Chương 7: Lãnh đạo sự nghiệp xây dựng miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc (1954 -1969)

I- LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC KHÔI PHỤC VÀ CẢI TẠO MIỀN BẮC, ĐẤU TRANH ĐÒI THI HÀNH HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ VÀ CHUYỂN HƯỚNG CUỘC ĐẤU TRANH YÊU NƯỚC CỦA ĐỒNG BÀO MIỀN NAM (1954 -1960)

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Hoà bình được lập lại ở Đông Dương, miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng. Miền Nam, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, biến nửa nước ta thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, chuẩn bị gây lại chiến tranh tiến công nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và các nước xã hội chủ nghĩa. Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng là kẻ thù chính nguy hiểm nhất và hung ác nhất của toàn dân ta.

Trước tình hình mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược phải đồng thời tiến hành: xây dựng miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Cả hai nhiệm vụ ấy đều nhằm mục tiêu chung là củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, thiết thực tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hoà bình ở Đông Nam châu Á và thế giới.

Trong niềm vui miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng chuẩn bị trở về Thủ đô. Ngày 19-9-1954, Người về thăm Đền Hùng, gặp gỡ và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô. Người căn dặn:

“Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Ngày 14-10-1954, Người về tới Hà Nội. Mặc dù bận nhiều công việc đối nội, đối ngoại, Người vẫn dành thời gian tiếp đón và đi thăm các tầng lớp nhân dân, các đơn vị bộ đội, đặc biệt là đồng bào và chiến sĩ miền Nam vừa mới tập kết ra Bắc. Ngày 31-12-1954, Người dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ đến đặt vòng hoa tại Đài liệt sĩ Hà Nội. Kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của các liệt sĩ, Người nói:

“Các liệt sĩ đã hy sinh, nhưng công trạng to lớn của các liệt sĩ đã ghi sâu vào lòng dạ của toàn dân và non sông đất nước…

Máu nóng của các liệt sĩ đã nhuộm lá Quốc kỳ vẻ vang càng thêm thắm đỏ. Tiếng thơm của các liệt sĩ sẽ muôn đời lưu truyền với sử xanh” (1).

Sáng ngày 1-1-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự lễ của 25 vạn đồng bào Hà Nội tại Quảng trường Ba Đình, chào mừng Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ trở về Thủ đô. Trong diễn văn đọc tại cuộc míttinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Nam Bắc là một nhà, là anh em ruột thịt, quyết không thể chia cắt được. Người nêu những nhiệm vụ trước mắt của nhân dân ta là kiên quyết thi hành hiệp định đình chiến, khôi phục kinh tế, củng cố quốc phòng, tiếp tục cải cách ruộng đất, thực hiện người cày có ruộng…“nhằm củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước” (2). Về đối ngoại, Người nêu lên chính sách của Đảng và Nhà nước ta là tán thành 5 nguyên tắc chung sống hoà bình, lấy đó làm cơ sở để xây dựng và phát triển mối quan hệ với các nước láng giềng Lào, Miên và các nước Đông Nam Á khác. Với nước Pháp, cố gắng lập lại mối quan hệ kinh tế và văn hoá trên nguyên tắc bình đẳng, hai bên đều có lợi, đoàn kết với nhân dân Pháp và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng tập trung lãnh đạo củng cố miền Bắc về mọi mặt, vì “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của toàn dân ta” (3).

Trong việc khôi phục kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trước hết phải khôi phục và nâng cao sản xuất nông nghiệp, để:

“Làm cho đồng bào nông dân ấm no, để cung cấp cho quân đội, để đảm bảo tiếp tế cho các thành thị, để đẩy mạnh việc khôi phục kinh tế nước nhà” (4).

Do hậu quả nặng nề của chiến tranh và thiên tai, từ cuối năm 1954 đến giữa năm 1955, nạn đói liên tiếp xảy ra ở nhiều nơi trên miền Bắc. Tại Hội nghị sản xuất cứu đói (13-6-1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời.

“Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi” (5).

Người đã phát động phong trào thi đua sản xuất và tiết kiệm mùa xuân, kêu gọi cấy lúa xuân, trồng các loại hoa màu ngắn ngày để cứu đói.

Để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, thì phải tiếp tục thực hiện “người cày có ruộng”, vì vậy Đảng và Chính phủ đã quyết định tiến hành cải cách ruộng đất đợt 5, đợt cuối cùng của cuộc đấu tranh xoá bỏ giai cấp phong kiến ở miền Bắc. Sau gần nửa năm tiến hành khẩn trương và gian khổ, cải cách ruộng đất đợt 5 đã căn bản hoàn thành ở đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi.

Thắng lợi đó đã “mở đường cho đồng bào nông thôn ta xây dựng cuộc đời ấm no, góp phần xứng đáng vào công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh để đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà” (6).

Tuy nhiên, cuộc vận động cải cách ruộng đất đã phạm một số sai lầm “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo chủ nghĩa Mác – Lênin, trái với chế độ pháp luật của Nhà nước dân chủ nhân dân” (7).

Những sai lầm đó đã làm ảnh hưởng, gây tổn thất rất lớn cho tổ chức đảng cơ sở và chính quyền, các tổ chức quần chúng các vùng nông thôn. Vì vậy, việc kịp thời sửa sai, chỉnh đốn tổ chức, thẳng thắn tự phê bình, nhận khuyết điểm trước nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, những người chịu trách nhiệm chính trong cải cách ruộng đất đã làm cho tình hình ở nông thôn dần dần đi vào ổn định. Cùng với việc đem lại ruộng đất cho nông dân là việc vận động và đưa nông dân vào các tổ đổi công, bước đầu của lối làm ăn tập thể.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta hãy cùng nhau thi đua sản xuất và tiết kiệm để xây dựng đất nước. Tháng 4-1956, tại Hội nghị tổng kết công tác nông lâm ngư nghiệp, Người nói:

“Muốn sản xuất tốt, phải xây dựng tổ đổi công cho tốt. Cần tăng cường số lượng và nhất là củng cố chất lượng tổ đổi công. Tổ đổi công là một hình thức để tiến dần lên xã hội chủ nghĩa. Các tổ ấy sẽ giúp cán bộ trong công tác hướng dẫn sản xuất và cải tiến kỹ thuật” (8).

Song song với việc phát triển nông nghiệp là đẩy mạnh phát triển công nghiệp. Theo Người:

Đời sống của nhân dân chỉ có thể được cải thiện khi chúng ta dùng máy móc trong sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, để đưa năng suất lao động lên cao. Để làm được như vậy thì công nhân phải là người chủ và phải hiểu rằng “Cái gì lợi cho nhà máy là ích lợi cho mình, cái gì hại cho nhà máy là hại cho nhà mình” (9), cần phải tăng năng suất, tăng chất lượng, hạ giá thành. Tóm lại là “phải làm mau, làm tốt, làm rẻ, làm nhiều” và thực hành tiết kiệm, tiết kiệm thì giờ, nguyên vật liệu, máy móc. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa cần phải thực hiện nguyên tắc phân phối theo sức lao động, theo mức sản xuất và chất lượng sản xuất “làm tốt, làm nhiều: hưởng nhiều, làm xấu, làm ít: hưởng ít” (10).

Người đã đi thăm và tìm hiểu tình hình sản xuất cũng như đời sống của cán bộ, công nhân các cơ sở sản xuất, nhà máy, xí nghiệp, khu mỏ của các tỉnh Hải Phòng, Hồng Quảng, Nam Định, Lào Cai, Phú Thọ, Nghệ An, Hà Nội… Người đến thăm triển lãm nông nghiệp toàn quốc; thăm Hội nghị tổng kết cải cách ruộng đất đợt 5. Ngày 28-4-1955, trong thư gửi đồng bào Hồng Quảng, Người viết về những nhiệm vụ mà nhân dân Hồng Quảng cần phải làm sau chiến tranh để khôi phục lại cuộc sống bình thường. Ngày 7-2-1956, Người gửi thư khen huyện Mỹ Đức, Hà Đông về thành tích chống hạn.Những lời căn dặn của Người đã động viên nhân dân ta trong lao động sản xuất, học tập và công tác, góp phần ổn định, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần.

Đi đôi với việc lãnh đạo khôi phục kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tới việc chỉ đạo phát triển nền văn hoá nước nhà. Người đã đi thăm một số trường phổ thông, các lớp bổ túc văn hoá, bình dân học vụ. Tại Đại hội giáo dục phổ thông toàn quốc (23-3-1956), Người chỉ rõ mối quan hệ mật thiết giữa kinh tế với giáo dục:

“Giáo dục phải cung cấp cán bộ cho kinh tế. Kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được… Giáo dục không phát triển thì không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển” (11) và căn dặn “Các thầy giáo, cô giáo phải tìm cách dạy. Dạy cái gì, dạy thế nào để học trò hiểu chóng, nhớ lâu, tiến bộ nhanh. Dạy và học cần phải theo nhu cầu của dân tộc, của Nhà nước. Thầy dạy tốt, trò học tốt, cung cấp đủ cán bộ cho nông nghiệp, công nghiệp, cho các ngành kinh tế và văn hoá. Đó là nhiệm vụ vẻ vang của các thầy giáo, cô giáo” (12).

Ngày 30-3-1956, Người đến thăm lớp bình dân học vụ của bà con lao động khu Lương Yên, Hà Nội.

Tháng 2-1957, nói chuyện với Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ II, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định những đóng góp to lớn của các văn nghệ sĩ đối với cách mạng, kháng chiến và trong xây dựng hoà bình, như đời sống văn hoá của nhân dân đã nâng cao một bước, tàn tích văn hoá xấu của chế độ cũ đã bị tẩy trừ dần. Một nền văn hoá mới đang được xây dựng, nhưng Người cũng chỉ ra những thiếu sót của công tác văn hoá:

“Có bề rộng, chưa có bề sâu; nặng về mặt giải trí mà còn nhẹ về mặt nâng cao tri thức của quần chúng… Việc phát huy vốn cũ quý báu của dân tộc (nhưng tránh “phục cổ” một cách máy móc) và học tập văn hoá tiên tiến của các nước (trước hết là các nước bạn) cũng chưa làm được nhiều” (13). Các văn nghệ sĩ muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ thì phải học tập, phải “trau dồi tư tưởng, trau dồi nghệ thuật, đi sâu vào quần chúng. Phải đi sát sự thực. Và trong lúc tiến tới thì chúng ta phải trau dồi đạo đức cách mạng, trước hết là đức khiêm tốn” (14).

Người nhắc nhở việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân. Tháng 2-1955, trong Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế, Người căn dặn:

“Người bệnh phó thác tính mệnh của họ nơi các cô, các chú. Chính phủ phó thác cho các cô, các chú việc chữa bệnh tật và giữ sức khoẻ cho đồng bào… Vì vậy, cán bộ cần phải thương yêu, săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình… Lương y phải như từ mẫu” (15).

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm tới việc củng cố, xây dựng và phát triển quân đội và công an nhân dân, những lực lượng có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ nền độc lập của dân tộc, giữ gìn hoà bình, chống thù trong giặc ngoài, chống bọn phá hoại và làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất đất nước. Tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10 (1-1956), Người nêu rõ:

“Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hoà bình lại càng nhiều việc. Còn chủ nghĩa đế quốc, còn giai cấp bóc lột là còn bọn phá hoại” (16).

Muốn làm tròn nhiệm vụ, công an phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và của Chính phủ, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân và phải biết dựa vào dân. Nhân dịp kỷ niệm 2 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Người tới dự và phát biểu tại Lễ tuyên dương Anh hùng quân đội lần thứ ba tại Câu lạc bộ Quân đội, Hà Nội. Người nói:

“Toàn quân ta phải ra sức học tập chính trị, quân sự và văn hoá; phải thi đua làm trọn nhiệm vụ bảo vệ biên giới, bảo vệ bờ biển, bảo vệ thành thị và giữ gìn trật tự an ninh cho nhân dân” (17).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Ngày 3-12-1957, Người chủ toạ phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ bàn việc tổng kết kế hoạch 1957 và kế hoạch 3 năm (1958 -1960), nhằm đưa miền Bắc vào thời kỳ mới, thời kỳ cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá. Từ ngày 13 đến ngày 19-11-1958, Người dự Hội nghị Trung ương 14 bàn về tình hình, nhiệm vụ và kế hoạch nhà nước 3 năm (1958-1960) và tổng kết cải cách ruộng đất; Hội nghị Trung ương 16 (từ ngày 25 đến ngày 30-4-1959) bàn về vấn đề hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc, về cải cách dân chủ ở miền núi và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh. Qua những lời phát biểu tại các hội nghị, các bài viết, bài nói của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã làm rõ hơn những nội dung cụ thể về đường lối, nhiệm vụ chiến lược và mối quan hệ chặt chẽ giữa hai nhiệm vụ chiến lược đồng thời tiến hành ở hai miền trong cuộc đấu tranh đòi thực hiện đúng những điều khoản của Hiệp định Giơnevơ. Người nhấn mạnh: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công thì đấu tranh thống nhất nước nhà nhất định thắng lợi” (18).

Kế hoạch 3 năm cải tạo và bước đầu phát triển kinh tế – văn hoá 1958 -1960 của Chính phủ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 14 đã được Quốc hội khoá I thông qua. Đường lối chung tiến lên chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá I (ngày 18-12-1959) đã khẳng định:

“Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến” (19) .

Mục đích của chủ nghĩa xã hội là làm cho mọi người dân sung sướng ấm no, vì vậy: “Muốn đạt mục đích đó, thì trước hết phải tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm” (20). Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp được tiến hành từng bước vững chắc, đi từ thấp đến cao. Trong một thời gian không dài (đến cuối năm 1960), công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc về căn bản đã hoàn thành. Song song với phong trào hợp tác hoá nông nghiệp, việc cải tạo xã hội chủ nghĩa với những người làm nghề thủ công, buôn bán nhỏ, với các nhà tư sản công thương và tư sản dân tộc đã được triển khai và thu được những thành tựu đáng kể, góp phần hoàn thành kế hoạch nhà nước 3 năm (1958-1960).

Để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân thì cần phải phát triển văn hoá, giáo dục và y tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hoá” và “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất. Muốn tăng gia sản xuất tốt thì phải có kỹ thuật cải tiến. Muốn sử dụng tốt kỹ thuật thì phải có văn hoá” (21).

Phát triển văn hoá là để từng bước nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân và cũng là để phát triển sản xuất. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến công tác giáo dục, để giáo dục ngày càng phát triển và phát huy được vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thiết thực phục vụ công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Đây không chỉ là mục tiêu, mà còn là trách nhiệm nặng nề, nhưng rất vẻ vang của công việc đào tạo thế hệ tương lai cho nước nhà:

“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây.

Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.

Chăm lo xây dựng quân đội và công an nhân dân để làm cơ sở cho cuộc đấu tranh củng cố hoà bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất Tổ quốc, ngày 5-4-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường sĩ quan Lục quân. Người nêu hai nhiệm vụ trước mắt của quân đội:

1- Xây dựng quân đội nhân dân ngày càng hùng mạnh và sẵn sàng chiến đấu;

2- Thiết thực tham gia lao động sản xuất để góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Người tặng nhà trường 100 huy hiệu để làm giải thưởng cho những học viên đạt được những thành tích cao trong học tập. Ngày 1-9-1959, tại lễ phong quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ cao cấp trong quân đội, Người căn dặn:

“Các đồng chí cần phải trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn, giản dị, gần gũi quần chúng và gương mẫu về mọi mặt. Dù ở cương vị nào, chúng ta cũng đều phải cố gắng để xứng đáng là người đày tớ trung thành và tận tụy của nhân dân” (22).

Nhân dịp kỷ niệm 15 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1959), Người gửi thư chúc mừng toàn thể cán bộ và chiến sĩ, khen ngợi những thành tích đã đạt được trong 15 năm qua:

“Trong kháng chiến, quân đội ta đã chiến đấu anh dũng, đánh thắng quân xâm lược. Trong hoà bình, quân đội ta đã ra sức học tập, công tác, sản xuất, giúp đỡ nhân dân, bảo vệ đất nước” (23).

Người còn căn dặn: Phải nâng cao trình độ chính trị, kỹ thuật và văn hoá, ra sức công tác và lao động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm; phải trau dồi đạo đức cách mạng, đoàn kết, khiêm tốn, hết lòng vì Đảng, vì dân; phải nâng cao chí khí chiến đấu, luôn luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình.

Tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, tối ngày 5-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự và đọc diễn văn. Đây là bản tổng kết quá trình rèn luyện, phấn đấu của Đảng ta trong 30 năm qua, trong việc lãnh đạo nhân dân ta anh dũng chiến đấu chống giặc ngoại xâm, giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững chắc cho cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Người khẳng định:

“Với tất cả tinh thần khiêm tốn của người cách mạng, chúng ta vẫn có quyền nói rằng: Đảng ta thật là vĩ đại!

Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao,

Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình.

Đảng ta là đạo đức, là văn minh,

Là thống nhất, độc lập, là hoà bình ấm no.

Công ơn Đảng thật là to,

Ba mươi năm lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng” (24).

Ngày 1-9-1960, tại Nhà hát lớn Hà Nội, Người đọc diễn văn bế mạc lễ kỷ niệm 15 năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Người cho rằng với tinh thần hăng hái thi đua yêu nước của toàn dân ta, với sự giúp đỡ vô tư của các nước anh em thì công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nhất định thắng lợi và sự nghiệp hoà bình thống nhất đất nước nhất định thành công.

Trong không khí vui mừng kỷ niệm 15 năm thành lập nước, ngày 5-9-1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam khai mạc tại Hà Nội. Hơn 500 đại biểu thay mặt cho 50 vạn đảng viên trong cả nước, tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh anh dũng của Đảng ta trong 30 năm qua cùng đại biểu các Đảng Cộng sản anh em: Liên Xô, Trung Quốc, Anbani, Bungari, Ba Lan, Đảng Xã hội thống nhất Đức, Hunggari, Mông Cổ, Rumani, và Triều Tiên… đã tham dự đại hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc diễn văn khai mạc. Bài diễn văn tổng kết những thành tựu to lớn mà Đảng, từ sau Đại hội Đảng lần thứ II (1951) đã lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến và kiến quốc trong hơn 9 năm. Miền Nam vẫn còn phải sống trong ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đã thành công trong công cuộc khôi phục kinh tế và đang hoàn thành thắng lợi kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế và văn hoá và ngày càng củng cố thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Đại hội Đảng lần thứ III có một ý nghĩa quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, vì đây là “Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước nhà”. Tại đại hội, Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng và đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội III của Đảng đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Để cụ thể hoá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng liên tiếp mở các hội nghị Trung ương bàn sâu từng chuyên đề: về phát triển nông nghiệp (7-1961), về phát triển công nghiệp (4-1962), về kế hoạch nhà nước (4-1963), về lưu thông phân phối và giá cả (12-1964).

Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, từ chiến khu gian khổ trở về thành phố, một số cán bộ, đảng viên bắt đầu có tư tưởng ngại khó, ngại khổ, muốn nghỉ ngơi, hưởng thụ. Để kịp thời giáo dục đạo đức cách mạng, nâng cao nhận thức về chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, vớibút danh Trần Lực, tháng 12-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết tác phẩm Đạo đức cách mạng. Đây là một tác phẩm quan trọng, đề cập đến những nội dung cơ bản của đạo đức cách mạng, đạo đức xã hội chủ nghĩa. Theo Người, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới, là một công việc rất vẻ vang, nhưng cũng rất nặng nề, một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ và rất phức tạp. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ mà cách mạng giao phó. Phải tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân, vì:

“Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng” (25).

Chủ nghĩa cá nhân là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội, đẻ ra trăm thứ bệnh nguy hiểm như quan liêu, mệnh lệnh, bè phái, chủ quan, tham ô, lãng phí. Điều chủ chốt nhất đạo đức cách mạng là:

“Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng…

Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình… Đạo đức cách mạng là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân” (26).

“Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” (27).

Để công cuộc khôi phục kinh tế và phát triển văn hoá ở miền Bắc nhanh chóng thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến việc phải nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng:

“Cần phải tăng cường tập thể lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương trong Đảng và trong cơ quan chính quyền.

Tập thể lãnh đạo phải đi đôi với cá nhân phụ trách.

Phải mở rộng dân chủ; phải mở rộng phê bình và tự phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên” (28).

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn rất chú trọng đến việc bồi dưỡng và xây dựng những con người xã hội chủ nghĩa. Trong nhiều bài nói, bài viết của mình, Người đều nhấn mạnh: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có người xã hội chủ nghĩa” (29). Con người mới xã hội chủ nghĩa là những người có đạo đức và tri thức, là những người vừa “hồng” vừa “chuyên”. Người cũng đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao trình độ lý luận của Đảng cho cán bộ, đảng viên, vì đây là một nhiệm vụ quan trọng. Có nâng cao trình độ lý luận thì cán bộ, đảng viên mới có thể hoàn thành tốt công tác của mình, nếu trình độ lý luận thấp kém thì trước những nhiệm vụ cách mạng mới và phức tạp sẽ không tránh khỏi sự lúng túng, dễ mắc phải sai lầm, khuyết điểm. Trong diễn văn khai mạc lớp lý luận khoá I Trường Nguyễn Ái Quốc, trả lời câu hỏi vì sao phải học tập và nâng cao trình độ lý luận của Đảng, Người nói:

“Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác- Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác- Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta” (30).

Đảng cần phải nắm vững khoa học và kỹ thuật, vì vậy mỗi đảng viên đều phải cố gắng “học tập văn hoá, học tập khoa học và kỹ thuật” (31).

Để lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thắng lợi kế hoạch 3 năm phát triển kinh tế và văn hoá, nhanh chóng thay đổi bộ mặt xã hội của miền Bắc, làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức chăm lo đến công tác xây dựng Đảng, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước dân chủ nhân dân. Người nói:

“Trong thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng cần phải mạnh hơn bao giờ hết” (32), phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trên mọi lĩnh vực, trước hết là đối với Nhà nước.

Một trong những nhiệm vụ cần phải làm là soạn thảo, thông qua các đạo luật và sửa đổi Hiến pháp để phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới. Chính vì vậy, Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ 6, ngày 25-1-1957, đã quyết định thành lập Ban sửa đổi Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Qua một thời gian chuẩn bị, lấy ý kiến của đông đảo quần chúng nhân dân và sau 27 phiên họp, ngày 18-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Báo cáo Dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khoá I. Đây là bản báo cáo quan trọng, có giá trị lớn về lý luận và thực tiễn. Dự thảo Hiến pháp sửa đổi đã ghi rõ những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong những năm qua và nêu lên nhiệm vụ cách mạng mới trong giai đoạn lịch sử mới. Sau khi xem xét và thảo luận, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp mới, bởi:

“Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đó. Nó đã hoàn thành sứ mệnh của nó. Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa. Vì vậy mà chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp ấy” (33).

Nói về ý nghĩa quan trọng của Hiến pháp năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận:

“Bản Hiến pháp này sẽ phát huy hơn nữa lòng yêu nước và chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, sẽ động viên nhân dân ta đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, cố gắng thi đua hơn nữa để xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (34).

Ngày 1-1-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký‎ Sắc lệnh số 1, công bố Hiến pháp mới – Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên ở nước ta. Ngày 21-7-1960, Người ký lệnh công bố các luật: Tổ chức Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Tổ chức Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; Tổ chức Toà án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1954-1960, nhân dân ta ở hai miền Nam – Bắc đã kiên quyết thi hành Hiệp định Giơnevơ, hoàn thành cải cách ruộng đất, từng bước ổn định cuộc sống về cả tinh thần và vật chất. Đời sống của nhân dân miền Bắc đã từng bước ổn định, ý thức chính trị được nâng cao, kinh tế khôi phục, văn hoá, giáo dục, y tế theo con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, ngày càng phát triển.

Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được ký kết, hoà bình lập lại ở Đông Dương, nhưng đế quốc Mỹ can thiệp vào miền Nam Việt Nam. Cùng bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm, chúng đã gây ra nhiều cuộc thảm sát đẫm máu ở miền Nam Việt Nam, như: Chợ Được, Vĩnh Trinh, Ngân Sơn, Duy Xuyên, Củ Chi, v.v.. Trước dã tâm xâm lược và âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi:

“Đồng bào miền Nam kháng chiến trước hết, giác ngộ rất cao. Tôi chắc rằng đồng bào sẽ đặt lợi ích cả nước trên lợi ích địa phương, lợi ích lâu dài trên lợi ích trước mắt, mà ra sức cùng đồng bào toàn quốc phấn đấu để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc” (35).

Tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết, từ ngày 5 đến 10-9-1955, tại Hà Nội đã diễn ra Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc, thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận đã thông qua Cương lĩnh mới để tập hợp đông đảo các tầng lớp giai cấp, dân tộc, tôn giáo… nòng cốt là liên minh công – nông, do Đảng ta lãnh đạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự đại hội và được tôn vinh làm Chủ tịch danh dự của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong lời bế mạc đại hội, khi nói về Cương lĩnh của Mặt trận, Người nói:

Đó là “một cương lĩnh đại đoàn kết, mục đích của nó là đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ trong cả nước” (36).

Trước âm mưu nham hiểm của đế quốc Mỹ và chính quyền thân Mỹ ở miền Nam gây ra chiến tranh, hòng xâm chiếm nước ta một lần nữa, trong thư gửi đồng bào cả nước, ngày 6-7-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên nhiệm vụ thiêng liêng của chúng ta lúc này là: Kiên quyết tiếp tục đấu tranh thi hànhHiệp định Giơnevơ, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hoà bình, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Một lần nữa Người khẳng định:

“Nước Việt Nam ta nhất định phải thống nhất. Đồng bào Nam và Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” (37) và “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng” (38).

Trước những diễn biến mới của tình hình và nhằm đưa cách mạng miền Nam tiến lên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ tọa Hội nghị Trung ương 15 mở rộng (1-1959) bàn về nhiệm vụ cách mạng miền Nam và vai trò của miền Bắc đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đề ra đường lối của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới:

“Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện dân tộc độc lập và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh” (39).

Với mục tiêu và phương hướng:

“Lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân” (40).

Nghị quyết Trung ương 15 đã tạo một bước ngoặt mới trong phong trào cách mạng miền Nam. Mở đầu bằng phong trào Đồng khởi, cách mạng miền Nam đã chuyển từ thế bảo tồn lực lượng sang thế tiến công. Nhân dân miền Nam đã thu được những thắng lợi có ý nghĩa quyết định trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, tạo điều kiện cho sự ra đời của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam vào ngày 20-12-1960.

Luôn luôn dành tình cảm yêu thương và sự quan tâm cho cách mạng và đồng bào miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho các cán bộ và các cháu trường học sinh miền Nam, thăm nơi an dưỡng dành cho đồng bào miền Nam tập kết ra Bắc, thăm trại thiếu nhi miền Nam. Tin tưởng chắc chắn rằng Nam Bắc là một nhà, tháng 9-1954 trong thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc, Người viết:

“Đến ngày hoà bình đã được củng cố, thống nhất được thực hiện, độc lập, dân chủ đã hoàn thành, đồng bào sẽ vui vẻ trở về quê cũ. Lúc đó rất có thể tôi sẽ cùng đồng bào vào thăm miền Nam yêu quý của chúng ta” (41).

II- LÃNH ĐẠO CÔNG CUỘC XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC VÀ ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG MIỀN NAM (1961 -1964)

Để đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, là hậu phương lớn cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến vai trò và tầm quan trọng của việc xây dựng và bồi dưỡng con người mới xã hội chủ nghĩa, đó phải là những người có: Tư tưởng và tác phong xã hội chủ nghĩa, có ý thức làm chủ nhà nước, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa, tư tưởng “mình vì mọi người, mọi người vì mình”, phải chí công vô tư, chống chủ nghĩa cá nhân, phải có đạo đức của người cộng sản, cần kiệm xây dựng nước nhà.

Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế nghèo nàn và lạc hậu sau những năm dài của chiến tranh, nên trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ “phải lấy việc phát triển nông nghiệp làm gốc, làm chính” vì nông nghiệp chiếm bộ phận lớn trong nền kinh tế. Ngày 22-7-1961, tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương (khoá III) bàn về nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chúng ta phải tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc trong công cuộc phát triển nông nghiệp”, vì nông nghiệp cung cấp lương thực và nguyên liệu để phát triển công nghiệp, để đảm bảo công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa. Ngày 16-4-1962, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, khoá III họp bàn về phát triển công nghiệp. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế. Hai chân đi khoẻ và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và nhanh chóng đi đến mục đích. Thế là thực hiện liên minh công nông để xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no sung sướng cho nhân dân” (42).

Nông nghiệp tốt, công nghiệp tốt, thì xây dựng tốt chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm cơ sở vững mạnh cho sự nghiệp đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.

Trong thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có dịp trở lại thăm Cao Bằng (20-2-1961) và thăm quê hương Nghệ An (9-12-1961). Sau nhiều năm xa cách, Người xúc động và ân cần thăm hỏi bà con, căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên, những người lãnh đạo phải luôn đoàn kết, nhất trí, phải đồng tâm hiệp lực chăm lo đến lợi ích của nhân dân.

Thường xuyên quan tâm, chăm sóc đến thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho thiếu niên nhi đồng toàn quốc nhân kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Đội Thiếu niên tiền phong (15-5-1961), căn dặn các cháu thực hiện tốt 5 điều Bác dạy. Người gửi thư cho cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, nhân dịp năm học mới 1960-1961. Người gửi thư cho các thầy giáo, học sinh và quyết định tặng giải thưởng cho các cháu học sinh giỏi năm học 1962-1963 và mong năm học 1963-1964 có nhiều học sinh giỏi hơn nữa.

Người cũng đã gửi thư và đi thăm một số đơn vị, cơ sở, địa phương có nhiều thành tích trong lao động sản xuất, học tập và công tác, khen ngợi các vận động viên đạt thành tích cao trong Đại hội thể dục thể thao Thủ đô Hà Nội lần thứ nhất; gặp các đại biểu phụ nữ về dự Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ III tại Hà Nội; thăm Nhà máy cơ khí Duyên Hải ở Hải Phòng; thăm các trường Chu Văn An, Trường đại học nhân dân Việt Nam, lớp học vỡ lòng phố Hàng Than, Hà Nội. Người đến thăm và nói chuyện với cán bộ, công nhân Nhà máy bóng đèn phích nước Rạng Đông, với Hội nghị phát động cuộc vận động “Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô lãng phí quan liêu”, thăm triển lãm “Sáng kiến cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá sản xuất” toàn quốc. Tại triển lãm, Người đã thăm khu vực trưng bày những sáng kiến và thành tích của các ngành giáo dục, văn hoá và y tế. Ngày 26-7-1962, đến thăm Nhà máy sứ Hải Dương, Người ghi dòng chữ trên một lọ hoa sứ: “Phải cố gắng, tiến bộ”.

Ngày 1-9-1962, tại Hội nghị cán bộ miền núi, Người nói về hai điều quan trọng nhất trong chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi, đó là đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào. Để đời sống nhân dân ngày càng được ấm no hơn, mạnh khoẻ hơn, văn hoá cao hơn, giao thông tiện lợi hơn, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi thì nhiệm vụ của đồng bào miền núi là phải “ra sức tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm” (43). Dù đến đâu và dưới hình thức nào, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn luôn động viên nhân dân ta hãy cùng nhau đoàn kết, cố gắng và nỗ lực phấn đấu để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tin tưởng và khẳng định sự tất thắng của cách mạng miền Nam. Nhìn rõ mối tương quan lực lượng cách mạng và phản cách mạng trên phạm vi toàn thế giới, thấy rõ thế tiến công của ba dòng thác cách mạng trong thời đại ngày nay, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm “đẩy mạnh cuộc đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị tiến tới giải phóng miền Nam” (44).

Nhân dân ta ở miền Nam, dưới ánh sáng Nghị quyết Trung ương 15 (1-1959), Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ III (9-1960) của Đảng, đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh chính trị đồng thời với đẩy mạnh cuộc đấu tranh vũ trang, tiến công địch trên cả hai mặt trận chính trị và quân sự và đã giành được thắng lợi ngày càng to lớn.

Tháng 3-1961, các lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam đã được hợp nhất lại, thành lập Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày đêm tập trung sức lực, trí tuệ chỉ đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam. Người chú trọng đặc biệt việc tổ chức chi viện cho cách mạng miền Nam. Đầu tháng 5-1961, Người tiếp đồng chí Bông Văn Dĩa từ miền Nam ra để nhận nhiệm vụ lái con tàu mở đường Hồ Chí Minh trên biển, đưa vũ khí vào miền Nam. Tiếp đó, Người tiếp đồng chí Võ Bẩm, Đoàn trưởng Đoàn vận tải quân sự 559 và căn dặn: Đoàn phải làm tốt, làm nhiều hơn nữa, phải giữ được bí mật, bất ngờ, hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp sức cho cách mạng miền Nam.

Người dành cho đồng bào miền Nam những tình cảm thân thương nhất. Người nói:

“Ngày nào mà chưa đuổi được đế quốc Mỹ ra khỏi miền Nam nước ta, chưa giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của Mỹ – Diệm, thì nhân dân ta vẫn chưa thể ăn ngon, ngủ yên” (45).

Người tới thăm Triển lãm tranh tượng của các hoạ sĩ điêu khắc miền Nam tập kết ở miền Bắc. Ngày 20-10-1962, lần đầu tiên Đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm miền Bắc, xúc động ôm hôn Giáo sư Nguyễn Văn Hiếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt tay lên ngực mình và nói: “Hình ảnh miền Nam yêu quí luôn luôn ở trong trái tim tôi”. Người tin rằng với tinh thần đoàn kết, bền bỉ, anh dũng chiến đấu và quyết thắng của nhân dân miền Nam, với những kinh nghiệm chiến đấu trong gần 20 năm, được nhân dân yêu chuộng hoà bình, chính nghĩa trên thế giới ủng hộ, sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền Nam của đồng bào ta nhất định sẽ thắng lợi. Tại kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khoá II, ngày 8-5-1963, Người từ chối nhận Huân chương Sao vàng và đề nghị:

“Chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc – Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao cho tôi Huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng” (46).

Dưới sự lãnh đạo, cổ vũ của Đảng và Bác Hồ, dưới ngọn cờ đoàn kết cứu nước của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, nhân dân ta ở miền Nam đã giành được những thắng lợi to lớn trong cuộc đấu tranh kết hợp chính trị với vũ trang, nổi dậy với tiến công trên cả ba vùng chiến lược, tiến công địch bằng cả ba mũi: chính trị, quân sự và binh vận, phá vỡ quốc sách ấp chiến lược của chúng, dẫn tới chiến thắng Ấp Bắc (1-1963), báo hiệu sự phá sản tất yếu của cuộc chiến tranh đặc biệt của Mỹ. Phong trào đấu tranh chính trị trong các đô thị, nhất là ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng cũng ngày một dâng cao, đã đẩy đế quốc Mỹ vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”.

Để tăng cường hơn nữa sự đoàn kết nhất trí trong toàn dân trước sự đe doạ leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ, ngày 27-3-1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và đọc báo cáo tại Hội nghị Chính trị đặc biệt tại Hà Nội. Đây là một văn kiện quan trọng, đánh giá, tổng kết thành tích 10 năm phấn đấu của nhân dân ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, về nông nghiệp, công nghiệp, văn hoá, xã hội ở miền Bắc và những chiến thắng oanh liệt của đồng bào miền Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Với những thắng lợi vang dội của quân và dân miền Nam, càng đánh càng mạnh, càng mạnh càng thắng, Người khẳng định:

Miền Nam thật xứng với danh hiệu “Thành đồng của Tổ quốc” (47) và kêu gọi đồng bào miền Bắc: “Mỗi người chúng ta phải làm việc bằng hai để đền đáp lại cho đồng bào miền Nam ruột thịt” (48).

Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam từ 1954-1964, bắt nguồn từ đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; bắt nguồn từ sự lãnh đạo và chỉ đạo sáng suốt, nhạy bén của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

III- LÃNH ĐẠO CẢ NƯỚC QUYẾT TÂM CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC  (1965 -1968)

Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc, ồ ạt đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:

“Tôi muốn nói với dư luận nhân dân ở nước Mỹ và toàn thế giới sự căm phẫn của toàn thể nhân dân Việt Nam trước những hành động xâm lược có tính toán từ trước của Chính phủ Mỹ đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Tôi cũng muốn nói lên ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam, với sức mạnh được tăng cường gấp bội, quyết đấu tranh chống bọn xâm lược cho đến thắng lợi” (49).

Và nêu lên biện pháp duy nhất để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam, đó là:

“Đế quốc Mỹ phải tôn trọng Hiệp định Giơnevơ, phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, phải chấm dứt ngay những cuộc tiến công vào miền Bắc” (50).

Thực hiện đường lối của Đảng, thể hiện trong các Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 11 và 12, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu, đánh thắng chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, đồng thời ra sức hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho cách mạng miền Nam. Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá III, Người khẳng định “Lúc này chống Mỹ, cứu nước là nhiệm vụ thiêng liêng nhất của mọi người Việt Nam yêu nước” (51), đồng thời kêu gọi “Tất cả chúng ta hãy đoàn kết nhất trí triệu người như một, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!” (52). Trước sự xâm phạm trắng trợn chủ quyền, độc lập của Việt Nam, ngày 10-4-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịch liệt lên án đế quốc Mỹ “đưa hàng trăm máy bay, hàng chục tàu chiến liên tiếp đến bắn phá miền Bắc, phơi trần bộ mặt ăn cướp của chúng” (53). Người tuyên bố lập trường trước sau như một của Chính phủ và nhân dân Việt Nam là:

“Kiên quyết bảo vệ nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam…

Đế quốc Mỹ phải tôn trọng Hiệp định Giơnevơ, phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, phải chấm dứt ngay những cuộc tiến công vào miền Bắc. Đó làbiện pháp duy nhất để giải quyết vấn đề chiến tranh ở Việt Nam” (54).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng đã đề ra những chủ trương, đường lối mới trong điều kiện đế quốc Mỹ leo thang trong cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam, tăng cường ném bom phá hoại miền Bắc. Ngày 16-1-1966, tại Hội nghị cán bộ cao cấp nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ 12 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá III, Người nói rõ về phạm vi, thời gian và phương hướng kết thúc chiến tranh:

“Chúng ta phải ra sức cố gắng giành cho được thắng lợi quyết định ở miền Nam, bởi vì cuộc chiến tranh này căn bản là ở miền Nam. Mỹ thua ở miền Nam tức là nó thua, ta thắng ở miền Nam tức là ta thắng” (55)… Phải giành thắng lợi quyết định trong một thời gian, ta không nói mấy năm, mấy tháng, mấy ngày, nhưng trong một thời gian càng ngắn càng tốt. Còn ở miền Nam phải tiêu diệt và phá tan được quân ngụy‏‏, tiêu diệt được nhiều quân Mỹ, đó là ta giành được thắng lợi quyết định.

Và khẳng định ta nhất định thắng vì cuộc kháng chiến của ta là toàn dân, thực sự là cuộc chiến tranh nhân dân.

Dưới sự lãnh đạo và động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời gian này ở miền Bắc đã xuất hiện các phong trào thi đua: “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”, “Ba đảm đang”, “Ba sẵn sàng”, “Nghìn việc tốt”, “Tay cày, tay súng” … Các phong trào thi đua yêu nước đã đóng góp tích cực vào những thành tích lao động sản xuất và chiến đấu, góp phần chi viện cho miền Nam.

Tại kỳ họp thứ ba, Quốc hội khoá III, ngày 22-4-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi quân và dân ta đẩy mạnh sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng, đồng thời kêu gọi nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Ngày 15-2-1965, Người về thăm Côn Sơn, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, nơi thờ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Người nghỉ trưa tại đây và xem rất kỹ văn bia trong đền thờ Nguyễn Trãi. Đây là cuộc gặp gỡ của hai nhà chính trị và quân sự kiệt xuất, hai nhà thơ lớn, hai nhân cách lớn và hơn tất cả đó là tấm lòng vì sự nghiệp giải phóng đất nước và hạnh phúc của nhân dân.

Để nắm sát tình hình sản xuất nông nghiệp, nhân dịp năm mới 1967, Người về thăm cán bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình. Người cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của toàn Đảng và toàn dân ta lúc này là sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và

“Các hợp tác xã nông nghiệp là đội quân hậu cần của quân đội chiến đấu ngoài mặt trận. Vì vậy, nhiệm vụ của các hợp tác xã nông nghiệp, của bà con xã viên, của cán bộ công tác ở nông thôn là rất quan trọng” (56).

Ngày 2-1-1967, trong buổi tiếp đại biểu các đơn vị anh hùng, các anh hùng và chiến sĩ thi đua chống Mỹ, cứu nước, Người nói:

“Các cô, các chú được tuyên dương là anh hùng, phải nhận rõ rằng vinh dự đó là vinh dự chung của tập thể, chứ không chỉ là của riêng từng người. Nếu không có Đảng, không có nhân dân, không có tập thể thì mọi người không trở thành anh hùng được. Có anh hùng là vì có tập thể anh hùng. Có tập thể anh hùng là vì có nhân dân anh hùng, dân tộc anh hùng, Đảng anh hùng. Sự nghiệp anh hùng của nhân dân ta gắn liền với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân thế giới” (57).

Chiến tranh ngày càng ác liệt, ngày 17-7-1966, qua làn sóng của Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Người nói:

“Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!” (58).

Người cũng chỉ ra cách giải quyết cuộc chiến tranh ở Việt Nam:

“Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hoà bình sẽ trở lại ngay lập tức. Lập trường của Việt Nam đã rõ ràng: đó là 4 điểm của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và 5 điều của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam – ngoài ra, không có cách nào khác!”.

Sau 4 năm chiến đấu vô cùng anh dũng, quân và dân miền Bắc anh hùng đã giành được thắng lợi vẻ vang: “Bắn rơi hơn 3.200 máy bay, bắn cháy hàng trăm tàu chiến lớn nhỏ, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ trên miền Bắc nước ta”2. Đây là một thắng lợi có ý nghĩa vô cùng quan trọng, vì đã phá vỡ được âm mưu của Mỹ là làm suy yếu miền Bắc và giảm sút sức chi viện cho miền Nam. Song Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn căn dặn nhân dân ta:

“Đế quốc Mỹ rất ngoan cố và xảo quyệt. Chúng nói “hoà bình”, “thương lượng” nhưng vẫn chưa chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng. Hơn một triệu quân Mỹ, quân ngụy và quân chư hầu còn đang hàng ngày gây ra biết bao tội ác dã man đối với đồng bào miền Nam ta” (59).

Vì vậy, trong lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, Người chỉ ra nhiệm vụ thiêng liêng của toàn dân ta lúc này là:

“Phải nâng cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc.

Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi” (60).

Để động viên tinh thần của quân và dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên gửi thư, điện khen ngợi những thành tích đã đạt được trong lao động sản xuất, học tập, và chiến đấu, v.v.. Người gửi thư khen cán bộ và nhân viên quân y đã có nhiều thành tích trong việc cứu chữa thương, bệnh binh cũng như trong việc giữ gìn sức khoẻ bộ đội; khen Tiểu đoàn 1 pháo cao xạ Quân khu IV; khen quân và dân Hà Nội đã bắn rơi chiếc máy bay Mỹ thứ 1.600; hợp tác xã Tân Phong, tỉnh Thái Bình, hợp tác xã Nam Tiến, tỉnh Phú Thọ đạt năng suất lúa cao…

Người đến thăm và nói chuyện với Hội nghị ngành công nghiệp nhẹ, với Đại hội thi đua “Năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm nhiều” toàn miền Bắc; dự lễ khánh thành Nhà máy dệt 8-3, thăm Đại hội “Ba sẵn sàng” của Đoàn Thanh niên lao động các cơ quan Trung ương, thăm Đại hội những người xuất sắc trong phong trào “Phụ nữ ba đảm đang” của phụ nữ Hà Nội; tiếp Đoàn đại biểu Đại hội nữ công nhân cầu đường, đơn vị anh hùng của Bộ Giao thông vận tải; tặng hoa phong lan cho các đại biểu nữ dân quân Quảng Bình và Vĩnh Linh.

Quan tâm đến công tác giáo dục đào tạo, nhân dịp năm học mới, ngày 16-10-1968, Bác Hồ gửi thư cho các cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, học sinh, sinh viên. Trong thư, Người căn dặn: Dù khó khăn đến đâu cũng phải thi đua dạy tốt và học tốt.

Mặc dù chiến tranh diễn ra rất ác liệt, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân miền Bắc đã thu được nhiều thắng lợi trên các mặt trận kinh tế, văn hoá, giáo dục, xã hội góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và chi viện cho cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh theo dõi từng tin thắng trận của quân và dân miền Nam. Nhân dịp kỷ niệm lần thứ năm ngày thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (20-12-1965), Người gửi điện chúc mừng. Trong bức điện, Người khen ngợi những chiến thắng vang dội ở Vạn Tường, Plâyme, Đà Nẵng, Chu Lai, Bầu Bàng, Dầu Tiếng, Sài Gòn… và khẳng định:

“Quân và dân ta ở miền Nam có đủ khả năng đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ dù chúng đưa thêm vào miền Nam mấy chục vạn quân nữa” (61).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, quân và dân miền Nam đã làm thất bại cuộc phản công mùa khô lần thứ nhất (1965 -1966) và phá sản hoàn toàn kế hoạch tìm diệt và bình định của Mỹ trong mùa khô 1966 -1967.

Tháng 12-1966, khi Phái đoàn Thường trực của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra thăm Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ và thăm hỏi những người con ưu tú của miền Nam, đồng thời thân ái gửi lời chúc mừng đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng. Người gửi thư cho Luật sư Nguyễn Hữu Thọ và các vị trong Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, chúc mừng miền Nam giành thắng lợi trong chiến dịch đông xuân 1966 -1967, bởi thắng lợi đó

“Có ý nghĩa chiến lược rất to lớn về quân sự và chính trị trong các cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta” (62).

Nhân dịp Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố Cương lĩnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Sức mạnh đoàn kết của nhân dân ta nhất định sẽ đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Tháng 9-1967, Người gửi điện mừng Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua và dũng sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam lần thứ hai, khen ngợi những thành tích trong hơn 20 năm chiến đấu vô cùng anh dũng, bền bỉ, vượt mọi gian khổ, hy sinh, quyết giành lại độc lập, tự do của đồng bào và chiến sĩ miền Nam. Người viết:

“Đại hội anh hùng lần này là Đại hội của những người sẽ đánh thắng chiến tranh cục bộ của chúng, thực hiện Cương lĩnh chính trị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” (63).

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta còn gặp nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nhất định sẽ đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thực hiện hoà bình thống nhất Tổ quốc. Ngày 28-12-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng quyết định chủ trương mở đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968). Sau Hội nghị, Người chỉ thị cho cán bộ chỉ huy các chiến trường: Kế hoạch phải thật tỉ mỉ. Hợp đồng phải thật khớp. Bí mật phải thật tuyệt đối. Hành động phải thật kiên quyết. Cán bộ phải thật gương mẫu.

Những thắng lợi to lớn của quân và dân miền Nam làm đồng bào cả nước phấn khởi, tự hào, bạn bè thế giới vui mừng. Trong niềm vui đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện mừng và căn dặn:

“Thắng lợi đầu xuân của quân và dân miền Nam đã đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân ta đến một tình thế mới rất có lợi! Không có gì cứu vãn nổi sự sụp đổ hoàn toàn của giặc Mỹ và tay sai!

Càng gần thắng lợi, càng nhiều gian nan. Quân địch như con thú dữ đến bước đường cùng càng giãy giụa điên cuồng, quân và dân ta càng phải tăng cường đoàn kết, kiên trì chiến đấu, đánh mạnh, đánh liên tục, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa!” (64).

Dù tuổi cao, sức yếu, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mong muốn có một lần được vào thăm đồng bào miền Nam yêu quý. Ngày 10-3-1968, Người gửi thư cho đồng chí Lê Duẩn, đề nghị bố trí để Bác vào thăm đồng bào miền Nam. Song vì địch đánh phá ác liệt, không đảm bảo an toàn và sức khoẻ đã yếu nên nguyện vọng vào thăm miền Nam của Người không thể thực hiện được.

Tại Hà Nội, nhớ tới đồng bào miền Nam đang ngày đêm chiến đấu, Người đến thăm Phái đoàn đại diện thường trực của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, tiếp các đoàn đại biểu miền Nam ra thăm miền Bắc, các anh hùng và chiến sĩ thi đua các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam, các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam, hỏi thăm tình hình chiến sự và cuộc sống của đồng bào và chiến sĩ. Tình cảm và sự quan tâm sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và đồng bào miền Bắc là nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn, góp phần vào những chiến công vang dội của quân và dân miền Nam.

Thắng lợi của sự nghiệp cách mạng gắn liền với công tác xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức quần chúng và đào tạo, bồi dưỡng lớp người kế tục cách mạng cho đời sau. Trong những năm cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng đặc biệt quan tâm chỉ đạo công việc quan trọng này, Người nói:

“Chúng ta đã giành được thắng lợi to lớn. Nhưng đó mới chỉ là bước đầu trên con đường muôn dặm. Sự nghiệp cách mạng còn lâu dài, gian khổ. Đảng ta còn có trách nhiệm nặng nề đối với 30 triệu đồng bào cả nước ta và phải tích cực gánh vác phần trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp cách mạng thế giới” (65).

Người tỏ ý phê bình một số cán bộ hình như còn mải làm công tác hành chính, sự vụ hơn là để nhiều tâm sức xây dựng con người, xây dựng Đảng và các tổ chức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành thời gian đến thăm và nói chuyện với Hội nghị chỉnh huấn do Trung ương triệu tập (26-1-1965), Hội nghị tổng kết 3 năm xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở “bốn tốt” (19-4-1966). Trong các bài phát biểu, Người đã đề cập nhiều đến vấn đề rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Theo Người :

“Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt” (66).

Nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng, Người viết bài Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đăng báo Nhân dân, số 5409, ngày 3-2-1969, vạch rõ những tệ hại của chủ nghĩa cá nhân, nêu bật những yêu cầu về đạo đức cách mạng mà mỗi cán bộ, đảng viên ta phải suốt đời rèn luyện.

Quan tâm đến công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng đến công tác giáo dục thanh niên, nhằm “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”. Người tham dự nhiều hoạt động của thanh niên: Nói chuyện tại các lễ kỷ niệm ngày thành lập Đoàn, các đại hội thi đua, hội nghị mừng công, đại hội thanh niên “ba sẵn sàng”… kịp thời biểu dương những tấm gương anh hùng, dũng cảm, sáng tạo của đoàn viên thanh niên cả nước trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. Người tỏ ý tin tưởng với một thế hệ thanh niên hăng hái và kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Người yêu cầu phải mạnh dạn giao việc cho những cán bộ trẻ đã được rèn luyện, thử thách.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã xuất hiện nhiều tấm gương người tốt việc tốt. Để gương người tốt việc tốt ngày càng nhân lên trong xã hội, trong lao động sản xuất, chiến đấu và học tập, đầu tháng 6-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc với một số đồng chí cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng về việc xuất bản sách Người tốt, việc tốt. Theo Bác, cần có những phần thưởng để khuyến khích, động viên, cổ vũ mọi người hăng hái làm tròn nhiệm vụ và”Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới” (67).

IV- TĂNG CƯỜNG VÀ MỞ RỘNG ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ, TRANH THỦ SỰ ỦNG HỘ VÀ GIÚP ĐỠ CỦA NHÂN DÂN THẾ GIỚI ĐỐI VỚI CUỘC ĐẤU TRANH CHÍNH NGHĨA CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

Chủ trương của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối với tất cả các nước trên thế giới là mong muốn duy trì tình hữu nghị và thành thật hợp tác trên cơ sở bình đẳng và tương trợ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố chính sách ngoại giao của Nhà nước ta là:

“Sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hoà bình” (68).

Sự hợp tác đó sẽ có lợi cho cả đôi bên và có lợi chung cho công cuộc hoà bình toàn thế giới. Trên tinh thần chấp hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, ngày 12-8-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đại biểu các nước Ấn Độ, Ba Lan và Canađa, trong ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế thi hành Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương. Từ năm 1955 đến 1957, hoạt động đối ngoại của Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào các hướng như sau: Đấu tranh đòi đối phương phải triệt để thi hành Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương; tăng cường tình hữu nghị với các nước láng giềng và các nước xã hội chủ nghĩa anh em; góp phần củng cố hoà bình ở châu Á và trên toàn thế giới. Đối với Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu Mỹ phải tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnhHiệp định Giơnevơ. Đối với nước Pháp, muốn lập những mối quan hệ kinh tế và văn hoá trên cơ sở bình đẳng, hai bên đều có lợi, cộng tác thẳng thắn và tin cậy lẫn nhau. Đối với các nước trong khu vực, đặc biệt hai nước Lào và Campuchia, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh tới ý nghĩa quan trọng của tình đoàn kết quốc tế giữa nhân dân ba nước Đông Dương trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng đất nước, phù hợp với điều kiện của mỗi nước.

Để tăng cường và mở rộng các hoạt động đối ngoại nhằm tranh thủ sự ủng hộ và viện trợ của bạn bè quốc tế với công cuộc khôi phục, cải tạo kinh tế, văn hoá ở miền Bắc, với sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của đồng bào miền Nam, thống nhất nước nhà, ngày 22-6-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam lên đường đi thăm các nước Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ; tháng 7-1957, thăm 9 nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa: Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan, Cộng hoà dân chủ Đức, Hunggari, Nam Tư, Anbani, Bungari và Rumani; tháng 2-1958, thăm các nước Mianma, Ấn Độ và Inđônêxia. Tháng 11-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang dự Lễ kỷ niệm lần thứ 43 Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau đó dự và ký‎ Tuyên bố chung tại Hội nghị đại biểu 81 Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva. Những hoạt động ngoại giao của Người, đặc biệt trong việc góp phần giảm bớt sự căng thẳng, bất hoà giữa Liên Xô và Trung Quốc, đã làm tăng cường tình đoàn kết quốc tế, sự thống nhất giữa các Đảng Cộng sản và công nhân các nước anh em.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đón tiếp một số nguyên thủ của các nước sang thăm Việt Nam: Chủ tịch K. E. Vôrôsilốp – Liên Xô (5-1957), Tổng thống Praxat – Ấn Độ (2-1959), Chủ tịch Hátghi Lêsi – Anbani (6-1960), Tổng thống Xêcu Turê – Ghinê (9-1960)… Người tiếp các đoàn đại biểu quốc tế sang thăm và làm việc tại Việt Nam: Đoàn đại biểu Thanh niên Dân chủ thế giới (23-10-1956), Đoàn Thương mại Ai Cập (1-1-1958), Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Pháp (8-1-1958), Đoàn đại biểu Công đoàn Thái Lan (11-1-1958), Đoàn đại biểu Ghinê và Kênia (22-3-1959), Đoàn đại biểu phụ nữ Tuynidi và Angiêri (8-1959). Người đã tiếp bà Idaben Blum, Ủy viên Chủ tịch đoàn Hội đồng hoà bình thế giới (22-9-1959); Đoàn đại biểu Thanh niên Camơrun (16-1-1960), v.v.. Người đã trả lời phỏng vấn một số nhà báo nước ngoài: các ông L. Hanxen chủ bút Hãng U.P. của Mỹ ở khu vực châu Á (26-12-1955), nhà báo Nhật Sira Isi Bôn về tình hình Việt Nam, về quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới (5-10-1959)… Người tiếp ông Uyliam Uôbi – Nghị sĩ Quốc hội Công đảng Anh; tiếp Đoàn đại biểu Viện Hàn lâm khoa học Ba Lan và Tiệp Khắc sang Việt Nam ký‎ kế hoạch hợp tác khoa học giữa Việt Nam – Ba Lan và Việt Nam – Tiệp Khắc.

Người gửi thư cho các cá nhân, tập thể, các tổ chức quốc tế và các nước: Điện chúc mừng nhân dịp kỷ niệm ngày tuyên bố độc lập của Liên bang Miến Điện; Điện gửi Ủy ban liên hiệp sinh viên các nước Á – Phi; Điện mừng Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô; Điện gửi Tổng thống Pháp Rơnê Côty, yêu cầu huỷ bỏ án tử hình chị Giamila, người nữ thanh niên yêu nước Angiêri; Điện mừng nước Cộng hoà Ghinê thành lập; Điện gửi Hội nghị chống việc Chính phủ Pháp định thử bom nguyên tử ở Xahara; Điện mừng nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Pháp; Đoàn đại biểu Liên hiệp Công đoàn thế giới và các tổ chức công đoàn các nước xã hội chủ nghĩa đến Việt Nam dự Đại hội Công đoàn lần thứ II của Việt Nam, Đoàn đại biểu Vương quốc Lào, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Angiêri… Người gửi thư cho thiếu nhi Trung Quốc, cảm ơn thanh thiếu nhi và nhân dân Trung Quốc đã ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ của nhân dân và thiếu nhi Việt Nam. Người gửi thư cho hai ông Bengiamin Xpớc và Xtiuớt Hưugơ, cảm ơn lực lượng dân chủ Mỹ đã ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Người tin tưởng vào ý chí chiến đấu và niềm tin thắng lợi của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù phải chịu nhiều tổn thất, hy sinh.

Ngày 23-10-1963, Người đọc lời chào mừng các đoàn đại biểu Công đoàn quốc tế sang dự Hội nghị của ủy ban công đoàn quốc tế đoàn kết với lao động và nhân dân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị đã thông qua những nghị quyết thiết thực để ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân miền Nam Việt Nam cả về tinh thần và vật chất. Tại Hội nghị quốc tế đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ và bảo vệ hoà bình (từ ngày 25 đến 29-11-1964), Người cho rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam đã được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ, vì:

“Mỗi thắng lợi của nhân dân thế giới là một thắng lợi của nhân dân Việt Nam. Và mỗi thắng lợi của nhân dân Việt Nam cũng là một thắng lợi của nhân dân thế giới” (69).

Đối với Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh hoan nghênh những chủ trương tích cực của Liên Xô trong việc ủng hộ và viện trợ cho Việt Nam chống Mỹ. Người chỉ đạo việc mời và đón tiếp thân tình nhiều đoàn đại biểu cao cấp của Đảng và Nhà nước Liên Xô sang thăm nước ta. Do những đóng góp của Người vào việc củng cố và tăng cường tình hữu nghị vĩ đại với Liên Xô, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười, Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô quyết định tặng Người Huân chương Lênin, huân chương cao quý nhất của Liên Xô. Người đã gửi điện cảm ơn và xin tạm hoãn việc nhận phần thưởng cực kỳ cao quý ấy:

“Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam, tôi sẽ đại biểu cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại” (70).

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (1917-1967), Người viết bài Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc, đăng trên báo Sự thật (Pravđa), Liên Xô, bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Việt Nam với Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô trong cuộc đấu tranh vì độc lập và thống nhất Tổ quốc của nhân dân ta.

Về quan hệ với Trung Quốc, Người đã nhiều lần sang thăm và nghỉ ngơi tại Trung Quốc để cảm ơn về sự giúp đỡ to lớn và củng cố hơn nữa mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết Việt – Trung. Nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc (1-7-1921–1-7-1961), Người viết bài: Cách mạng Trung Quốc và cách mạng Việt Nam, nêu lên mối quan hệ gắn bó giữa cách mạng và nhân dân hai nước Việt – Trung.

Người ủng hộ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, ủng hộ các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc và lên án các hành động can thiệp, xâm lược của chủ nghĩa đế quốc: ủng hộ đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước Arập chống lại cuộc xâm lược của Ixraen; ủng hộ cuộc đấu tranh vì độc lập của nhân dân Cônggô và nhân dân Đôminích; ủng hộ phong trào đoàn kết của nhân dân Á – Phi chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới.

Cùng với những hoạt động trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo nhiều hoạt động của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây dựng mối quan hệ rộng rãi với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhân sĩ, trí thức, chính khách, nhà văn hoá có tên tuổi để hình thành một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ nhân dân ta chống đế quốc Mỹ xâm lược.

Nhân dịp năm mới 1966, Người gửi lời chúc đầu năm đến nhân dân Mỹ, cảm ơn nhân dân Mỹ đã đấu tranh đòi Chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam và nêu rõ: Nhân dân Việt Nam rất quý‎ trọng tình hữu nghị với nhân dân Mỹ vĩ đại đang tiếp tục những truyền thống của Hoa Thịnh Đốn và Lincôn đấu tranh cho độc lập dân tộc và dân chủ.

Ngày 24-1-1966, trong thư gửi các vị đứng đầu các nước xã hội chủ nghĩa, các nước liên quan tới Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam, các nước dân tộc chủ nghĩa và nhiều nước khác quan tâm đến tình hình Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tình hình nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra ở miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia. Người cực lực phản đối những tội ác man rợ của đế quốc Mỹ gây ra ở miền Nam và khẩn thiết yêu cầu các chính phủ và nhân dân yêu chuộng hoà bình toàn thế giới hãy kiên quyết chặn tay bọn tội phạm chiến tranh Mỹ. Một lần nữa, Người khẳng định: Ngày nào còn đội quân xâm lược Mỹ trên đất nước chúng tôi, thì nhân dân chúng tôi kiên quyết chiến đấu chống lại chúng.

Những hoạt động ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần khẳng định lập trường và thiện chí của Đảng, Nhà nước ta trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam và cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam. Đồng thời cũng khẳng định niềm tin, ý chí quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu: hoà bình, thống nhất, độc lập dân tộc, dân chủ và góp phần vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới, góp phần làm tăng uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những hoạt động đó đã góp phần nêu cao thiện chí hoà bình, chính sách láng giềng thân thiện của Việt Nam, nâng cao địa vị và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời góp phần tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, làm cho nhân dân thế giới hiểu hơn về những đau thương, mất mát mà cuộc chiến tranh đế quốc Mỹ đã gây ra ở miền Nam Việt Nam. Sự đoàn kết, đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới với nhân dân Việt Nam đã góp phần vào thắng lợi to lớn của nhân dân miền Nam Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống xâm lược. Thay mặt nhân dân Việt Nam và chính phủ Việt Nam, Người gửi lời cảm ơn sâu sắc đến nhân dân và chính phủ các nước anh em.

Trong 15 năm đứng đầu sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng Trung ương Đảng sáng suốt đề ra đường lối đúng cho cách mạng Việt Nam, cùng một lúc thực hiện hai nhiệm vụ cách mạng: Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Cuộc chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại của chúng ở miền Bắc là một cuộc đụng đầu lịch sử. Trong cuộc chiến đấu gay go và ác liệt ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý tài tình, sáng tạo mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược của hai miền; mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại. Người đã chú trọng những nhân tố đảm bảo thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ ấy: Xây dựng Đảng, Nhà nước vững mạnh, xây dựng khối đoàn kết toàn dân, động viên nhân dân ta thi đua yêu nước, đồng thời tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè khắp năm châuđưa cuộc đấu tranh của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nâng địa vị và uy tín của dân tộc ta lên một tầm cao mới. Dù kẻ địch còn rất ngoan cố, dù nhân dân ta còn phải vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, nhưng nhân dân ta nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn.

V- NHỮNG NGÀY CUỐI ĐỜI VÀ BẢN DI CHÚC LỊCH SỬ

Trong những năm cuối đời, tuy tuổi cao, sức khoẻ có giảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn rất sáng suốt, vẫn cố gắng làm việc, vẫn cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng sang năm 1969, sức khoẻ của Người sút kém nhiều, nhưng Người vẫn tranh thủ quỹ thời gian đang ít dần đi để làm việc, gặp gỡ, đi thăm cán bộ, nhân dân và chiến sĩ.

Mừng Xuân 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư chúc mừng đồng bào và chiến sĩ cả nước. Thư chúc mừng năm mới của Bác đã mang lại cho nhân dân ta niềm tin tất thắng vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước:

“Năm qua thắng lợi vẻ vang,

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.

Vì độc lập, vì tự do,

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,

Bắc – Nam sum họp, Xuân nào vui hơn!” (71).

Đêm 30 Tết năm 1969, tại Phủ Chủ tịch, Người cùng các đồng chí phục vụ và bảo vệ vui văn nghệ. Nhân dịp năm mới 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp gỡ các cháu thiếu nhi dũng sĩ miền Nam ra thăm miền Bắc; tiếp các gia đình có công với cách mạng; thăm và chúc Tết đơn vị bộ đội Phòng không không quân và trồng cây đa ở đồi Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây, cây đa cuối cùng Người để lại cho đời sau.

Ngày 27-4-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bỏ phiếu bầu cử hội đồng nhân dân khu phố Ba Đình, Hà Nội. Người gặp đại biểu các đơn vị anh hùng, các đơn vị quyết thắng và chiến sĩ thi đua Khu IV; tiếp các anh hùng và dũng sĩ miền Nam. Những ngày tháng 5 lịch sử, Người gặp gỡ các cán bộ cao cấp toàn quân.

Ngày 22-5-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn về tình hình và nhiệm vụ mới.

Ngày 19-5-1969, Người gửi thư cho các cháu thiếu niên hợp tác xã Măng non thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc, khen ngợi thành tích chăm sóc trâu bò, giúp đỡ thiết thực hợp tác xã. Nhân ngày Quốc tế thiếu nhi, tại Phủ Chủ tịch, Người gặp gỡ các cháu thiếu nhi và xem các cháu học sinh lớp 1 Nhạc viện Hà Nội biểu diễn nghệ thuật. Bài viết Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, đăng báo Nhân dân, ngày 1-6-1969, nhắc nhở trách nhiệm của toàn xã hội trong việc chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng, những thế hệ tương lai của nước nhà là bài báo cuối cùng Bác viết cho thiếu nhi trước lúc đi xa. Ngày 12-6-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng Phái đoàn đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hà Nội nhân dịp thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam.

Giữa lúc nhân dân ta ở cả hai miền Nam – Bắc đang giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội thì Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu lâm bệnh. Tháng 8-1969, sức khoẻ của Bác đã giảm sút nhiều. Chiều ngày 12-8, sau khi đến thăm Phái đoàn ta từ Hội nghị Pari về, trên đường về Người bị cảm lạnh. Từ ngày 18-8, theo đề nghị của bác sĩ, Người không làm việc ở nhà sàn nữa mà chuyển xuống căn nhà nhỏ, xây năm 1967, phía sau nhà sàn. Hằng ngày Người vẫn theo dõi tin tức và báo chí đều đặn. Trưa ngày 25-8, Người nghe diễn ca về Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp qua Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Cùng ngày, Người tiếp vợ chồng Đại tướng Võ Nguyên Giáp tới thăm.

Từ lúc Người lâm bệnh, Trung ương Đảng đã tập trung mọi khả năng và phương tiện để săn sóc sức khoẻ của Người. Một tập thể giáo sư và bác sĩ y khoa giỏi ngày đêm túc trực bên giường bệnh để săn sóc, chạy chữa cho Người. Nhưng do tuổi cao bệnh nặng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời lúc 9h 47 phút, ngày 2-9-1969, tại Hà Nội, thọ 79 tuổi.

Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc mà Người bắt đầu viết ngày 10-5-1965, khi còn rất minh mẫn. Vào dịp sinh nhật các năm 1966, 1967, 1968 và 1969, Người đều dành thời gian để xem lại, sửa chữa và bổ sung vào bản Di chúc.

Năm 1966, Người bổ sung thêm một câu vào phần nói về Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Năm 1967, Người xem lại, nhưng không bổ sung gì. Năm 1968, Người bổ sung thêm 6 trang viết tay, gồm một số đoạn nói Về việc riêng, về một số công việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi.

Ngày 10-5-1969, Người xem và viết lại toàn bộ phần mở đầu Di chúc, gồm một trang viết tay. Bản Di chúc thiêng liêng được hoàn tất và đi vào lịch sử từ đây.

Di chúc của Bác là những lời căn dặn tâm huyết cuối cùng đối với Đảng ta và nhân dân ta. Mở đầu bản Di chúc Bác viết:

“Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn”.

Sau đó là những lời căn dặn của Người đối với Đảng:

“Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân“.

Với đoàn viên và thanh niên:

“Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

Về phong trào cộng sản thế giới, Người mong rằng:

“Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.

Di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân hiếm có đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc và nhân loại.

Di chúc còn phản ánh một tâm hồn, đạo đức cao cả và tình thương yêu bao la của Người đối với nhân dân ta và bạn bè quốc tế, của một con người mà:

“Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Và điều mong muốn cuối cùng của Người là:

“Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và gópphần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” (72).

Ngày 9-9-1969, tại Hà Nội, Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh đã diễn ra rất trọng thể. Đồng chí Lê Duẩn thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọcĐiếu văn. Điếu văn đã khái quát toàn bộ sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh hơn 60 năm, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới.

Dù đã đi xa, nhưng tư tưởng, đường lối chỉ đạo của Người cùng với tình thương yêu bao la, sự quan tâm của Người đã luôn luôn là nguồn ánh sáng dẫn đường, cổ vũ, động viên nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đúng như Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã khẳng định:

“Hồ Chủ tịch đã qua đời! Nhưng Người để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu. Đó là thời đại Hồ Chí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập, tự do của Tổ quốc, kỷ nguyên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Toàn thể dân tộc Việt Nam ta mãi mãi ghi lòng tạc dạ công ơn trời biển của Người… Hồ Chủ tịch qua đời! Nhưng Người luôn dẫn dắt chúng ta. Chúng ta vẫn cảm thấy có Người luôn luôn bên cạnh. Bởi vì chúng ta vẫn đi theo con đường của Người. Bởi vì Người vẫn sống mãi với non sông đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu trong trái tim, khối óc của mỗi chúng ta”.

1,2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 427, 429.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 71.

4,5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 461, 572.

6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 235.

7. Hồ Chí Minh tiểu sử, Nxb. Lý luận chính trị, 2006, tr. 481.

8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 153.

9,10. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 337 – 338.

11,12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 137-138.

13,14. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 326, 325.

15. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 476.

16,17. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 118, 163.

18. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 64.

19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 588.

20. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 31.

21. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 577.

22,23. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 496, 598.

24. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr 2, 5.

25,26,27. Hồ Chí Minh: Toàn tập,Sđd, t. 9, tr. 283, 285, 293.

28. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 157.

29. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 375.

30,32. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 494.

31. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr. 21.

33. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 585.

34. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 597.

35. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 322.

36. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 66.

37,38. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 197, 198.

39. Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 20, tr. 81.

40. Văn kiện Đảng toàn tập,Sđd, t. 20, tr. 82.

41. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 356..

42. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 544 – 545.

43. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 610.

44.  Chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 31-1-1961.

45. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 200.

46. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 62.

47,48. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 227.

49. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 305.

50,51,52,53. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 433, 434, 435, 431.

54. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 433.

55. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 193.

56. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 562.

57,58. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 269.

59,60. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 292.

61,62. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 332.

63. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 372.

64. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 92.

65. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 558.

66. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, tr. 5.

67. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 344.

68. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 312-313.

69. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 426.

70,71,72. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr. 509 – 512.

(Theo sách Hồ Chí Minh tiểu sử”; tác giả: Bảo tàng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội, 2008. Bản đánh máy theo Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam dangcongsan.vn).

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: