Rèn luyện đạo đức cách mạng theo quan điểm của Hồ Chí Minh

GS.TS MẠCH QUANG THẮNG

Bàn về cái gốc để phát triển, hay triết lý phát triển trong hành động của Hồ Chí Minh, có ba vấn đề đáng chú ý nhất trong việc rèn luyện đạo đức.

1. Quá trình rèn luyện đạo đức phải được diễn ra suốt cả cuộc đời con người

Đạo đức tốt của một con người không phải cứ tự nhiên mà có, nói như Hồ Chí Minh là nó không phải từ trên trời rơi xuống, mà do tu dưỡng bền bỉ hằng ngày để phát triển, củng cố, như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Ở trong tù, ngày rộng tháng dài, “một ngày tù bằng nghìn thu ở ngoài”, mất tự do, chịu nhiều khổ ải, Hồ Chí Minh làm thơ (Ngục trung nhật ký), trong đó có một bài vận vào cái chí khí của Người trong việc tự rèn luyện:

Văn trung mễ thanh

Mễ bị thung thi, hẩn thống khổ,

Chí thung khi hậu, bạch như miên;

Nhân sinh tại thế dã giá dạng,

Khốn nạn  thị nhĩ ngọc thành thiên.

Văn Ngọc – Văn Phụng dịch là:

Nghe tiếng giã gạo

Gạo đem vào giã bao đau đớn,

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông;

Sống ở trên đời người cũng vậy,

Gian nan rèn luyện mới thành công.

Cuộc sống của con người không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Cả một cuộc đời lãnh tụ như Hồ Chí Minh trước làm sao sau y như vậy. Trong những sự biến chính trị ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu những năm 80 và 90 của thế kỷ trước, thì ra, có nhiều điều buộc chúng ta phải nghĩ suy về đạo đức của con người khi người ta ở vào vị trí quyền lực cao chót vót. Khi đã có chức, có quyền mà ở vị trí thật cao, thật trọng, lại được một “cơ chế” bao che, nâng đỡ, thì nếu không “giữ mình” thì sẽ hư hỏng lúc nào không biết. Bảo rằng, luật pháp chưa đầy đủ, không đúng. Bảo rằng, những quy định về kỷ luật chưa nghiêm, chưa chặt chẽ, không đúng. Nhưng, những cái đó là cần mà chưa đủ. Cái thêm vào tổ hợp đó và là quan trọng không kém, và mới đủ, là tự giác, tự rèn luyện. Người đứng vị trí cao của quyền lực, nếu không như vậy, sẽ có lúc tự mình đứng trên luật pháp, tự mình tách khỏi cộng đồng, không trở thành đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Hành động của không ít người hư hỏng về mặt đạo đức không những có hại cho địa bàn nơi họ sống, không những làm hỏng tập thể nơi họ công tác mà còn, và quan trọng hơn cả, là nó làm thui chột và đổ vỡ cả chế độ chính trị.

Hồ Chí Minh là một người trọn đời vì nước, vì dân, trọn đời có đạo đức trong sáng. Người ta hay hư hỏng ở cái đoạn cuối đời. Còn đối với Hồ Chí Minh? Cuộc đời của Người là trọn vẹn của cái chân, cái thiện, cái mỹ, không bị tha hoá, từ buổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, từ lúc hàn vi với thân phận của một người dân nô lệ, luôn luôn bị mật thám đế quốc theo dõi, bị tù, bị xử án tử hình vắng mặt đến lúc đứng ở đỉnh tháp của quyền lực mà không bị quyền lực làm cho mờ mắt. Mọi sự cám dỗ thường thấy của một con người đều tác động đến bản thân Hồ Chí Minh như quyền lực, của cải…nhưng Hồ Chí Minh không hề bị suy xuyển.

Tỉnh dậy giữa hai cơn đau tim trên giường bệnh những ngày cuối tháng 8 năm 1969, Hồ Chí Minh hỏi về mực nước sông Hồng đến đâu rồi? Chả là cuối tháng 8 năm 1969, mực nước sông Hồng lên cao, đã có kế hoạch chuyển Hồ Chí Minh đến  huyện Ba Vì của tỉnh Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây), nơi có địa hình cao hơn để đề phòng lúc Hà Nội có thể lâm vào cảnh vỡ đê, lụt lội. Hồ Chí Minh kiên quyết không chịu dời đi nơi khác mà vẫn ở Nhà 67. Hồ Chí Minh nói với những người xung quanh rằng, mình ở lại với nhân dân thủ đô Hà Nội, không đi đâu cả, không thể bỏ nhân dân lúc có nguy cơ bị cảnh vỡ đê, chịu lụt. Những ngày cuối đời của năm 1969 mưa ngập đất đầy tiếng kêu của ễnh ương mùa lụt của đất trời Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ, Hồ Chí Minh đã nói như thế, hành động như thế là do Người thực hành cái đạo gắn bó tính mệnh của mình với tính mệnh của nhân dân. Người đã từng nói: “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc như lạc”; hoặc “tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc” (nghĩa là khổ trước thiên hạ và sướng sau thiên hạ). Và, đã nói như thế thì Người thực hành đúng như thế.

Tỉnh dậy giữa hai cơn đau tim khác, có lúc Hồ Chí Minh muốn nghe một làn điệu dân ca xứ Nghệ quê nhà, muốn nghe một khúc dân ca xứ Huế, nơi Người từng gắn bó tuổi học trò xuống đường đi tranh đấu cùng bà con chống thuế, nơi kinh đô thơ mộng ấy Người có kỷ niệm buồn, một cú sốc lớn khi mẹ qua đời lúc mình mới lên 10 tuổi. Có lúc Hồ Chí Minh hỏi những người có mặt bên giường bệnh về việc chuẩn bị khai giảng năm học mới cho các cháu học sinh đến đâu rồi? Cũng như thế, ngày 30-8-1969, có lần tỉnh lại, Hồ Chí Minh hỏi các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước có mặt trong phòng về việc chuẩn bị kỷ niệm Ngày lễ Quốc khánh 2-9. Người đề đạt nguyện vọng bắn pháo hoa “cho nhân dân vui, để động viên tinh thần nhân dân” trong ngày lễ Quốc khánh 2-9-1969, và nếu được thì bố trí cho Người ra với đồng bào dăm mươi phút. Ngày đó, ngày 2-9-1969, lúc 9 giờ 47 phút, trái tim Hồ Chí Minh ngừng đập và Người thanh thản đi vào cõi vĩnh hằng. Hà Nội không thể nào bắn pháo hoa “cho dân vui” được theo như mong muốn của Hồ Chí Minh bởi đó chính là ngày tang.

Hồ Chí Minh hành đạo, cái đạo “làm người” cho đến trọn vẹn cuộc đời. Mà không chỉ thế, trong Tài liệu tuyệt đối bí mật (Di chúc), Người còn cố “can thiệp” để cho hậu thế xử lý những điều, những việc thuộc về “việc riêng” của mình. Hồ Chí Minh nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” khi trả lời nữ phóng viên báo Granma (Cuba) Mácta Rôhát ngày 14-7-1969. Hồ Chí Minh  nói: “Những lúc tôi phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”. Hồ Chí Minh nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi cần”. Hồ Chí Minh nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Hồ Chí Minh viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết, phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Còn nhiều, còn nhiều lời nói, câu viết của Hồ Chí Minh về vấn đề đó. Hồ Chí Minh đã nói, đã viết, và tự bản thân mình “xắn tay áo” lên thực hành, kêu gọi, tổ chức những người xung quanh thực hành.

Sự rèn luyện đạo đức là tùy thuộc vào cái tâm, vào tinh thần tự giác của con người. Mà tinh thần tự giác đó đòi hỏi phải được thực hành liên tục. Nó là năng lượng của cuộc sống, thậm chí năng lượng đó có thể chuyển hoá sang người khác để bảo tồn và phát huy.

2. Nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức

Đã có ng­ười cho rằng, học tập đạo đức Hồ Chí Minh khó quá. Học không phải là bắt ch­ước. Tư­ t­ưởng Hồ Chí Minh không những là nền tảng tư tưởng mà còn là kim chỉ nam cho hành động nữa. Học đạo đức Hồ Chí Minh là tìm hiểu bản chất của vấn đề để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cuộc sống. Chẳng hạn: học Hồ Chí Minh không có nghĩa là tất cả mọi ng­­ười phải đi dép lốp mà học đức tính giản dị của Người.

Ng­­ười dân có cảm tình với Đảng, với chế độ XHCN trước hết là qua gương sáng của cán bộ, đảng viên, những gư­ơng đó có sức mạnh cảm hoá, đư­a đến cho ngư­­ời ta niềm tin. Trong lúc kêu gọi những ngư­­ời có ăn cứ 10 ngày nhịn một bữa, mỗi bữa một bơ để cứu giúp những ngư­­ời đang bị đói ngay sau Cách mạng Tháng Tám, thì Hồ Chí Minh đã làm g­ương. Kêu gọi mọi ng­ười ra sức chống hạn để cứu lúa, kể cả huy động mọi ng­ười ở nông thôn bất kể ngày đêm tát n­ước, thì Hồ Chí Minh đi tát nước, đi cấy lúa với máy cấy thí nghiệm, v.v. Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi một ngư­­ời dân khoẻ mạnh thì cả dân tộc khoẻ mạnh và một trong những biện pháp để đạt đư­­ợc yêu cầu đó là mọi ng­ười phải thường xuyên tập thể dục, do đó Người kêu gọi mọi ng­ười hằng ngày hăng hái tập thể dục. Người nói: “Tự tôi ngày nào cũng tập”. Nói chuyện với cán bộ ở một tr­­ường huấn luyện (11-1945), Hồ Chí Minh nói: “Phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái. Tôi lấy thí dụ như­­ trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo ng­ười ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được?…Miệng nói tay phải làm mới được”[1].

Trông vào việc làm của Hồ Chí Minh, chúng ta thấy phản chiếu lai láng như hồn anh minh của một số vị vua sáng láng triều Lý thế kỷ XI, XII như vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông…năm nào cũng vậy, cứ đầu mùa thì đi cày ruộng tịch điền, khi đến vụ thu hoạch thì đi thăm người dân gặt lúa để khuyến nông. Hồ Chí Minh có lẽ cũng tựa như vua Trần Nhân Tông thời nhà Trần, năm 1313, khi nước sông Cái (sông Hồng) lên to có nguy cơ vỡ đê, lụt lội, thì đã thân hành đi hộ đê, ông gạt bỏ lời can của một quan ngự sử “Bệ hạ nên chăm lo sửa sang đức chính, đắp đê là việc nhỏ, đi xem làm gì”, mà cho rằng bản thân mình làm vua mà thân chinh đi hộ đê lúc dân gặp nạn lụt lội cũng là lo việc sửa sang đức chính vậy.

Hồ Chí Minh là người kỵ giáo điều, là một con người luôn luôn canh tân. Đã có nhiều lần Người đề cập vấn đề giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin. Nói chuyện với cán bộ của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng năm 1968, Người nói: “Các chú dạy cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ nghĩa Mác – Lênin, chắc có nhiều người thuộc, nhưng các chú có làm cho mọi người hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là thế nào không? Theo Bác, hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ. Không nên đào tạo ra những con người thuộc sách làu làu, cụ Mác nói thế này, cụ Lênin nói thế kia, nhưng nhiệm vụ của mình được giao quét nhà lại để cho nhà đầy rác”[2]. Hồ Chí Minh cho rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin thiết thực nhất”[3]. Cũng như vậy, Người nói: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”[4].

Làm g­­ương sáng cho ng­ười khác soi, đó là một phương cách xử thế ở đời của Hồ Chí Minh. Nhiều cái phản văn hoá hay là đạo đức giả thường là có “4 N”: a) Nói thì nhiều nhưng làm thì ít; b) Nói thì hay nh­ưng làm thì dở; c) Nói để đấy rồi không làm gì cả; d) Nói một đằng làm một nẻo.

Hồ Chí Minh cho rằng: ở ph­­ương Đông và ở Việt Nam, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền. Cán bộ, đảng viên, những ngư­ời có chức có quyền, nhất là những cán bộ chủ chốt, nếu nêu một tấm g­ương sáng thì sẽ tạo ra một đời sống văn hoá lành mạnh cho xã hội, còn ngược lại thì hậu quả sẽ khôn lư­­ờng.

Hồ Chí Minh không dùng lối “thị phạm”, tức là làm mẫu để dạy người khác. Hồ Chí Minh không “lên lớp”, không “dạy” ai cả, mặc dù những câu, những bài Người viết, những lời Người nói, những việc Người làm đều toát lên toàn bộ tính sư phạm của Người. Tự lời ăn, tiếng nói, tự cái hành xử hằng ngày của Người chính là thân giáo, là có ngôn, mà những ai có lòng cầu thị có thể soi vào đấy. Hồ Chí Minh soạn bài giảng cho các lớp huấn luyện những người yêu nước Việt Nam những năm 1925-1927 ở Quảng Châu (Trung Quốc), sau này tập hợp in thành sách Đường cách mệnh, đầu tiên Người quan tâm là giáo dục cho học viên về Tư cách của một người cách mệnh gồm có 23 điều. Và, điều 10 trong 23 điều tư cách đó được ghi trong cuốn Đường cách mệnh là: “Nói thì phải làm”.

Hồ Chí Minh cũng như bao con người khác, nghĩa là cũng có những sở thích riêng. Xã hội có bao nhiêu con người thì có bấy nhiêu sở thích. Mỗi người đều có những sở thích riêng hợp lại, thống nhất lại trong một xã hội. Đó là sự thống nhất của cái đa dạng. Mà như thế mới có một xã hội năng động và phát triển. Không biết từ bao giờ, Hồ Chí Minh nghiện thuốc lá. Đến năm 1965, Hồ Chí Minh chấp hành quyết định của bác sĩ là bỏ thuốc lá. Đến tháng 3 năm 1968, Hồ Chí Minh viết một bài thơ bằng chữ Hán:

Vô đề

Tam niên bất ngật tửu xuy yên

Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên

Hỷ kiến nam phương liên đại thắng

Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên

Nhà thơ Khương Hữu Dụng dịch:

Không đề

Thuốc kiêng rượu cữ đã ba năm

Không bệnh là tiên sướng tuyệt trần

Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn

Một năm là cả bốn mùa xuân.

3. Xây dựng môi tr­­ường văn hoá đạo đức trong sạch

Môi trường đạo đức hiện đang bị ô nhiễm ở lĩnh vực này, lĩnh vực nọ. Ô nhiễm đến mức độ nào? Môi trường tự nhiên bị ô nhiễm, người ta có thể dùng máy để đo, cũng có thể cơ thể con người chúng ta cảm nhận được. Nhưng, môi trường đạo đức nếu bị ô nhiễm thì đo thế nào? Có thể thấy:

Một, “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng…”. Đây chính là nhận định của Đại hội X (4-2006) của Đảng. Cơ chế mới đã khơi dậy sự năng động của xã hội trong các lĩnh vực như­­ng cũng phần nào chư­­a kiểm soát được một cách chắc chắn những cái ác, cái xấu. Những tệ nạn xã hội vẫn đang phát triển. Đồng tiền có sức mạnh ma quái đang làm hỏng nhiều cán bộ, đảng viên và làm hỏng các chuẩn mực quan hệ ứng xử của con ngư­­ời.

Cũng tại Đại hội X, phần Báo cáo về công tác xây dựng Đảng, còn viết: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ chủ chốt các cấp, yếu kém cả về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng; một số ít có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng”. Đáng chú ý là lần đầu tiên trong một văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, có ghi: “Vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hoá về chính trị, tư tưởng, về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng”[5]. Quá trình này chưa khắc phục được nhiều, nhất là các kiểu “chạy”, nhưng khắc phục ra sao thì vẫn đang ở phía trước. Đó là sự nhức nhối về môi trường đạo đức “có vấn đề”.

Hai, tệ nghiện hút ma tuý diễn ra nghiêm trọng và có chiều hướng phát triển mạnh trong xã hội Việt Nam. Nghiện hút ma túy đi liền và tạo ra hệ lụy với bao tệ nạn khác. Xã hội sẽ bị băng hoại về tất cả các lĩnh vực của đời sống tinh thần, nhất là đạo đức, lối sống, trong số đó đáng lo ngại là tầng lớp thanh niên, lực lượng chủ công xây dựng một đất nước phát triển. Đây là một chỉ số đo mà đáng báo động về môi trường đạo đức của xã hội Việt Nam hiện đại.

Ba, vấn đề trật tự, an toàn xã hội cũng ở vào tình trạng “có vấn đề”. Làm sao thật yên tâm khi đi ra đường, nhất là chỗ vắng. Và, đặc biệt là tai nạn giao thông. Nhìn ở góc độ văn hoá đạo đức, thì vấn nạn giao thông là một biểu hiện rõ nét của sự suy thoái đạo đức.

Đó là ba điều “thấy” của chúng ta khi đề cập vấn đề này. Có thể còn nhiều biểu hiện khác nữa. Chúng ta không nhìn môi trường đạo đức ở Việt Nam qua lăng kính màu đen. Đương nhiên, những mảng sáng vẫn có nhiều. Nhưng, thực sự chưa yên tâm.

Xây dựng đạo đức trong môi tr­ường như­­ thế khó khăn hơn rất nhiều. Trách nhiệm làm cho môi tr­ường đạo đức trong sạch không phải của riêng ai mà là của tất cả mọi ngư­­ời, của cả hệ thống chính trị, nhưng trước hết và cơ bản nhất là của từng gia đình. Trong xây dựng môi trường đạo đức, theo Hồ Chí Minh, rõ nhất là chú trọng những vấn đề sau đây:

- Sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

- Tôn trọng và phát huy những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục.

- Tạo ra một cách thư­­ờng xuyên tinh thần đề cao cái đẹp, cái tốt; lên án cái xấu, cái ác và khuyến khích mọi ngư­­ời làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện.

- Kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa gia đình, nhà trư­ờng, xã hội trong việc xây dựng môi trư­­ờng đạo đức mới.

- Giải quyết đồng bộ tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, làm cho đất n­ước Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.

Hồ Chí Minh thường chú ý đến việc khơi dậy cái thánh thiện của con người. Hồ Chí Minh hoá giải để chuyển hoá từ cái xấu thành cái tốt của người khác một cách có hiệu quả. Hồ Chí Minh luôn luôn tìm chữ “đồng” trong sự khác biệt (Sự khác biệt thì ai, cộng đồng nào và lúc nào chả có). Người rất chú ý nhân lên cái tốt, cái đẹp mà những cái tốt, cái đẹp đó ở ngay trong mỗi người, trong mỗi cộng đồng dân cư, ở ngay bên cạnh, ở chung quanh chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Cho nên, Người đã có ý kiến biên soạn và xuất bản sách “Người tốt việc tốt”. Người còn có ý kiến đối với loại sách này giá bán rẻ thôi để nhiều người mua, khổ sách vừa thôi để người ta dễ bỏ túi. Đầu tháng 6 năm 1968, trước khi qua đời hơn 1 năm, Hồ Chí Minh làm việc với một số cán bộ của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng về việc biên soạn và xuất bản loại sách này. Người quan niệm: từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được. Nhưng người ta dễ nhìn thấy pho tượng và lâu đài mà không chú ý đến cái nền. Như thế là chỉ thấy cái ngọn mà quên mất cái gốc. Người tốt việc tốt nhiều lắm, ở đâu cũng có. Lấy gương tốt trong quần chúng nhân dân và cán bộ, đảng viên để giáo dục lẫn nhau còn là một phương pháp lấy quần chúng giáo dục quần chúng rất sinh động và có sức thuyết phục rất lớn.

Không hiểu sao bây giờ chúng ta chưa chú ý tiếp tục biên soạn và xuất bản loại sách này. Thấy trong các báo viết về vụ án nhiều quá. Thấy sách in lậu, xuất bản lậu về mê tín dị đoan nhiều quá.

Cuộc sống của mỗi người chính là một yếu tố cấu tạo nên cuộc sống của xã hội. Mà đứng về khía cạnh văn hoá mà nói thì mỗi cá nhân lại là kết quả của một quá trình giáo dục hàng ngày của tất cả các tổ chức trong xã hội. Chúng ta không chờ có một môi trư­­ờng tốt rồi mới xây dựng đạo đức mà đó là cả một quá trình vừa xây, vừa chống, không thụ động. Và chỉ số phát triển của mỗi một dân tộc, phải chăng cần nhìn vào môi trư­­ờng đạo đức nữa, nơi mà ở đó mỗi một con người, mỗi một cộng đồng, mỗi một dân tộc đều có cơ hội, điều kiện để tự do phát triển vư­­ơn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ chứ không chỉ là nhìn vào chỉ số tăng trưởng kinh tế. Xã hội càng phát triển thì tư duy và những quan niệm về các giá trị tinh thần cũng có khi đổi thay. Đó là tất yếu của cuộc sống. Nhưng, có những giá trị bền lâu, chúng như những viên ngọc mà chúng ta phải giữ gìn, luôn mài sáng nó lên. Hồ Chí Minh chính là người đưa ra thông điệp đó, thông điệp khuyến khích mọi người vươn tới những điều thiện, mỹ.


[1] . Hồ Chí Minh : Toàn tp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, T.4, tr. 101 – 102.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tp, T. 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 554.

[3] Như trên.

[4] Như trên, tr. 558.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kin Đại hi đại biu toàn quc ln th X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 263-264.

About these ads

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: