¸c s«ng suèi. Hå ChÝ Minh tiÕp thu truyÒn thèng v¨n ho¸ khoan dung cña d©n téc ViÖt Nam, nh­ «ng ®· viÕt r»ng, d©n téc ViÖt Nam lµ mét d©n téc giµu lßng ®ång t×nh vµ b¸c ¸i. Hå ChÝ Minh kh«ng bao giê kú thÞ, bµi b¸c c¸c häc thuyÕt, trong quan hÖ øng xö cña con ng­êi vµ cña céng ®ång nµy víi céng ®ång kh¸c. Sù khoan dung trong th¸i ®é øng xö cña Hå ChÝ Minh ®Õn møc ®Õn nh­ mét sè ng­êi hiÓu lÇm lµ trong cuéc sèng, gi¶i quyÕt trong c¸c mèi quan hÖ, Hå ChÝ Minh hay nÆng vÒ t×nh. Thùc ra, Hå ChÝ Minh kh«ng duy t×nh, kh«ng duy lý, mµ lu«n lu«n “võa cã lý, võa cã t×nh”, lÊy ch÷ “nh©n” lµm nÒn t¶ng.

Trong khoan dung v¨n ho¸ Hå ChÝ Minh, th× c¸c gi¸ trÞ v¨n ho¸ nh©n lo¹i nh­ lµ mét gißng ch¶y tù nhiªn qua t©m hån Hå ChÝ Minh. Hå ChÝ Minh chÝnh lµ bé läc v¨n ho¸ ch¾t läc c¸i ch©n, c¸i thiÖn, c¸i mü. NÕu tËp hîp, lÇn dë nh÷ng trang s¸ch, trang b¸o cña c¸c nhµ “Hå ChÝ Minh häc”, “ViÖt Nam häc” næi tiÕng trªn thÕ giíi th× biÕt c¬ man nµo lµ nh÷ng ®¸nh gi¸ rÊt ®Æc s¾c vÒ khÝa c¹nh v¨n ho¸ khoan dung cña Hå ChÝ Minh. Trong thùc tÕ cuéc sèng, mÆc nhiªn cã sù so s¸nh. Trong sù so s¸nh ®ã, næi bËt lªn Hå ChÝ Minh, mét nh©n vËt s¸ng ngêi cña nh©n v¨n, v¨n ho¸, khoan dung trong c¸i thÕ giíi cã lóc còng cã vÎ hçn mang vÒ c¸c mèi quan hÖ gi÷a con ng­êi víi con ng­êi nµy.

Ba: Hå ChÝ Minh lµ mét chiÕn sÜ v¨n ho¸, lµ mét hiÖp sÜ cña UNESCO tÝch cùc gi¶i quyÕt nh÷ng vÊn ®Ò toµn cÇu.

VÊn ®Ò lín nhÊt mµ Hå ChÝ Minh nªu lªn vµ h­íng c¶ cuéc ®êi cña m×nh còng nh­ h­íng c¶ d©n téc ViÖt Nam cïng nh÷ng d©n téc kh¸c trªn thÕ giíi vµo gi¶i quyÕt lµ ®Êu tranh gi¶i phãng con ng­êi. §èi víi Hå ChÝ Minh, mäi ho¹t ®éng, mäi cuéc ®Êu tranh ®Òu h­íng ®Ých ®ã. Hå ChÝ Minh tËp hîp c¶ mét vÐct¬ lùc vµo c¸i ®ã.

Tõ c¸i chung nhÊt ®ã, Hå ChÝ Minh nªu lªn vµ h­íng vµo gi¶i quyÕt vÊn ®Ò hßa b×nh, hßa b×nh cho d©n téc ViÖt Nam vµ hßa b×nh cho thÕ giíi, mét nÒn hßa b×nh thËt sù, hßa b×nh bÒn v÷ng mµ trªn ®ã b¶o ®¶m c¸c quyÒn d©n téc c¬ b¶n ®éc lËp, chñ quyÒn, thèng nhÊt vµ toµn vÑn l·nh thæ. C¸i nguyªn t¾c ®ã trë thµnh c¸i khung cho mäi hiÖp ®Þnh chÝnh trÞ, mµ nã ®· thÓ hiÖn ë HiÖp ®Þnh Gi¬nev¬ vÒ §«ng D­¬ng ngµy 20-7-1954 vµ HiÖp ®Þnh Pari vÒ chÊm døt chiÕn tranh, lËp l¹i hoµ b×nh ë ViÖt Nam ngµy 27-1-1973.

C¸i khung nguyªn t¾c ®ã còng ®· ®­îc ph¶n ¸nh trong bµi th¬ thÇn trªn phßng tuyÕn Nh­ NguyÖt chèng qu©n x©m l­îc Tèng n¨m 1077:

Nam quèc s¬n hµ Nam ®Õ c­.

TiÖt nhiªn ®Þnh phËn t¹i thiªn th­.

Nh­ hµ nghÞch lç lai x©m ph¹m

Nh÷ ®¼ng hµnh khan thñ b¹i h­.

NghÜa lµ:

S«ng nói n­íc Nam vua Nam ë.

Rµnh rµnh ®Þnh phËn t¹i s¸ch trêi.

Lò giÆc cí sao x©m ph¹m tíi

Chóng bay sÏ bÞ ®¸nh t¬i bêi.

Hå ChÝ Minh lµ con ng­êi cña hßa b×nh. Hå ChÝ Minh coi ®ã lµ nguyªn t¾c hµnh xö gi÷a con ng­êi víi con ng­êi, gi÷a d©n téc nµy víi d©n téc kh¸c. Nh­ng, c¸i chèt cña Hå ChÝ Minh lµ ë chç: ®ã ph¶i lµ mét nÒn hßa b×nh ch©n chÝnh. Tr­íc kÎ x©m l­îc, nhiÒu lóc Hå ChÝ Minh nh©n nh­îng, nh­ng kÎ c­íp cµng lÊn tíi th× «ng kªu gäi c¶ d©n téc vïng lªn ®Êu tranh g×n gi÷ hßa b×nh chø kh«ng ph¶i cã hßa b×nh b»ng mäi gi¸, hßa b×nh trong c¸i thÕ hÌn kÐm cña mét kÎ n« lÖ.

Sau khi giµnh ®­îc chÝnh quyÒn, thiÕt lËp ®­îc Nhµ n­íc míi – Nhµ n­íc ViÖt Nam D©n chñ Céng hoµ — Hå ChÝ Minh tuyªn bè tr­íc toµn thÓ d©n téc ViÖt Nam còng nh­ toµn thÓ nh©n d©n thÕ giíi r»ng, n­íc ViÖt Nam đã thật sự trở thành một nước tự do và độc lập, toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do và độc lập ấy. Nhưng thực dân Pháp quyết tâm chiếm nước Việt Nam một lần nữa. Cuộc kháng chiến đã nổ ra sớm ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ từ ngày 23-9-1945, tức là đúng 3 tuần lễ sau Ngày Độc lập 2-9-1945. Nhân dân miền Nam đã đi liền một mạch gian khổ, kiên cường, Thành đồng Tổ quốc, “đi trước về sau” từ ngày đó đến tận ngày 30-4-1975.

Ý đồ của thực dân Pháp là gây chiến tranh trở lại, “gặm nhấm” dần lãnh thổ Việt Nam, chia cắt Nam Bộ ra khỏi đất nước Việt Nam. Quan điểm có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh là Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam, là tìm cách bảo vệ chính quyền còn non trẻ, tránh đụng độ với các thế lực có ý định xâm lược, bảo vệ nền hoà bình lâu dài cho đất nước. Chính vì thế mà Hồ Chí Minh gồng mình lên để bước qua những chông gai. Hồ Chí Minh hoà với quân Tưởng Giới Thạch để kìm quân Pháp, ông hoà với Pháp để đuổi quân Tưởng Giới Thạch, và ông ký Hiệp ước 6-3-1946, phái người đi dự Hội nghị trù bị Đà Lạt, cử đoàn đi dự Hội nghị ở Phôngtenblô (Pháp) và khi các hội nghị đó không đạt kết quả, thì Hồ Chí Minh ký Tạm ước 14-9-1946.

Hồ Chí Minh tìm cách hoà hoãn với cả kẻ cướp để mong cứu vãn hoà bình, có lúc chịu nhận Việt Nam là nước tự do trong Liên hiệp Pháp, bảo đảm quyền lợi kinh doanh và các quyền lợi kinh tế khác cho người Pháp ở Việt Nam, v.v. Hồ Chí Minh viết thư cho các tổ chức và cá nhân quốc tế, kể cả cho một số nước có vai trò lớn trong Liên hợp quốc bày tỏ quan điểm, nguyên tắc đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai; sẵn sàng dành và tiếp nhận sự đầu tư về kinh tế với tất cả các nước, các nhà tư bản vào Việt Nam với mục đích cùng có lợi. Và Hồ Chí Minh cũng “rắn” khi tuyên bố rằng: nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên cầm tất cả mọi thứ có trong tay để làm vũ khí chiến đấu chống xâm lược, bảo vệ hoà bình, bảo vệ nền độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đúng như Hồ Chí Minh đã viết: “Cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng”. Nhân nhượng của Hồ Chí Minh và của nhân dân Việt Nam chỉ có giới hạn, có nguyên tắc. Hoà bình không bằng mọi giá. Không có thứ hoà bình trong thân phận của những người nô lệ.

Thế là cuộc chiến tranh lần nữa lại nổ ra. Lần này kéo dài 9 năm binh đao khói lửa, bằng trận đại thắng của Việt Nam và cũng là trận đại bại của thực dân Pháp ở Điện Biên Phủ kết thúc vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 7-5-1954 và bằng Hiệp định Giơnevơ 20-7-1954.

Sau này, chiến tranh đã qua đi nhiều năm, nhiều chính khách và các sử gia, các nhà quân sự, các nhà báo, các nhà hoạt động xã hội Pháp đã tốn bao giấy mực viết về cuộc chiến tranh đó. Có lúc, trong số đó, có người đổ lỗi cho Hồ Chí Minh gây ra cuộc chiến tranh. Nhưng, sự thật là sự thật, nó phơi bày ra đó, không ai có thể chỗi cãi được. Ý kiến đổ lỗi cho Hồ Chí Minh là số rất ít và bị chìm nghỉm đi. Hồ Chí Minh vẫn luôn hiện lên với tư cách là chiến sĩ hoà bình quốc tế.

Còn đối với cuộc chiến tranh Mỹ – Việt? Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam không muốn cuộc chiến tranh này, nhất lại là “đấu” với lực lượng hùng mạnh, khổng lồ hơn Pháp nhiều. Hồ Chí Minh đã nhiều lần nêu quan điểm muốn “trải thảm đỏ” cho quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nhưng, quân Mỹ cố bám lấy. Cuộc chiến đấu buộc phải diễn ra mà thiệt hại cho cả hai bên về vật chất và tinh thần không biết đến bao giờ mới hàn gắn lại được. Hồ Chí Minh quý từng giây phút hoà bình, khát khao hoà bình. Nhưng, cũng như trong cuộc kháng Pháp, ông biết đâu là giới hạn của sự chịu đựng, biết nguyên tắc “chơi” với kẻ xâm lược. Hoà bình của Hồ Chí Minh là một loại hoà bình chân chính. Ở trong con người Hồ Chí Minh, thông điệp hoà bình cho mỗi một dân tộc, cho cả toàn thế giới là như thế.

Thông điệp đó, cái nguyên tắc về hoà bình của Hồ Chí Minh đó cần được phát huy trong thời buổi hiện nay. Có những chuyện tréo ngoe. Để dập tắt đổ máu, nhân danh hoà bình, nhân danh dân chủ, tự do, người ta lại đi đổ xô bán vũ khí cho các nước hiện đang đổ máu, hoặc những nước đang gầm ghè nhau, đang ở bên miệng hố chiến tranh. Người ta đang lấy luật này luật nọ để hành xử không công bằng trong nhiều quan hệ quốc tế. Nước này có vũ khí hạt nhân, thử vũ khí hạt nhân thì có vẻ lo lắng đấy, nhưng rồi không sao, nhưng nước kia mà có thì không, nhất thiết không thể được, v.v. Khái niệm hoà bình, hoà bình chân chính đang bị thử thách một cách nghiệt ngã.

Hồ Chí Minh nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Độc lập, tự do đó là độc lập, tự do trong một nền hoà bình chân chính, trong sự hợp tác, hữu nghị của tất cả các dân tộc trên thế giới — dù dân tộc lớn hay dân tộc nhỏ.

Hồ Chí Minh phấn đấu cho các dân tộc xích lại gần nhau, giao lưu, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Cuộc đời của Hồ Chí Minh chính là một biểu tượng, hiện thân về cái đó. Mà điều đó lại bắt nguồn từ sinh khí của dân tộc, từ truyền thống của dân tộc Việt Nam, một dân tộc hòa hiếu, yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý.

Có thể ai đó trong người Việt Nam cảm thấy bình thường, nhưng đối với thế giới, xét trong các vấn đề toàn cầu thì thấy rất thú vị, thú vị ở chỗ Hồ Chí Minh chính là người nêu ra và thực hành tích cực nhất cho việc bảo vệ môi trường, sinh thái.

Khỏi phải nói, vấn đề này hiện đang trở nên bức xúc, nhức nhối đến mức nào. Trong thời kỳ phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, con người đã tạo ra khối lượng vật chất khổng lồ cho chính mình đồng thời lại tạo ra những tố chất hại mình. Đó là sự xâm hại môi trường sinh thái. Hình như Ph. Ăngghen thì phải, đã viết đại ý rằng, chúng ta không nên quá ảo tưởng vào những chiến thắng của mình đối với thiên nhiên; thiên nhiên sẽ trả thù chúng ta cho mỗi “chiến thắng” ấy.

Đã xẩy ra thủng tầng ôzôn mấy triệu cây số vuông ở châu Nam cực. Đó là hiện tượng nóng lên của trái đất do hiệu ứng nhà kính dẫn đến En Ninô, La Nina hạn hán, lụt lội. Không ít quốc gia không kiểm soát được sự ô nhiễm khủng khiếp, từ chất độc của hoá học, từ các nạn chặt phá rừng, v.v. Các nước, nhất là các nước công nghiệp phát triển, đã ngồi lại với nhau không ít lần để bàn thảo để ký hiệp định giảm khí thải ôxít cácbon (CO2) nhưng câu chuyện này vẫn đang còn ở phía trước, chưa có một hồi kết sáng sủa.

Thế giới đang trở nên bất an hơn bao giờ hết.

Sự xâm hại tự nhiên chính là hành vi phản văn hoá. Cái gọi là “sự thắng lợi” chinh phục tự nhiên của con người chính là sự tác động gây hiệu ứng phản lại của tự nhiên. Chinh phục tự nhiên không như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác. Bản thân con người là một thực thể của tự nhiên. Nếu gọi là sự chinh phục một cách đúng đắn của con người đối với tự nhiên thì đòi hỏi con người phải nhận thức đúng đắn quy luật của tự nhiên để hành xử cho đúng. Con người sẽ đánh mất khả năng chủ thể văn hoá khi thoát ra khỏi hệ thống điều chỉnh của tự nhiên — đó là sự cân bằng sinh thái. Chính con người hiện đại, mặc dù nắm được khoa học và công nghệ, lại là yếu tố phá vỡ một cách tệ hại nhất sự cân bằng sinh thái. Chính sự thống nhất của con người với tự nhiên tạo ra bản sắc văn hoá của mỗi vùng, miền.

Còn ở Việt Nam? Nhiều nhà kinh tế lâm nghiệp nói rằng: về cơ bản, Việt Nam đã hoàn thành việc phá rừng. “Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu” — đó là câu nói của Hồ Chí Minh. Sự tàn phá rừng nhanh hơn theo cấp số nhân so với trồng mới. Con số thì chỉ là con số. Nhưng người ta thống kê trong những năm gần đây, diện tích rừng che phủ của Việt Nam trong vòng 7 năm, mới ì ạch lên được con số tăng 3,7%. Đó là con số báo cáo, chưa chắc đã đúng. Có lẽ con số của Nhóm nghiên cứu GIS (Geographic information system – Hệ thống định vị toàn cầu) thuộc Trung tâm Sinh thái nông nghiệp (Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội) là chính xác hơn hết. Đây là cơ sở khoa học hợp tác với Viện Địa lý thuộc Đại học Copenhgagen (Đan Mạch). Căn cứ khoa học của nghiên cứu này là tất cả đối tượng trên mặt đất đều bức xạ lại quang phổ theo nhiều cách khác nhau. Dựa trên quy luật tương tác giữa thảm che phủ và năng lượng điện tử, chúng ta sẽ phân biệt được các lớp che phủ từ ảnh vệ tinh, từ đó tính được một cách chính xác về tài nguyên rừng, về thực vật.

Sự ô nhiễm, tình hình độc hại lan tràn vào cả đồ ăn thức uống. Các đô thị, nhất là ở hai thành phố lớn nhất đất nước – thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội – bị ô nhiễm nghiêm trọng. Vào thời điểm cuối năm 2008, ở Việt Nam, người ta đã phanh phui ra hàng loạt các công ty thải chất độc hại ra các sông, các vùng đất để tìm mọi cách ních đầy hầu bao lợi nhuận kinh doanh. Tất cả sự phá hoại môi trường tự nhiên đều ảnh hưởng xấu không những cho hiện tại mà cho cả các thế hệ sau, làm cho sự phát triển trở nên không bền vững. Cho nên, hiện thời, trên thế giới, người ta đã “quy” phát triển bền vững vào 6 nội dung:

1. Tăng trưởng kinh tế;

2. Công bằng xã hội;

3. Bảo vệ môi trường;

4. Phát triển văn hoá, giáo dục, công nghệ;

5. Bảo đảm tự do, dân chủ;

6. Phát triển con người.

Trong 6 nội dung đó, người ta lại hay tập trung vào ba nội dung có tính “trụ cột”, đó là Tăng trưởng kinh tế; Công bằng xã hội; Bảo vệ môi trường tự nhiên.

Quan niệm trên đây chính là phản ánh khái niệm phát triển, cho rằng, Phát triển là quá trình qua đó một xã hội người cùng nhau phấn đấu đạt tới chỗ thoả mãn được các nhu cầu mà xã hội ấy cho là cơ bản và hiện đại. Hoặc như quan niệm của Hội nghị của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển họp ở Riô đơ Janerô (Braxin) năm 1992: Phát triển bền vững là một sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại tới khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ tương lai.

Hồ Chí Minh đã phát động Tết trồng cây từ cuối năm 1959. Hồ Chí Minh cho đăng trên báo Nhân Dân, số 2082, ngày 28-11-1959 bài “Tết trồng cây”, trong đó cho rằng: “Việc này tốn kém ít mà lợi ích rất nhiều”; rằng, miền Bắc hiện có độ 14 triệu người, trong đó có 3 triệu trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ 8 tuổi trở lên đều có thể trồng cây; như vậy là mỗi tết trồng được độ 15 triệu cây; từ năm 1960 đến năm 1965 là năm cuối cùng của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa có cây ăn quả, cây có hoa, vừa có cây làm cột nhà; và trong vòng 10 năm, nước ta sẽ ngày càng tươi đẹp, khí hậu điều hoà hơn, cây gỗ đầy đủ hơn, đời sống nhân dân được cải thiện hơn.

Dịp cuối năm 1959, Hồ Chí Minh lại kêu gọi toàn dân hưởng ứng phong trào một tháng trồng cây (từ ngày 6-1-1960 đến ngày 6-2-1960) và mong nhân dân duy trì bền bỉ “Tết trồng cây” hằng năm.

Đi thăm các địa phương, các cơ quan, Hồ Chí Minh thường trồng cây. Hồ Chí Minh tham khảo ý kiến của các chuyên gia lâm nghiệp để có thể trồng cây gì phù hợp nhất. Theo tư vấn của các chuyên gia, Hồ Chí Minh hay trồng nhất là cây đa. Đây là loại cây nếu trồng ở nơi công cộng thì rất thích hợp, nó tỏa bóng mát nhiều, ít sâu bệnh, dễ sống, tuổi thọ lâu (khoảng 500-700 năm). Hồ Chí Minh quan niệm trồng cây nào phải sống cây ấy, cho nên ông trồng “thật”, ông tưới nước thật chứ không phải trên ngực áo có bông hoa giả, xẻng xúc đất thì quấn giấy xanh giấy đỏ để quay phim, chụp ảnh, và khi về Hà Nội Hồ Chí Minh thường hỏi thăm cây do mình trồng còn sống không, nó đang như thế nào.

Tới thăm xã Nam Cường, một xã mới thành lập do lấn biển của huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, đang đi trên đường làng, Hồ Chí Minh thấy hai hàng cây mới trồng. Hồ Chí Minh cho rằng, hình như cán bộ và nhân dân ở đây mới trồng vội hôm qua để đón mình (Ông Ngô Duy Đông, Bí thư Tỉnh uỷ Thái Bình lúc đó thừa nhận đúng là như vậy). Hồ Chí Minh dặn rằng, phải rào lại khỏi bị trâu bò phá, và trồng cây nào phải cố gắng chăm sóc để tất cả đều sống.

Lạ thay và thật thú vị biết bao, đọc trong tài liệu Tuyệt đối bí mật (sau này khi công bố, được gọi là Di chúc), tôi thấy quan điểm của Hồ Chí Minh về môi trường sinh thái – vấn đề toàn cầu – rất rõ. Hồ Chí Minh đề cập trực tiếp vào vấn đề xử lý thi hài của mình khi qua đời.

Bản viết đầu tiên, ngày 15 tháng 5 năm 1965, Hồ Chí Minh ghi rõ:

Về việc riêng – Sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hoả táng”. Tôi mong rằng, cách “hoả táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì hình như có nhiều đồi tốt. Trên mộ, xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam”[128].

Đến bản viết năm 1966, Hồ Chí Minh viết lại như bản viết năm 1965 một đoạn: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hoả táng”. Tôi mong rằng cách “hoả táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn”.

Đến năm này, có thể biết là bản thân mình sẽ qua đời trước ngày nước nhà được thống nhất, cho nên Hồ Chí Minh viết bổ sung: “Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

Đồng bào mỗi miền nên chọn 1 quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão”[129].

Đến cái chết của mình mà còn nghĩ đến giữ vệ sinh và để khỏi tốn đất nông nghiệp, nghĩ đến trồng cây, nghĩ đến môi trường sinh thái thì đến nay tôi chỉ thấy Hồ Chí Minh chứ không thấy người thứ hai.

Hiện tại và cũng bao năm rồi, cả thủ đô Hà Nội mới có một nghĩa trang Văn Điển (chưa kể nghĩa trang Mai Dịch dành cho những quan chức cấp cao và những người có cống hiến đặc biệt khác, và chưa kể sau này còn có nghĩa trang Thanh Tước ngoại thành). Khỏi phải nói, vùng xung quanh nghĩa trang Văn Điển bị ô nhiễm đến mức nào. Hẳn khi viết những dòng trong tài liệu Tuyệt đối bí mật (Di chúc), Hồ Chí Minh đã tính đến chuyện hậu thế sẽ làm như thế nào, cho nên mới yêu cầu đi yêu cầu lại như thế.

Câu chuyện trên đây thật nhiều tầng ý nghĩa. Nhưng, xét riêng về mặt môi trường sinh thái mà nói, thì quả là đáng khâm phục về tư chất của con người, một con người luôn luôn hướng tới việc nêu lên và giải quyết những vấn đề toàn cầu.

Dẫn ra một số điểm trên đây để thấy rõ thêm rằng, Hồ Chí Minh chính là con người của văn hoá, một nhà văn hoá hoạt động chính trị, một con người có tư duy luôn ở tầm quốc tế.

Phiên họp lần thứ XXIV Đại Hội đồng UNESCO năm 1987 tại Pari đã thực hiện được một sứ mệnh lớn lao, có ý nghĩa quan trọng đối với việc làm cho các dân tộc hiểu biết nhau hơn, làm cho con người xích lại gần nhau hơn, làm cho thế giới đẹp hơn lên khi khuyến nghị các quốc gia thành viên có những hoạt động kỷ niệm, tưởng niệm những danh nhân, những sự kiện văn hoá theo tiêu chí của mình. Chỉ điều này mới có ý nghĩa văn hoá lớn lao, chứ không phải là sự chống đối, sự quậy phá của những người có đầu óc thâm thù đối với sự nghiệp của ông, của nhân dân Việt Nam rồi đi đến ghét bỏ ông.

IV.  Tiếp tục nêu cao Tư­ tưởng Hồ Chí Minh

Nhìn tổng thể, những b­ước đường của cách mạng Việt Nam luôn luôn có sự chỉ dẫn từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và của Hồ Chí Minh.

Đến thời điểm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6, 7-1991), Hồ Chí Minh đã qua đời 22 năm và sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nư­ớc do Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam khởi xư­ớng đã diễn ra được 5 năm. Thực tế của sự nghiệp cách mạng Việt Nam nói chung và của những năm đổi mới nói riêng đã chứng tỏ rằng, không những chủ nghĩa Mác – Lênin, mà còn là tư tưởng  Hồ Chí Minh, đã trở thành yếu tố chỉ đạo làm nên thắng lợi cho nhân dân Việt Nam. Chính vì thế, Đại hội VII của Đảng đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và t­ư tư­ởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư­ tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[130]. Đại hội VII nêu rõ: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện cụ thể của nư­ớc ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng ta và của cả dân tộc”[131].

Trong khi khẳng định và nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội VII còn cho rằng: “Chủ tịch Hồ Chí Minh…tiêu biểu sáng ngời cho sự kết hợp giai cấp và dân tộc, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với mỗi ng­ười dân Việt Nam là vô cùng gần gũi, gắn liền với tình cảm yêu thương vô hạn của nhân dân đối với Bác, bởi công lao to lớn và đạo đức cách mạng trong sáng của Người. Vì vậy, nói tư tưởng Hồ Chí Minh là phù hợp với thực tế cách mạng nư­ớc ta, phù hợp với tình cảm và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta”[132].

Đại hội VII xác định: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hư­ớng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới, Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội”[133]. Đại hội nêu lên yêu cầu: “trong những năm tới, nhiệm vụ chủ yếu của các ngành khoa học xã hội là vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác – Lênin, t­ư tưởng Hồ Chí Minh, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của nư­ớc ta và tiếp thu có chọn lọc những thành tựu khoa học của thế giới”[134].

Nhận thức không phải bao giờ cũng suôn sẻ. Văn kiện Đảng Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Tập 51, 2007, chỉ rõ cho người đọc thấy rằng: khi thông qua vấn đề “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”, thì không phải 100% đại biểu tán thành, mà chỉ có 89,7% số đại biểu của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII tán thành mà thôi[135].

Việc khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cũng đã đ­ược ghi nhận trong hai văn kiện nữa rất quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1991 thông qua và trong Hiến pháp n­ước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đư­ợc Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 1992.

Nhưng, để nói về tư tưởng Hồ Chí Minh thì còn nhiều vấn đề cần bàn. Không đơn thuần, đúng là không đơn thuần tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Nói tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng thì hẹp quá và có cái gì đó không hợp lý.

Đến Đại hội IX (4-2001), Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu lên khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh một cách đầy đủ hơn Đại hội VII: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của n­ước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại”[136].

Tiếp đó, Đại hội IX còn chỉ ra một cách cụ thể một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh: đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân…

Đến đây, chúng ta thấy rằng, Đại hội IX của Đảng không những cho rằng tư­ tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, mà cái mới lần này Đảng ta nêu rõ Tư­ tư­ởng Hồ Chí Minh còn là kết quả của sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin nữa.

Nhưng, như thế vẫn còn cái gì đó chưa sát. Ngoài cách diễn đạt cụ thể những nội dung (còn để dấu ba chấm) của tư tưởng Hồ Chí Minh, và có nhiều nội dung ghép một cách chưa thật phù hợp, thì vẫn chưa thoát ra được cái ý Tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn chỉ là cái kết quả của cái này với cái kia.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng Việt Nam. Điều này thì lớn hơn nhiều, cần nghiên cứu. Không như thế thì đến nay, nhiều người đã vô hình trung “thô thiển hoá” tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những cái tên, những mệnh đề rất tai hại, chẳng hạn còn nêu cả mệnh đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống thiên tai; Tư tưởng Hồ Chí Minh về những người khiếm thị, v.v.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam họp vào tháng 4 năm 2006, khi đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh, đã nhận định: “Sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân ta 76 năm qua đã khẳng định rằng, tư tưởng vĩ đại của Người cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin mãi mãi là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng đó đã dẫn dắt chúng ta trên mỗi chặng đường xây dựng và phát triển đất nước, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là sức mạnh tập hợp và đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta hôm nay và mai sau”[137].

Đây chính là luồng đánh giá tiếp nối, là sự khẳng định thêm một lần nữa tư tưởng Hồ Chí Minh, giá trị, vai trò to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Tôi chắc là tiếp nối ở các đại hội sau của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn như vậy, có nghĩa là vẫn khẳng định vai trò, ý nghĩa to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin, là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

V.  Từ ý dân và lòng dân

Nhưng, trở lên bên trên chúng ta mới chỉ đơn thuần xét về mặt văn bản. Có một điều đặc biệt không một dân tộc-quốc gia nào có và cũng chư­a từng thấy ở một bậc danh nhân nào ngoài Hồ Chí Minh (Độc nhất vô nhị).

Chính bởi điều đặc biệt này cho nên tôi không xếp riêng ra một mốc nhận thức nào cả và cũng không thể xếp thứ tự theo biên niên mà có lẽ đây là vấn đề trùm lên tất thảy. Chúng ta thấy rõ ở hai khía cạnh:

Một là: toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc Việt Nam nhiều thế hệ đã tôn vinh Hồ Chí Minh là lãnh tụ, là ngư­ời Bác kính yêu.

Đã từ lâu, và ở nhiều thế hệ kế tiếp nhau, những người Việt Nam chân chính đều coi Hồ Chí Minh là bậc danh nhân, là anh hùng dân tộc vĩ đại như­ những vị anh hùng dân tộc Trần Hư­ng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v. Và, giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hoá dân tộc, văn hoá dân gian folklore tự nhiên truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác, như­ nguồn sữa mẹ nuôi dưỡng cuộc sống, tâm hồn của người Việt Nam yêu nước, như­ lớp lớp phù sa bồi đắp cho sự phì nhiêu của đời sống văn hoá dân tộc. Đây quyết không phải là kết quả từ sự sùng bái cá nhân mà chính là sự tôn vinh từ tâm khảm một cách tự giác của người Việt Nam yêu nước.

Hai là: giá trị nhân văn trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh mang tính đặc biệt tới mức là đã đi vào đời sống tâm linh của ng­ười Việt Nam.

Trªn nhiÒu bµn thê cña ng­êi ViÖt Nam thê tæ tiªn vµ nh÷ng ng­­êi ®· khuÊt cña gia ®×nh m×nh, cßn ®Æt c¶ ¶nh thê Hå ChÝ Minh. NhiÒu n¬i trªn ®Êt n­­íc ViÖt Nam, nh©n d©n ®· tù ®éng lËp ®Òn thê Hå ChÝ Minh. Cã ®Òn thờ Hồ Chí Minh mới được xây dựng trong những năm cuối thế kỷ XX ở ngoài bắc. Chẳng hạn như đền thờ Hồ Chí Minh trên núi cao Tản Viên, còn nhánh đường bên cạnh là nhánh đường lên đền thờ Sơn Tinh. Còn vùng Nam Bộ thì đền thờ hoặc phủ thờ Hồ Chí Minh khá nhiều.

Lạ thay, một địa phương có nhiều đền thờ Hồ Chí Minh nhất nước là tỉnh Cà Mau, tỉnh chóp mũi của dải đất cong cong hình chữ S mang tên Việt Nam. Theo tài liệu của Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo nhân dân Phan Ngọc Liên dẫn lại báo cáo của Tỉnh uỷ Cà Mau thì đến năm 1972, số phủ thờ Hồ Chí Minh đã là con số 20. Hiện có thể thống kê và kể ra đây các đền thờ tại các địa danh[138]:

– Ấp Biện Tượng, xã Đất Mới, được xây dựng vào năm 1969.

– Ấp Hàm Rồng, xã Hàm Rồng, huyện Ngọc Hiển, xây dựng vào tháng 9-1969.

– Ấp Năm Căn, xã Năm Căn, xây dựng vào tháng 9-1969.

– Ấp Cái Xép, xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, xây dựng vào tháng 11-1969.

– Ấp Óng Bọng, xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, xây dựng vào tháng 11-1969.

– Ấp Rau Dừa, xã Hưng Mỹ, huyện Cái Nước, xây dựng vào tháng 11-1969.

– Ấp Bàu Hầm, xã Quách Phẩm Bách, huyện Đầm Dơi, xây dựng vào tháng 12-1969.

– Ấp Nhà Hội, xã Tam Giang, huyện Ngọc Hiển, xây dựng vào tháng 12-1969.

– Ấp Đàm Chim, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, xây dựng vào tháng 2-1970.

– Ấp Kinh Cạn, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, xây dựng vào tháng 2-1970.

– Ấp Kinh Sâu, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, xây dựng vào tháng 3-1973.

– Ấp Kinh Bảy, xã Trí Phải, huyện Thái Bình, xây dựng vào tháng 9-1974.

– Ấp Lung Xã, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước, xây dựng vào tháng 1-1975.

Chúng ta hay nhắc nhau rằng, trong phương pháp nghiên cứu Hồ Chí Minh, đừng mắc phải sai lầm là “thần thánh hoá Hồ Chí Minh”. Sự nhắc nhở ấy là đúng. Như­ng, một hiện tượng văn hoá thật đặc biệt hợp với văn hoá tâm linh truyền thống của người Việt Nam: nhân dân tôn thờ những người có công với nư­ớc, với làng, những người để lại những tấm gương tốt cho hậu thế noi theo. Việc nhân dân lập đền thờ Hồ Chí Minh cũng là lẽ tự nhiên trong tín ngưỡng đa thần, tựa như­ nhân dân Việt Nam đã lập đền thờ các vị thành hoàng và các vị tiền bối có công với n­ước như­ Hai Bà Trư­ng, Trần Hư­ng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, v.v. Ở đây, không có gì chung với vấn đề phương pháp nghiên cứu về Hồ Chí Minh.

Tôi cho là ở Việt Nam có một văn hoá đền. Đây là một thể hiện văn hoá vật thể và phi vật thể trộn lẫn vào nhau, quyện chặt vào nhau. Văn hoá đó là văn hoá tâm linh, có ích cho cuộc sống của con người, đó là văn hoá thờ tưởng, hướng tới cái đẹp, cái thiện, cái tốt. Trong sắc màu lung linh huyền ảo của cõi tâm linh, và gần với đạo Phật hơn cả, nó nhắc con người ta cái Tâm ngay trong mỗi người. Nó không có Thượng đế. Thượng đế chính là cái tâm của con người.

Điển hình nhất, theo tôi, là ngôi đền thờ Hồ Chí Minh tại xã Long Đức, thị xã Trà Vinh[139]. Mùa xuân năm 1995, bỏ lại các lễ hội dập dìu ngoài Bắc, tôi có chuyến đi vào thăm đền thờ Hồ Chí Minh ở Trà Vinh. Xe rong ruổi theo con lộ 53 láng nhựa từ thị xã Vĩnh Long xuống thị xã Trà Vinh. ở đồng bằng miền Tây Nam Bộ này, những cánh đồng trải rộng ngút mắt bởi tốc độ đô thị hoá lúc này chưa nhằm nhò gì. Vụ đông xuân 1994-1995 trúng mùa, đa phần đã gặt xong, lác đác những ruộng lúa chưa gặt, màu vàng ươm của lúa chen lẫn những cánh đồng đỗ tương rờn xanh màu nước biển vừa nhú mầm. Và những vườn cây trái trĩu quả, dịu mát. Bầu trời xanh, ruộng đồng xanh, miệt vườn xanh…với những làn gió mát lành sớm mai đưa tôi đến xứ sở của sự tinh khiết miệt sau những ngày ồn ã chốn thị thành.

Long Đức đây, trông hao hao như Kim Liên quê Hồ Chí Minh. Cũng những luỹ tre xanh, đất cát pha, ao vườn hoa sen, hoa súng, xóm làng lúp xúp vườn cây. Đền thờ Hồ Chí Minh dựng ở đó – xã Long Đức bên dòng sông Cổ Chiên, cách thị xã Trà Vinh chừng 3 cây số. Con đường vào chắc giờ đây chắc đã rải nhựa láng bóng chứ hồi 1995 khi tôi đến vẫn là một con đường cấp phối rải đá giăm, không đến nỗi chật hẹp. Vùng này lúc ấy nếu mà làm đường đá, rải nhựa thì phải lấy bên An Giang là gần nhất, xây dựng cơ sở hạ tầng tốn kém lắm. Trước năm 1975, đây chỉ là một con đường nhỏ, du kích gài mìn để chống địch càn quét phá đền.

Một ngôi đền trong nhiều ngôi đền thờ của cả nước dân tự động xây dựng để thờ vị anh hùng dân tộc Hồ Chí Minh. Trong nét đẹp truyền thống của nước Việt Nam hàng nghìn năm văn hiến, đền là dạng văn hoá vật thể và phi vật thể và thuộc vào một trong những loại ứng xử văn hoá của cộng đồng đối với những người có công với làng, với nước đã khuất núi. Tuổi ấu thơ của chúng tôi đã có một thời gắn với cây đa, bến nước, sân đình, với lễ hội dân gian mà ở đó những ngôi đền bao giờ cũng hiện diện nối quá khứ với hiện tại. Bước vào đền là bước vào “trình diện” với các bậc tiên liệt, là đi vào chốn linh thiêng, vào cõi thiền hun đúc cho cái thiện. Văn hoá đền – tôi cho là có văn hoá ấy — đã ngấm vào tâm hồn của mỗi con người Việt Nam, trở thành văn hoá truyền thống, là thứ văn hoá ứng xử tuyệt diệu của thế hệ hiện tại đối với các danh nhân của quá khứ.

Sau khi Hồ Chí Minh qua đời, nhân dân miền Nam tỏ lòng tiếc thương ông trong hoàn cảnh rất đặc biệt, tức là trong thế kìm kẹp của kẻ thù. Đúng là không ai ngăn cấm được tình cảm, nó dồn nén và bung ra khi có dịp. Nhiều gia đình trong vùng địch chiếm đóng đã lập bàn thờ Hồ Chí Minh ở trong nhà. Cho đến năm 1995, khi tôi có mặt ở nhiều địa phương miền Tây Nam Bộ, thấy trong nhiều gia đình người Kinh ở vùng đất lúa, đất miệt vườn này có bàn thờ tổ tiên chung với thờ Hồ Chí Minh, có ảnh với khung trang trọng. Đó chính là sự thành tâm trong sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Nam Bộ.

Bà con Long Đức, ngoài việc thờ Hồ Chí Minh ở trong nhà, còn bàn nhau lập đền thờ Hồ Chí Minh. Tôi muốn biết ai là người đầu tiên có ý kiến lập đền thờ, nhưng đành chịu. Tất cả mọi người đồng lòng, đồng sức, một sáng kiến tập thể bùng phát từ con tim một lòng vì Hồ Chí Minh, vì cách mạng. Trong cái địa thế hồi ấy, chung quanh Long Đức có tới mấy chục đồn bốt địch. Cô hướng dẫn viên chỉ cho tôi xem bản đồ. Đúng là ngôi đền thờ Hồ Chí Minh lọt thỏm vào giữa, chung quanh lố nhố đồn bốt được vẽ như hình những con ghẻ phóng to. Đó là chưa kể tỉnh lỵ chính quyền Sài Gòn cách đền chỉ có khoảng 3 cây số. Trong bà con, có người tính chuyện lập đền thờ Hồ Chí Minh ở nơi khác ít đồn bốt hơn để bảo đảm an toàn. Nhưng rồi cuối cùng vẫn phải chọn ấp Vĩnh Hội, tuy chung quanh nhiều đồn bốt địch nhưng lại là nơi cao ráo, có luỹ tre tự nhiên gần như bao quanh và đặc biệt là có nhiều cơ sở cách mạng ở trong vùng.

Đền thờ Hồ Chí Minh ở Long Đức được khởi công xây dựng ngày 10-3-1970. Trong hoàn cảnh đặc biệt, vả lại vật liệu khó khăn, ngôi đền lúc đầu còn đơn sơ, mái lợp lá dừa nước nhưng vẫn trang trọng, gian giữa có ảnh Hồ Chí Minh, có lư hương, hai bên có hai con hạc đồng to đặt trên bàn thờ lớn, có câu đối hai bên cột. Ở giữa mặt tiền ngôi đền là hàng chữ Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên phải thấp hơn một chút là hàng chữ Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, bên trái là hàng chữ Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Trong quá trình bà con xây dựng đền, địch tìm cách phá hoại. Nhân dân Long Đức cùng với du kích đào hào chung quanh đền, trồng thêm các luỹ tre, gài thêm chông, mìn trên đường vào, chống trả khi chúng càn phá. Việc xây dựng đền chủ yếu được làm ban đêm, kể cả việc vận chuyển vật liệu bằng xuồng.

Mùa xuân năm 1971, ngôi đền được khánh thành. Việc có một ngôi đền thờ lãnh tụ dân tộc, lãnh tụ cộng sản ở ngay trong lòng địch, cách dinh Tỉnh trưởng thị xã Trà Vinh ba cây số là một chuyện lạ. Nó là cái gai trong mắt chính quyền Sài Gòn ở đây, và cũng vì thế mà đây là một sự thách đố, cho nên chính quyền Sài Gòn ở Trà Vinh không chịu để yên. Và thế là ngôi đền thờ Hồ Chí Minh ở Long Đức, Trà Vinh nghiễm nhiên trở thành “khu kháng chiến” của du kích Quân Giải phóng. Ngày 10-3-1971, tức là đúng một năm kể từ ngày đền được khởi công, địch cho Tiểu đoàn 404 Trà Vinh đánh vô Long Đức để phá đền. Du kích anh dũng đánh trả. Chúng tràn vô phá luỹ tre xanh bao quanh đền, lấy đi một số đồ thờ, trong đó có ảnh Hồ Chí Minh, đưa về thị xã. Bà con tổ chức “đấu tranh chính trị”. Đội quân tóc dài gồm các má, các chị kéo lên dinh Tỉnh trưởng Trà Vinh đòi trả lại ảnh Hồ Chí Minh.

Theo chỉ dẫn, tôi có đến thăm một bà má trong đội quân tóc dài năm xưa. Má đã già nhưng còn minh mẫn. Năm tháng của cuộc đời gian truân đã nhuốm bạc mái đầu của má, những nếp nhăn chân chim trên khuôn mặt gầy mà đôn hậu. Biết tôi ở ngoài Bắc vô, muốn hỏi chuyện về ngôi đền thờ Hồ Chí Minh, coi bộ má vui lắm.

Tôi hỏi đùa, cố ý chạm nọc chút xíu lòng tự ái của má:

— Bộ ra dinh Tỉnh trưởng đấu tranh mà không sợ hả má?

— Ê, đừng giỡn tao, mậy. Đã sợ thì hổng có đi. Mà có gì phải sợ. Bác Hồ có nhơn, có đức thì mình lập đền thờ. Chớ ba cái thằng giặc lộn xộn, lạo xạo, thất đức, bất nhơn nó phải sợ mình chớ. Tụi nó đâu có dám kêu ba trợn ba trạo gì về Bác, toàn gọi là Cụ Hồ thôi à. Tao còn hù doạ chúng nó: chớ có gây tội ác mà Cụ Hồ linh thiêng trừng phạt đó.

— Sau có đòi được ảnh Bác Hồ không má?

— Đấu tranh hoài cả sáng, nó hứa sẽ trả lại, sau đó tụi tao về. Mà nó đâu có trả lại. Đúng là chớ có tin ba cái thằng địch. Biết thế, hồi ấy tụi tao còn ở lại đấu tranh hoài cho đến khi chúng nó trả lại ảnh Bác Hồ mới thôi.

Ngôi đền thờ Hồ Chí Minh được xây dựng lại lần thứ hai sau đợt càn. Lần này, luỹ tre được gia cố thêm, hào bao quanh được tu bổ, chông mìn dày đặc, du kích ngày đêm sẵn sàng chiến đấu. Tìm đâu ra bức ảnh Hồ Chí Minh? May là một người có ảnh Hồ Chí Minh nhỏ xíu được cất giữ được đưa ra vẽ lại phóng to lên. Lần tu sửa này càng gian khổ hơn: 10 chiến sĩ du kích đã hy sinh khi đánh trả lại địch. Mãi 11 tháng sau, tức là vào mùa hè năm 1972, ngôi đền mới lại được khánh thành lần thứ hai, ngôi đền được “trùng tu” như trước, riêng mái dược lợp bằng tôn thay cho mái lá dừa nước.

Chính quyền ở đấy không để yên. Thật là cay cú và tức tối. Đường từ tỉnh lỵ Trà Vinh đến ngôi đền không xa mà bộ binh không làm gì nổi. Ba tiếng đồng hồ trước khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, quân đội Sài Gòn phải viện cả máy bay, phi pháo ném bom, bắn phá ngôi đền, làm sạt lở cả một mảng phía sau. Mảnh bom, mảnh đạn làm lủng cả vách tường và câu đối bàng tôn đến lúc này còn được trưng bày ở nhà bảo tàng khu đền như một chứng tích. Sau giải phóng, ngôi đền thờ Hồ Chí Minh được trùng tu lần thứ ba, và được khánh thành vào ngày 5-6-1989.

Năm 1995, lúc tôi đến, thì đường đất có thể vào được tận xã. Một ngôi nhà bê tông được xây dựng năm 1990 bao quanh lấy ngôi đền. Ban đầu tôi thấy lạ, thấy khó chịu khi thấy ngôi nhà bê tông đó ôm lấy ngôi đền. Nơi đây không có bão gió gì lớn mà cần đến ngôi nhà bê tông đồ sộ như vậy để bảo vệ ngôi đền. Nhưng ngắm kỹ toàn cảnh mới thấy cảm giác của tôi lúc đầu là không hợp. Trông xa, ngôi nhà bê tông như một bông sen trắng cách điệu khổng lồ mọc lên từ đất Thành đồng, giữa những luỹ tre ngăn ngắt xanh bốn mùa với hơi thở của đất trời Nam Bộ mênh mang ngút gió đồng bằng, luyện khí thiêng vũ trụ. Còn ngôi đền được bảo vệ ở giữa, tôi mường tượng ngôi đền như một cái bầu sen, như cái nhân, cái lõi, như nhụy của bông sen toả hương sắc. Tôi phục tài thiết kế, bảo tồn, tôn tạo và cách điệu, tôn lên cái hiện đại mà không làm mất đi cái sơ thủy ghi dấu ấn đạm nét oanh liệt của ngôi đền trong những năm tháng đạn bom.

Bây giờ chắc là khu vực này đẹp lắm, và chắc là ngôi đền cũng đã được trùng tu khang trang hơn, đẹp đẽ hơn. Đã lâu tôi chưa trở lại Long Đức để thăm nơi này. Năm 1995, chung quanh đây đã là như một công viên. Mé bên trái là khu bảo tàng hai tầng thoáng đãng với hồ rộng nước đầy luôn có hoa nở ngát hương. Tình cảm của con người thì không ai có thể ngăn được. Cách biểu lộ tình cảm cũng thể hiện với muôn vàn kiểu khác nhau. Nhưng, cái cách mà bà con xây dựng các ngôi đền thờ Hồ Chí Minh ở miền Nam thì thật là đặc biệt. Thật là cảm động khi thấy ngôi đền thờ Hồ Chí Minh do nhân dân tự xây dựng ngay trong lòng địch, bất chấp càn đi quét lại, bất chấp ném bom, bắn phá.

Một ngôi đền Long Đức, dù đơn sơ cũng phải dựng xây lần thứ nhất mất một năm; địch phá, sửa lại mất 11 tháng, rồi địch lại phá, bà con lại sửa, trùng tu. Phải có lòng thành kính Hồ Chí Minh như thế nào đó, sâu nặng lắm, phải có lòng kiên trung với cách mạng ghê gớm lắm, nhân dân mới làm được như vậy. Năm ấy, giữa đất trời Nam Bộ mùa xuân ở đền thờ Hồ Chí Minh tại Long Đức, tôi thắp nén hương dâng lên kính viếng Hồ Chí Minh. Mùi hương trầm toả lan, rồi đọng quyện với hương sen đất trời Nam Bộ thiêng liêng lạ thường. Đi dọc con đường, hàng cây, hồ nước khu đền Hồ Chí Minh ở Long Đức, tôi như thấy ngập tràn một mùa xuân mà Hồ Chí Minh đưa về, một mùa xuân đất nước Việt Nam bước vào đổi mới.

Lòng Hồ Chí Minh khôn nguôi trăn trở cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Có lúc ngồi bên bờ sông Gianh khi đến thăm tỉnh Quảng Bình, nơi đã từng là ranh giới Đàng Trong – Đàng Ngoài lúc Trịnh – Nguyễn phân tranh thời phong kiến, Hồ Chí Minh trầm ngâm nói với người thư ký Vũ Kỳ rằng, ông là người đi đến nơi nhưng về chưa đến chốn. Hồ Chí Minh không kịp về với đồng bào miền Nam ngày giải phóng. Hồ Chí Minh đã đi vào cõi bất tử, linh thiêng của đất trời, để đến với kênh rạch Đồng Tháp Mười, đến với cái bao la bát ngát, phóng khoáng của Nam Bộ.

Hồ Chí Minh ở trong tâm khảm mọi người dân, trong văn hoá cuộc đời, văn hoá của tâm linh, văn hoá đền thật độc đáo. Lúc tôi ra về buổi trưa năm ấy, cái nắng mùa khô miền Tây Nam Bộ đã rải lên từng ngọn cây, mái nhà. Mặt hồ sen loáng nắng hắt lên ngôi đền uy nghi với những rặng cây xào xạc. Bóng bà mẹ xấp xửng trên từng bậc thềm ngôi đền hoà vào những ngọn gió, và hơi nước hồ sen đang tỏa hơi.

Ngoài đền thờ, trong cuộc sống của nhân dân Việt Nam còn nhiều hình thức tưởng nhớ Hồ Chí Minh.

Tác động tình cảm của lãnh tụ Hồ Chí Minh đối với những chiến sĩ đang chiến đấu ở miền Nam Việt Nam những năm kháng chiến thật sâu nặng, trong đó có cả những chiến sĩ biệt động bị tù, khi nghe tin Hồ Chí Minh qua đời, đã tìm cách để tang. Trong cả tháng trời khi Hồ Chí Minh qua đời, tháng 9 mùa Thu năm 1969, bất chấp sự theo dõi gắt gao của chính quyền Sài Gòn, nhiều nơi trong thành phố Sài Gòn, đồng bào, lúc thì công khai, lúc thì bí mật, đã tổ chức truy điệu Hồ Chí Minh.

Tại Nhà lao Chí Hoà, 600 tù chính trị sáng nào cũng hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm Hồ Chí Minh. Tại Ngã Bảy, công nhân các nghiệp đoàn đã đến trụ sở Tổng Liên đoàn lao động, biến nơi đây thành nơi làm lễ tiễn đưa Hồ Chí Minh. Giới công nhân xe buýt thì cả ngày và đêm 9-9-1969 làm lễ truy điệu Hồ Chí Minh cùng thời gian Lễ truy điệu ở Quảng trường Ba đình (Hà Nội). Nhiều tổ chức học sinh, sinh viên, thanh niên yêu nước Sài Gòn đã tổ chức mặc niệm Hồ Chí Minh trong tiếng nhạc Hồn tử sĩ. Tại Hoà Hưng, khoảng 200 trí thức, nhân sĩ, phật tử tập trung tại chùa Khánh Hưng ngay sau giờ Hà Nội bắt đầu làm lễ truy điệu Hồ Chí Minh. Tại đây, Hoà thượng Thích Pháp Lan đã đọc điếu văn. Bốn ngày sau đó, vị Hoà thượng này đã bị Tổng nha cảnh sát gọi lên thẩm vấn suốt 9 tiếng đồng hồ.

Rất nhiều, rất nhiều nơi nữa trong thành phố Sài Gòn, cảnh sát cũng biết rõ các hoạt động tưởng niệm Hồ Chí Minh nhưng buộc phải làm ngơ. Bà Tám Thảo, một trong những cán bộ của Cụm tình báo H. 63 đã mặc đồ trắng suốt một thời gian dài để tang Hồ Chí Minh. Tại Nhà lao Thủ Đức (Sài Gòn), khi nghe tin Hồ Chí Minh mất, các gian nhà tù được khoét để truyền tin. Người tù mặc áo bà ba đen và trên ngực gắn một mảnh băng tang màu trắng để tang Hồ Chí Minh. Những người coi tù xông vào lột băng tang thì diễn ra một cuộc vật lộn, đánh trả kịch liệt. Hai chiến sĩ biệt động, hai chị em ruột là Thiều Thị Tạo (19 tuổi) và Thiều Thị Tân (16 tuổi), con một gia đình thương nhân khá giả ở chợ An Đông (Sài Gòn), nữ sinh Trường Mari Quyri, bị địch bắt và giam ở Nhà lao Thủ Đức là những chiến sĩ dũng cảm nhất trong cuộc đấu tranh đó. Bị giật băng tang, hai chị em Tạo, Tân cắt mạch máu cổ tay để giữ tang. Cai tù đưa hai chị em Tạo, Tân và một số người tù khác đem đi giấu ở một nhà thờ, cách biệt các phòng giam để khỏi gây ảnh hưởng. Tân, Tạo đã dùng máu mình viết lên tường nhà thờ: “Tạo, Tân hy sinh để bảo vệ việc tang Bác Hồ”. Các chị tiếp tục đấu tranh tuyệt thực để phản đối sự đàn áp của cai ngục trong việc mọi người để tang Hồ Chí Minh. Cuối cùng, cai ngục đành phải nhượng bộ.

Các chiến sĩ tại Nhà tù Côn Đảo trong cái ngày giải phóng đáng nhớ, ngày 1-5-1975, sau đó, khi liên lạc được với đất liền, khi được hỏi cần những gì trong lúc này, thì trả lời ngay là đề nghị gửi ra Côn Đảo nhiều cờ Tổ quốc và ảnh Hồ Chí Minh. Tình yêu Tổ quốc và tấm lòng đối với Hồ Chí Minh luôn luôn khắc sâu vào tâm khảm những người cách mạng và những người yêu nước Việt Nam trong những tháng năm tù đầy khốc liệt ở chốn được mệnh danh là “Địa ngục trần gian” này.

Hồ Chí Minh đã trở thành tiếng hô xung phong nơi tiền tuyến. Hồ Chí Minh đã trở thành tiếng hô của các chiến sĩ cách mạng trước pháp trường của thực dân.

Thật muôn hình vạn dạng cái cách mà lòng dân Việt Nam tỏ lòng yêu quý Hồ Chí Minh .

Trường hợp như ông Nguyễn Đức Vũ trên đất nước Việt Nam không phải là hiếm. Ông Nguyễn Đức Vũ là một thương binh 2/4, đại tá nghỉ hưu từ năm 1990, quê ở thôn Nhan Biều 3, xã Triệu Thượng, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Năm 2006, ông tròn 80 tuổi đời. Trong khuôn viên nhà ông có hai ngôi nhà: từ ngoài vào, bên phải là ngôi nhà ông đang sinh sống; còn ngôi nhà bên trái mới xây năm 2006 là nhà để thờ Hồ Chí Minh do ông dành dụm tiền hàng chục năm (gần 30 triệu đồng). Ngôi nhà để thờ này có diện tích khoảng 30 m2, gian giữa có bàn thờ Hồ Chí Minh, hằng ngày thắp hương và hằng năm vào dịp giỗ Hồ Chí Minh làm cơm dâng lên bàn thờ như giỗ tổ tiên. Phía trước nhà, có hai câu đối chữ Hán:

Cổ nguyệt chiếu sơn hà

Sĩ tâm quang nhật nguyệt

Tạm dịch là: Trăng xưa soi bóng núi sông

Lòng kẻ sĩ sáng như mặt trăng, mặt trời

Chính ông Nguyễn Đức Vũ giải thích rằng, ngoài ý nghĩa trên đây, hai câu đối đó còn có dụng ý chiết tự. Theo chữ Hán thì ghép hai chữ “Cổ”“Nguyệt” lại sẽ thành chữ “Hồ”; và tương tự, hai chữ “Sĩ” “Tâm” thành chữ “Chí” và hai chữ “Nhật” – “Nguyệt” thành chữ “Minh” (cuối cùng gồm ba chữ “Hồ Chí Minh”). Trong nhà có nhiều khẩu hiệu và trích những lời của Hồ Chí Minh được trân trọng khắc vào đá hoa, gắn vào tường; có rất nhiều tài liệu, sách báo về Hồ Chí Minh mà mấy chục năm trời ông sưu tầm được như là một thư viện nhỏ sẵn sàng phục vụ những ai muốn đến đọc.

Tại ngôi nhà này, ông Nguyễn Đức Vũ đã mở nhiều lớp cho thanh, thiếu niên (mỗi lớp 15 người) để giới thiệu, tuyên truyền về Hồ Chí Minh. Ông đã từ chối một căn hộ 30 m2 được cấp trước khi nghỉ hưu tại thành phố Huế để trở về quê và còn hiến 1000 m2 đất của nhà mình cho những hộ nghèo. Ông Nguyễn Đức Vũ là một người trong rất nhiều người Việt Nam yêu nước ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, ngưỡng mộ một con người đã trở thành một giá trị văn hoá bất diệt của Việt Nam. Ngưỡng mộ tự tâm khảm, một cách tự giác, nhận chân giá trị của ánh sáng văn hoá chứ không phải là sùng bái cá nhân như một vài người lầm tưởng.[140]

Chương thứ ba


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 8.

[2] Trước nay, nhiều người gọi là “nước Việt Nam thuộc địa nửa phong kiến”. Theo tôi, thật ra khi thực dân Pháp đã bình định xong ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia thì chúng lập ra “Đông Dương thuộc Pháp” chia Đông Dương ra làm ba kỳ: Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ, Ai Lao, Cao Miên. Như vậy, nước Việt Nam đã bị xoá tên trên bản đồ chính trị thế giới. Việt Nam lúc đó trở thành thuộc địa và nên gọi là “nước Việt Nam thuộc địa” thì đúng hơn, mặc dù tính chất phong kiến vẫn còn rất đậm và chế độ cai trị phong kiến vẫn còn, nhưng thực chất đó chỉ hoàn toàn là bộ máy tay sai của chế độ thuộc địa mà thôi.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 7.

[4] Tôi viết “lại bị hiểu lầm…” là bởi vì trước đó, ở những năm 30 thế kỷ XX, Hồ Chí Minh đã bị như thế rồi. Tôi sẽ đề cập vấn đề lý thú này ở những mục sau trong Chương này.

[5] Nhiều đảng cộng sản và công nhân trên thế giới đã cử đại diện của mình công tác tại Toà soạn tạp chí này ở Praha. Mặc dù là muộn, nhưng cuối những năm 80 của thế kỷ XX, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã cử đại diện của mình sang công tác tại Toà soạn của Tạp chí Những vấn đề hoà bình và chủ nghĩa xã hội. Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn do cơn biến động chính trị dữ dội đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Tạp chí này cũng tự giải thể.

[6] Về điểm này thì chúng ta thấy rất rõ Hồ Chí Minh rất ghét, rất kỵ giáo điều. Có thể dẫn ra rất nhiều câu, nhiều đoạn trong các bài viết và bài nói của Hồ Chí Minh đã được công bố. Nhưng, tôi xin dẫn ra một đoạn tương đối điển hình trên vấn đề rất lớn là vấn đề đấu tranh giai cấp. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (Bút danh X.Y.Z.) viết xong vào tháng 10 năm 1947, được Nhà xuất bản Sự thật xuất bản lần đầu tiên năm 1948, ở Mục IV “Vấn đề cán bộ”, khi đề cập huấn luyện cán bộ, Hồ Chí Minh viết: “Lý luận do kinh nghiệm cách mạng ở các nước và trong nước ta, do kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện nay gom góp phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó thành ra lý luận. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chước làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 272).

[7] Hồ Chí Minh đưa ra con số đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là gần 5 000 (Xem Hồ Chí Minh: “Bài nói tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Đảng”, Toàn tập, T. 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 3). Nhưng theo nhiều nguồn tài liệu thì con số đó ít hơn.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 171.

[9] Có một số ý kiến hiện nay xếp nhà Triệu vào triều đại chính thức trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Sử sách nước ta từ trước đến nay có những quan niệm khác nhau về các vương triều. Phần nhiều coi nhà Triệu ngang hàng với các triều đại khác. Ngay cả  Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo năm 1427 xếp nhà Triệu vào trong hàng ngũ các triều đại phong kiến Việt Nam chống giặc ngoại xâm:

Xét như nước Đại Việt ta

Thực là một nước văn hiến

Cõi bờ sông núi đã riêng

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều chủ một phương

(Xem thêm: Tạ Chí Đại Trường: Thần, người và đất Việt, Nxb Văn hoá-Thông tin, Hà Nội, 1999 và Tạp chí Xưa và Nay, số 265, VIII-2006).

Nhưng, cũng có ý kiến của Thiền sư, Thượng toạ Thích Trí Siêu (Giáo sư, Tiến sĩ Lê Mạnh Thát) lại không công nhận hai triều đại An Dương Vương và Triệu Đà trong lịch sử Việt Nam. Ông cho rằng, thời đại Hùng Vương đã có chữ viết và Việt luật. Thời đại Hùng Vương kéo dài cho đến tận năm 43 sau công nguyên, tức là đến tận khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Từ năm 2002, Thiền sư Lê Mạnh Thát đã công bố nhiều ý kiến của mình về lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo Việt Nam, nhưng không có tiếng vang. Song, đến đầu năm 2008, trên báo Thanh niên, cả báo viết và báo điện tử, tác giả Hoàng Hải Vân đã đăng những bài giới thiệu về những ý kiến của Thiền sư Lê Mạnh Thát với đầu đề:  Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động, công bố liên tiếp trong http://www.thanhnien.com.vn, từ ngày 26-2-2008 đến ngày 29-2-2008 và đầu tháng 3-2008). Thực ra, những ý kiến của Thiền sư Lê Mạnh Thát chỉ là những ý kiến của một người nghiên cứu như bao người nghiên cứu khác, không phải là “những phát hiện chấn động”.

[10] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 113.

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 464.

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 466.

[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 467.

[14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 467.

[15] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 467.

[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 698.

[17] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 698.

[18] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 262.

[19] Có người cho rằng, để đến Hồng Công, từ Xiêm, Hồ Chí Minh đi xuyên qua Lào, qua tây Thanh Hoá, vòng lại Quỳnh Đôi (huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Trong Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930, Hồ Chí Minh cho biết rằng, đã hai lần ông cố gắng về nước nhưng không thành vì bọn mật thám và cảnh sát ở biên giới quá cẩn mật, đặc biệt là từ khi xảy ra khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân đảng. Và ông “đã cố gắng đi lần thứ ba khi một đồng chí từ Hồng Công tới Xiêm và tin cho… biết tình hình Hội An Nam Thanh niên cách mạng bị tan rã; những người cộng sản chia thành nhiều phái, v.v.” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 19). Có người cho rằng, Hồ Chí Minh đi từ Xiêm đến Xingapo và từ đó đi tàu biển đến Hồng Công.

[20] Từ mấy chục năm, Đảng ta lấy ngày 6-1 hằng năm làm Ngày kỷ niệm thành lập Đảng. Đã có Chỉ thị số 169-CT/TW, ngày 6-11-1959 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đợt phát triển Đảng “lớp 6-1” (Xem: Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 887-891). Nhưng đến tháng 9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng ra Nghị quyết thay đổi, không lấy ngày 6-1 nữa, mà lấy ngày 3-2 hằng năm làm Ngày kỷ niệm thành lập Đảng (Xem: “Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, ngày 10-9-1960”, Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 904). Nay, căn cứ vào những tài liệu đã được xác minh một cách chính xác thì Hội nghị hợp nhất hai tổ chức cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu họp từ ngày 6-1-1930. Do đó, theo tôi, nên lấy lại ngày 6-1 hằng năm là Ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

[21] Đông Dương cộng sản liên đoàn hợp nhất vào sau.

[22] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 19.

[23] Cho đến nay, Đảng ta đã có 4 luận cương chính trị: 1. Luận cương chính trị đầu tiên của Hội nghị thành lập Đảng, đầu năm 1930; 2. Luận cương chính trị, tháng 10-1930; 3. Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam, tháng 2-1951; 4. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, năm 1991.

[24] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 2.

[25] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 6.

[26] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 4.

[27] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 7.

[28] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 7.

[29] Về sau, đã diễn ra là lập chính quyền Xôviết Nghệ – Tĩnh (công nông) năm 1930 – 1931, từ năm 1945, lập chính phủ dân chủ cộng hoà, tức là không theo kiểu chính quyền công nông binh nữa.

[30] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 6.

[31] Có người cho rằng, đó là bức thư gửi cho Manuinxki, một người từ năm 1924 là Uỷ viên Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, từ năm 1928 là Uỷ viên Ban Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản, là người đọc báo cáo chính trong Đại hội VI Quốc tế Cộng sản năm 1928. Năm 1938, Manuinxki là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Cũng có ý kiến cho là thư gửi cho Tổng Bí thư Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản G. Đimitơrốp.

[32] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 90.

[33] Với hoạt động của Hồ Chí Minh tại Đại hội Tua, đến năm 1970, tại Đại hội XIX, Đảng Cộng sản Pháp đã đánh giá rằng, Hồ Chí Minh chính là một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản năm 1920 và là người tích cực giúp cho Đảng Cộng sản Pháp đi theo một đường lối rõ rệt chống chủ nghĩa thực dân.

[34] Theo Tạp chí Xưa và Nay, số 255, tháng 3-2006, tr. 27.

[35] Theo Tạp chí Xưa và Nay, số 255, tháng 3-2006, tr. 28.

[36] Alain Rucio: “Chủ nghĩa thực dân: một bộ luật phi lịch sử, những con người vô trách nhiệm”, Tạp chí Xưa và Nay, số 255, tháng 3-2006, tr. 30 – 34.

[37] Theo Tạp chí Xưa và Nay, số 255, tháng 3-2006, tr. 33.

[38] Xin xem các tr. 4 – 6.

[39] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr. 62.

[40] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr. 52.

[41] Theo tác giả E. Cabêlép trong cuốn sách Hồ Chí Minh, Nxb Cận vệ trẻ, Mátxcơva, 1979, thì người đó là Đ. Manuinxki chứ không phải là bà Clara Xétkin. E. Cabêlép cho rằng, tháng 10-1922, Đ. Manuinxki là đại diện của Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản được cử sang Pari dự Đại hội III Đảng Cộng sản Pháp và có gặp Nguyễn Ái Quốc ở đó. Đ. Manuinxki rất thích bài phát biểu ngắn gọn, nảy lửa của Nguyễn Ái Quốc chĩa vào chủ nghĩa thực dân, phê phán các khuynh hướng cơ hội, hữu khuynh trong vấn đề dân tộc và thuộc địa. Mấy tháng sau đó, Đ. Manuinxki được Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản cử vào Ban chuẩn bị Báo cáo chính trị cho Đại hội V Quốc tế Cộng sản, trong đó có vấn đề dân tộc và thuộc địa. Lúc đó, ông nhớ đến người bạn cộng sản trẻ tuổi người Đông Dương ở Pari ngày nào trong Đại hội III Đảng Cộng sản Pháp. Do đó, ông đã đề nghị Quốc tế Cộng sản  cũng như đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Pháp cử Nguyễn Ái Quốc sang đất nước Xôviết làm việc tại cơ quan Quốc tế Cộng sản.

[42] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 273.

[43] Theo Viện Mác – Lênin (thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô): V.I. Lênin và Quốc tế Cộng sản, Nxb Sách chính trị, Mátxcơva, 1970, tr. 134 (Tiếng Nga).

[44] Như trên, tr. 143.

[45] Như trên, tr. 143.

[46] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 266.

[47] Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 4 (1932-1934), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 399 – 425. Những đoạn trích trong ngoặc kép trên đây là có xuất xứ từ tài liệu này.

[48] Có lẽ đó là cuốn sách “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản ở Đông Dương” của Hồng Thế Công (tức là Hà Huy Tập) năm 1933 mà tôi đã đề cập ở các trang trước của cuốn sách này.

[49] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 203 – 204.

[50] V.I. Lênin: “Hội nghị các phần tử tích cực thuộc Đảng bộ Mátxcơva Đảng Cộng sản (b) Nga, ngày 6 tháng Chạp năm 1920”, Toàn tập, T. 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr. 86 (tiếng Việt).

[51] V.I. Lênin: Toàn tập, T.41, Nxb Tiến bộ, Mát xcơva, 1977, tiếng Việt, tr. 423-424.

[52] Như trên, tr. 201.

[53] Như trên, tr. 200.

[54] Hồ Chí Minh: Tuyển tập, T.2, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 519.

[55] Hồ Chí Minh: Vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970, tr. 228.

[56] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr. 220.

[57] V.I. Lênin: Toàn tập, T. 41, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, tr. 21.

[58] Xem L. Vátlin: Quốc tế Cộng sản, lưu tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng thuộc Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

[59] Hå ChÝ Minh: Toµn tËp, T. 1, Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ Néi, 1995, tr. 464.

[60] Nh­ trªn, tr. 464.

[61] Hå ChÝ Minh: Toµn tËp, T. 1, Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ Néi, 1995, tr. 464 – 465.

[62] Theo Điacốp Xớckin: Quốc tế Cộng sản với vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1960, tr. 63.

ẵ  Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr. 420.

[64] Như trên.

[65] Như trên, tr. 421-422.

[66] Như trên, tr. 406.

[67]. Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr.466.

[68]. Như trên, tr. 467.

[69] Hå ChÝ Minh: Toµn tËp, T.1, Nxb ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ Néi, 1995, tr.467.

[70] V.I. Lªnin: Toµn tËp, T.4, Nxb TiÕn bé, M¸txc¬va, 1974, tr. 232 (tiÕng ViÖt).

[71]. Tôn Trung Sơn: Chủ nghĩa tam dân, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr. 50 – 51.

[72] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr. 1.

[73] Như trên, tr. 4.

[74] Như trên.

[75] Như trên, tr. 3.

[76] Như trên.

[77] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 83 – 84.

[78] Như trên, tr. 84 – 85.

[79] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 86.

[80] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 444.

[81] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 112-113.

[82] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 227.

[83] Như trên, tr. 228.

[84] Như trên, T. 3, tr. 157.

[85] Theo Hồ sơ 495-154-585 “Vấn đề Nguyễn Ái Quốc” (Quan hệ của Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản với Đảng Cộng sản Đông Dương, từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1935).

[86] Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, T. 2, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 2006, xuất bản tần thứ hai, tr. 59.

Tác giả A.A. Xôcôlốp (Liên Xô), trong tác phẩm của mình “Quốc tế Cộng sản và Việt Nam”, viết: “Trong thời gian lưu lại ở Liên Xô, Hồ Chí Minh đã thường xuyên nhận được sự hậu thuẫn của V. Ia. Vaxiliêva trong việc giúp ông học tập và công tác. Bên cạnh các vấn đề thực tiễn của phong trào cộng sản ở Đông Dương, họ đã thảo luận chi tiết nhiều vấn đề về công tác đào tạo trước mắt cán bộ Việt Nam ở Liên Xô, đã cùng nhau soạn các kế hoạch học tập, cùng nhau thực hiện công tác ngoại khoá to lớn ở bên ngoài nhà trường” (Xem А.А. Соколов: Коминтерн и Вьетнам. Подтотовка вьетнамских политических кадров в коммунистических вузах СССР 20 – 30 годов, Москва,1988, cтр.150).

[87] Bản viết tay luận án của Lê Hồng Phong vẫn được lưu giữ tại Kho lưu trữ chính trị-xã hội của Nga.

[88] Con số về vấn đề này còn khác nhau. Tác giả Đ. Êmơry trong bài “Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác” đăng trong Le Mouvenunt Social, số 90, ngày 1-3-1975 thì cho rằng có 47 người. Theo Alanh Rútxiô thì các năm 1923 – 1931, Sở Mật thám Pháp đã thống kê có 75 người. Theo một bài viết của tác giả Việt Hồng (Nguyễn Văn Khoan) đăng trong Tạp chí Lịch sử Đảng thì có 47 người. Còn tác giả A.A. Xôcôlốp trong tác phẩm Quốc tế Cộng sản và Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia cho dịch và xuất bản năm 1999 thì dựa vào các tài liệu ở Kho Lưu trữ ở Liên Xô trước đây và sau này là Kho Lưu trữ của Nga, cho rằng, có hơn 60 người. Riêng tại Trường đại học Cộng sản Phương Đông, tính đến năm 1935, có 47 người Việt Nam tốt nghiệp, trong số đó có 40 người từ Pháp đến, có 7 người từ Trung Quốc đến. Ngoài số đó, năm 1936 còn có 6 người nữa.

[89] Theo cuốn Hồ Chí Minh-Biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, xuất bản lần thứ hai, T. 2 và theo tài liệu lưu trữ tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng thuộc Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh đã lập Kế hoạch cá nhân trong năm của nghiên cứu sinh như sau:

– Họ và tên nghiên cứu sinh: Lin.

– Thời gian thực hiện kế hoạch này: từ ngày 1-1-1937 đến ngày 31-12-1937.

– Công trình nghiên cứu sinh phải hoàn thành, nộp trong thời hạn trên.

Năm thứ nhất:  – Triết học: hoàn thành ngày 31-12.

– Lịch sử cổ đại và trung đại: hoàn thành ngày 1-7.

– Lịch sử cận đại: từ ngày 1-1 đến 31-12.

– Tiếng Nga: 31-12.

Công việc tại Phòng Đông Dương: – Tình cảnh của nông dân Đông Dương.

– Lập hồ sơ báo chí: theo quá trình tích luỹ TL.

Ngoài định mức:  Dịch Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Bệnh ấu trĩ tả khuynh…

Địa chỉ và điện thoại của nghiên cứu sinh: Phố Bansaia Brônnaia, nhà 6, phòng 417.

Trong kỳ thi năm thứ nhất (1937-1938), Hồ Chí Minh đạt kết quả là các môn học Duy vật biện chứng, Lịch sử cổ đại và Lịch sử trung đại đạt trung bình, còn môn học Lịch sử cận đại đạt điểm xuất sắc.

[90] Tài liệu lưu tại Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng thuộc Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.

[91] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,1995, tr. 194.

[92] Như trên, tr. 195.

[93] Như trên, tr. 197.

[94] Như trên.

[95] Như trên, tr. 273-275.

[96] Như trên, tr. 277.

[97] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 278.

[98] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 281.

[99] Hồ Chí Minh: Biên niên tiểu sử, T. 1, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1992, tr. 214-215.

[100] Như trên, tr. 202.

[101] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 114.

[102] Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 302.

[103] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 248.

[104] Trường-Chinh: Tuyển tập (1937-1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr. 130.

[105] Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và ng­ười nghệ sĩ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, tr. 439.

[106] Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và ng­ười nghệ sĩ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, tr. 443.

[107] Phạm Văn Đồng: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và ng­ười nghệ sĩ, Nxb Văn học, Hà Nội, 1983, tr. 452-453.

[108] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 112 – 113.

[109] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 7 (1940-1945), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 113.

[110] C.Mác – Ph. Ăngghen: Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962, T. 1, tr. 284.

[111] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 4.

[112] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 9.

[113] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 12 (1951), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 172

[114] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T.12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 516.

[115] Lê Duẩn:  Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998, tr. 29.

[116] Lê Duẩn: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998, tr. 31.

[117] Lê Duẩn: Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1998, tr. 36.

[118] Như trên.

[119] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T.37, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr. 474.

[120] Trường-Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp vĩ đại, gương sáng đời đời, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 7.

[121] Trường-Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp vĩ đại, gương sáng đời đời, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 7.

[122] Trường-Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp vĩ đại, gương sáng đời đời, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 50.

[123] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội, tập 3, tr. 61.

[124] Trường-Chinh: Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp vĩ đại, gương sáng đời đời, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr. 39.

[125] Tham khảo báo Quân đội nhân dân, số Xuân Canh Ngọ, 27-1-1990.

[126] Những đoạn trích dẫn Nghị quyết này là từ tài liệu lư­u tại Uỷ ban UNESCO của Việt Nam.

[127] Một điều thú vị là năm 2007, tại Khoa Tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh đã thành lập Câu lạc bộ danh nhân Hồ Chí Minh mà thành viên chủ yếu là những sinh viên của Khoa. Ngay mới thành lập, Câu lạc bộ này đã có tới khoảng 200 thành viên. Tôi được mời làm cố vấn cho Câu lạc bộ. Đáng chú ý là Câu lạc bộ đã có được một trang web http://www.thehehochiminh.net, trong đó có rất nhiều tài liệu về Hồ Chí Minh.

[128] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 499-500.

[129] Hồ Chí Minh: Toàn tập, T. 12,  Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 501-502.

[130] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 127.

[131] Nh­ư trên.

[132] Như­ trên, tr. 128.

[133] Như trên, tr. 53.

[134] Như trên, tr. 80.

[135] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, T. 51, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 240.

[136] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 83.

[137] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 6 – 7.

[138] Xem: Phan Ngọc Liên: Hồ Chí Minh với tiến trình lịch sử dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr.598 – 599.

[139] Tôi đã viết một bài tuỳ bút về ngôi đền thờ Hồ Chí Minh ở Trà Vinh khi đến thăm, đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội, số tháng 5 năm 1995.

[140] Dựa theo bài “Đại tá về làng” của tác giả Việt Yên đăng trên báo Đại đoàn kết cuối tuần, số 538, ngày 31-12-2006, tr.16.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: